Việc xem xét lịch sử Trung Quốc, bên nào tranh cãi kịch liệt nhất mà hiểu lầm cũng sâu sắc nhất, chính là nhận thức về văn minh nguyên thủy Trung Quốc.
Bất kỳ một dân tộc nào, cũng đều có thời kỳ sinh thành văn minh nguyên thủy của riêng mình. Văn minh nguyên thủy, chính là gốc rễ tinh thần của một dân tộc. Một quốc gia, một dân tộc, trong lịch sử từ những dòng suối nhỏ hội tụ thành sông dài cuồn cuộn, ắt phải có một thời kỳ then chốt của sự trầm lắng, ngưng tụ, thăng hoa và trưởng thành. Văn minh và truyền thống được hình thành trong thời đại này, giống như mã di truyền sự sống của một con người, sẽ mãi mãi bằng đủ mọi cách ảnh hưởng hoặc quyết định quỹ đạo sinh mệnh của một người. Truyền thống dân tộc giống như mã di truyền sự sống này, chính là văn minh nguyên thủy của một dân tộc. Sự phản tư sâu sắc của các dân tộc đối với văn minh nguyên thủy của họ, từ trước đến nay vẫn luôn là kho báu tài nguyên tinh thần để các dân tộc phát huy tính sáng tạo trong mọi thời đại.
Văn minh nguyên thủy là gốc rễ vững chắc của tinh thần dân tộc, là gen vĩnh cửu của văn minh đỉnh cao.
Thời kỳ thành tựu văn minh nguyên thủy của Trung Quốc, chính là thời đại Xuân Thu, Chiến Quốc và Đế quốc Tần.
Xuân Thu sinh phát! Chiến Quốc nở rộ! Đế quốc Tần thì lấy thành quả văn minh được tôi luyện chung bởi hơn năm trăm năm tranh chấp sục sôi của các tộc quần Hoa Hạ làm gốc rễ, tiến hành chắt lọc và tổng kết có hệ thống đối với các hình thái văn minh xã hội của thời đại này, tạo dựng một cách quy mô hình thái văn minh mới phù hợp với dân tộc chúng ta và đi đầu trong thời đại đồ sắt. Từ đó trở đi, tộc quần phân tán rộng lớn với mười dặm khác tục, cách núi khác âm này của chúng ta, bắt đầu có chữ viết thống nhất, có phương thức sản xuất thống nhất, có đủ loại phương thức sinh sống mang tính điểm chung lớn nhất, có hình thức quốc gia thống nhất ổn định. Sự dung hợp thống nhất của các hình thái văn minh cụ thể đã hình thành phương thức sinh tồn tổng thể của dân tộc chúng ta, hình thành nền văn minh tổng thể của dân tộc chúng ta, hình thành truyền thống lịch sử độc nhất vô nhị của dân tộc chúng ta. Nói một cách tổng thể, thời đại văn minh nguyên thủy của Trung Quốc là thời đại bùng nổ trí tuệ văn minh của dân tộc chúng ta, tinh thần thời đại của nó kiên cường cương nghị, trạng thái sinh mệnh của nó cảnh giác phấn phát, trí tuệ sáng tạo của nó rộng lớn thâm sâu, thành tựu văn minh của nó chấn động cổ kim. Chỉ vì như thế, thời đại văn minh nguyên thủy chính là mảnh đất thánh văn minh của dân tộc chúng ta. Chúng ta có đầy đủ lý do nhất, để duy trì sự kính trọng cao nhất đối với thời đại đó. Đây vừa là năng lực nhận thức văn minh của một dân tộc vĩ đại, cũng là lương tâm văn minh của một dân tộc vĩ đại.
Thế nhưng, do đủ loại nguyên nhân lịch sử mà chúng ta đã nói hoặc chưa nói tới, ý thức lịch sử của chúng ta đã nảy sinh những hiểu lầm phổ biến và sâu sắc đối với thời đại văn minh nguyên thủy của chúng ta. Chúng ta không cần phải trách người trách đất, đó là sự thất vọng đối với dân tộc vĩ đại này của chúng ta. Chúng ta không cần phải kết thúc lịch sử bằng phương thức đơn giản là phê phán thanh toán, đó là sự báng bổ đối với trí tuệ lịch sử của dân tộc vĩ đại này của chúng ta. Sự việc đã đến nước này, bất kỳ sự cố chấp nào, bất kỳ sự hẹp hòi nào, bất kỳ sự tự ti nào, bất kỳ sự cuồng nộ nào, đều không giúp ích gì cho bước chân văn minh của chúng ta. Chúng ta nên khách quan, nên bình tĩnh, nên kiên nhẫn, nên tỉ mỉ, nên có dung lượng lồng ngực, nên có năng lực, nếu không làm thế, thì không thể nhìn thấu lịch sử văn minh của chúng ta, không thể tìm ra nơi tồn tại cốt lõi.
Một trong những điểm cơ bản khi xem xét văn minh nguyên thủy Trung Quốc, chính là nhận thức tổng thể về thời đại Xuân Thu, Chiến Quốc và Đế quốc Tần.
Phủ định một thời đại từ tổng thể, thì không thể đưa ra đánh giá mang tính khẳng định đối với sự sáng tạo văn minh của thời đại này.
Hơn hai ngàn năm nay, đối với việc đánh giá tổng thể thời đại văn minh nguyên thủy Trung Quốc, vẫn luôn tồn tại tranh cãi vô cùng lớn. Ý thức lịch sử dần trở thành chủ đó cho rằng: đó là một thời đại bạo lực tôn sùng thủ đoạn xảo trá và âm mưu, là thời đại vương giáo bại hoại đạo đức tụt dốc, là thời đại mà chỉ có tranh giành lợi ích trần trụi còn nhân nghĩa đạo đức hoàn toàn tăm tối không còn. Chỉ vì như thế, các vị quân vương thời đại đó là thủ phạm gây ra sự xa hoa dâm loạn, kẻ sĩ là bọn theo đuổi công danh lợi lộc mà không chút tiết tháo, còn quần chúng thì thế phong ti tiện cõi lòng đầy dục vọng tranh đoạt không ngừng, giao thiệp nhân tế tràn ngập sự bội tín bỏ nghĩa, miếu đường quan trường tràn ngập sự tranh giành mưu mô quyền lực, chiến tranh bang quốc bao trùm sự tàn sát đẫm máu. Nói một cách gọn gàng, đó là một thời đại khủng bố, một thời đại không thể chịu đựng nổi. Lật mở sách sử, những đánh giá loại này nhiều không đếm xuể, lời lẽ căm hận của nó, sự tô vẽ nồng đậm của nó, khiến cho người ta kinh hồn bạt vía.
Một loại ý thức lịch sử khác từ trước đến nay không chiếm vị trí chủ lưu, thì lại ôm giữ quan niệm ngược lại: đó là một thời đại "cầu biến mưu sinh", là thời đại phong phú "biến đổi lớn" nhất trong lịch sử năm ngàn năm, là một thời đại mộc mạc cao quý, là một thời đại sáng tạo ra chính sách mới chế độ mới, là một thời đại thánh hiền xuất hiện lớp lớp kinh điển lập nên rừng rực, là một thời đại mà tầng lớp "kẻ sĩ" sở hữu nhân cách độc lập và tự do nhất. Cho nên, bắt đầu từ thời Tam Quốc, liền có thuyết sùng bái Tiên Tần Hán trở xuống "sách không đọc đời Tần Hán", tuy xa mới gọi là chủ lưu, thế nhưng lại trở thành một gốc rễ tinh thần trân quý văn minh nguyên thủy của tộc ta.
Đối lập với hai loại đánh giá lịch sử của người đời sau, "người đương thời" ở vào thời đại đó, lại có đánh giá tỉnh táo đặc biệt đối với thời đại của mình. "Kinh Thi" đại diện cho tiếng lòng phổ biến của xã hội, miêu tả lớn về thời đại này đa số có những câu như thế này: Lễ băng nhạc hoại, vạc đất nung kêu sấm sét; bờ cao thành thung lũng, thung lũng sâu thành gò đống; chớp sáng sấm rền, không yên không lành; gò núi chợt sụp, trăm sông cuồn cuộn sôi. Vân vân mùng mịt, kể không xiết kể. Mà đánh giá của các danh sĩ học giả, mang tính đại diện nhất có hai câu, một câu là miêu tả của Án Tử đối với tinh thần xã hội thời kỳ Xuân Thu: "Phàm có huyết khí, đều có lòng tranh giành." Một câu là khái quát đại khái của Hàn Phi Tử đối với phong mạo Chiến Quốc: "Thời đại tranh chấp lớn, thời gian nhiều sự việc." Trong chư tử bách gia trăm nhà đua tiếng mà bồng bột cùng sinh tồn, người có đánh giá phủ định tổng thể đối với thời đại mình đang sống, không thể nói là không có, thực tế là cực kỳ ít. Người điển hình nhất, đại khái chỉ có thể nói là Khổng Tử và Nho gia do ông sáng lập, ôm giữ cái nhìn cực kỳ bi quan đối với "lễ băng nhạc hoại" khi đó.
Nói một cách tổng thể, ý thức xã hội khi đó đã có nhận thức tỉnh táo đối với thời đại của mình: thời đại này một bên là tụt dốc, một bên là quật khởi, có sự u ám hủ bại lỡ thời, càng có ánh sáng tiến thủ đổi mới, trào lưu chủ đạo của nó không nghi ngờ gì chính là tinh thần đại sáng tạo với sấm sét rói rọi. Khách quan mà nói, bất kỳ thời đại nào, cũng đều có những tệ nạn cụ thể đủ để cấu thành vấn đề mang tính phổ biến. Thời đại văn minh nguyên thủy, cũng đồng dạng có đủ loại tệ nạn xã hội. Có khoảng cách giàu nghèo vô cùng lớn, có thảm họa xã hội sâu sắc, có sự đói khát của quần chúng, có sự hủ bại của quan lại, có vô số âm mưu khó đếm xuể, có chiến tranh liên miên không dứt vân vân. Đưa ra tất cả vấn đề cơ bản xã hội, trong thời đại đó đều có. Nếu như chỉ chú trọng vào sự u ám và khổ nạn cụ thể, từ đó mà vì có sự u ám như thế này mà phủ định văn minh do một thời đại sáng tạo ra, nên nói rằng, đây không phải là tầm nhìn đánh giá của lịch sử văn minh. Như một ý thức lịch sử mà một sự soi xét văn minh nên có, phương diện cơ bản mà chúng ta nên nhìn thấy là: phương thức sinh tồn tổng thể, trạng thái sinh mệnh tổng thể của thời đại này và tính sáng tạo độc nhất vô nhị của nó, phương thức cơ bản giải quyết đủ loại mâu thuẫn xã hội của thời đại này có tính tiến bộ hay không, thành quả văn minh do nó sáng tạo ra có chịu được sự kiểm nghiệm của lịch sử hay không, có đủ để cấu thành gốc rễ tinh thần của một dân tộc hay không. Bỏ điều này mà cứ đăm đăm đi tìm kiếm la liệt đủ loại u ám cụ thể, hoàn toàn có khả năng dẫn đến chủ nghĩa hư vô lịch sử, mà phủ định một cách bi thảm ý nghĩa tồn tại khai quật sáng tạo của toàn bộ lịch sử nhân loại. Dù thế nào đi nữa, đây là hướng đi không thể chấp nhận.
Điểm cơ bản thứ hai trong việc xem xét văn minh nguyên thủy Trung Quốc, chính là việc định ranh giới và xác định tính chất của văn minh Tần.
Đây là vấn đề mới phát sinh của giới sử học đương đại: Văn minh Tần là văn minh lạc hậu, hay là văn minh tiên tiến?
Đây là một vấn đề giá trị quan lịch sử điển hình, cũng là một vấn đề cơ bản mới nổi lên của ý thức lịch sử đương đại. Các nhà sử học và học giả có nhiều luận tác cho rằng: Tần thống nhất Trung Quốc, là một ví dụ minh họa của "văn minh lạc hậu chinh phục văn minh tiên tiến". Giá trị quan cơ bản mà nhận thức này bao hàm là: Văn minh Tần là văn minh lạc hậu, còn Sơn Đông lục quốc khi đó là văn minh tiên tiến. Sau khi bước vào thế kỷ hai mươi mốt, đánh giá này vẫn xuất hiện trong giới sử học. Nội hàm của mệnh đề này mang theo vô số sự hỗn loạn, thực sự là một đánh giá có thể gọi là "suy đoán chủ quan". Thế nhưng, vì đánh giá này liên quan đến việc xác định một loạt sự thật cơ bản trong việc xem xét văn minh nguyên thủy, cho nên trên thực tế đã trở thành vấn đề cơ bản nhất. Thực chất của vấn đề này, chính là việc nhận định tổng thể đối với tính chất lịch sử của văn minh Tần, ba phương diện cơ bản mà nó tất yếu liên quan đến gồm có:
Thứ nhất, thế nào gọi là văn minh Tần? Văn minh Tần đã gây ra tranh cãi không dứt suốt hơn hai ngàn năm, rốt cuộc là chỉ văn minh Tần thời kỳ đầu trước khi Thương Ưỡng biến pháp, hay là chỉ văn minh Tần mới sau khi Thương Ưỡng biến pháp? Nếu chỉ người trước, lạc hậu là không còn nghi ngờ. Nhưng trên thực tế, văn minh Tần thời kỳ đầu lại tuyệt đối không phải là văn minh Tần mà người đời sau tranh cãi, đại khái cũng không phải là văn minh Tần mà những người giữ lý niệm này gọi. Nếu chỉ người sau, thì rõ ràng là trái ngược với sự thật lịch sử — trong các ngôn luận đánh giá qua các triều đại, không có ai lấy văn minh Tần thời kỳ đầu làm đối tượng phủ định, mà chỉ rõ ràng phủ định văn minh Tần thời Chiến Quốc và văn minh Tần thời Đế quốc. Đồng thời, cũng trái ngược với nhận thức chung phổ biến của thời đại văn minh đỉnh cao — văn minh Tần trong nhận thức lịch sử đương đại, không có ai hiểu là văn minh Tần thời kỳ đầu. Sự hỗn loạn ở đây là: người nói không phân biệt văn minh Tần trước khi Thương Ưỡng biến pháp và văn minh Tần sau khi Thương Ưỡng biến pháp, đánh đồng lấy gốc rễ từ vùng đất phát nguyên của tộc quần người Tần, xem văn minh Tần thời kỳ đầu là văn minh Tần thời Chiến Quốc và văn minh Tần thời Đế quốc, lại đồng thời xác định là văn minh lạc hậu.
Nhận thức cơ bản mà chúng ta cần nhấn mạnh là: Phàm là những luận tác lịch sử hoặc sựnhận định dân gian liên quan đến việc đánh giá văn minh Tần, "văn minh Tần" mà mọi người nói đến, nhất định là văn minh Tần thời Chiến Quốc sau khi biến pháp và văn minh Tần thời Đế quốc sau khi thống nhất Hoa Hạ, chứ không phải là văn minh Tần thời kỳ đầu. Nếu đem văn minh Tần của hai thời kỳ này đều xem là "văn minh lạc hậu", mà đem văn minh Sơn Đông lục quốc của hai thời kỳ này xem là "văn minh tiên tiến", thì đó chính là rành rành rời khỏi giá trị quan lịch sử cơ bản của thời đại văn minh đỉnh cao, không phải là vấn đề cần làm sáng tỏ ở đây nữa.
Thứ hai, nguồn gốc tộc quần người Tần. Vấn đề này sở dĩ cơ bản, nằm ở chỗ nó là gốc rễ của luận điệu Tần là "văn minh lạc hậu". Rốt cuộc người Tần có nguồn gốc từ Hoa Hạ phương Đông, hay vốn dĩ là Nhục Địch phương Tây? Trong giới sử học dân tộc Trung Quốc đương đại có tranh cãi, trong giới sử học đương đại cũng có tranh cãi. Thế nhưng, trong lịch sử Trung Quốc trước đó lại hoàn toàn khác biệt: Trước thời Tùy Đường cơ bản không có tranh cãi, thời kỳ Tùy Đường mới bắt đầu xuất hiện thuyết "người Tần khởi từ Tây Nhung". Nói từ bản thân vấn đề, "Sử Ký" ghi chép rất rõ ràng nguồn gốc và sự di cư của tộc quần người Tần, xác định rõ ràng: Người Tần là một trong những bộ tộc trị thủy chủ yếu thời đại Đại Vũ, thủ lĩnh thủy tổ là Đại Nghiệp, Đại Phí (một thuyết là Bác Ích); trận Minh Điều nhà Thương diệt nhà Hạ, thương nhân và người Tần kết minh, người Tần vẫn là một trong những chủ lực tham chiến; thời kỳ trung hậu kỳ Ân Thương, bộ tộc Tần trở thành bộ tộc quân lữ trấn thủ biên cương phía tây, Phi Liêm, Ác Lai là thủ lĩnh của họ; đời Tây Chu, người Tần không muốn thần phục nhà Chu, lưu lạc ở khu vực Nhục Địch phía tây, sau đó dần dần quy thuận thần phục nhà Chu; loạn Cảo Kinh cuối thời Tây Chu, Chu Bình Vương khẩn thỉnh người Tần cần vương cứu Chu, người Tần mới bắt đầu trở thành chư hầu khai quốc thời Đông Chu. Phân tích tư liệu lịch sử một cách nghiêm túc, dấu chân lịch sử của tộc quần người Tần không hề hỗn loạn, ghi chép của Tư Mã Thiên rất rõ ràng, thậm chí ngay cả sự diễn biến chi nhánh của tộc Tần cũng đại khái được liệt kê ra từng cái một.
Thời kỳ Xuân Thu, nước Tần vẫn chưa hùng mạnh, cho nên dùng từ "man di" để bài xích nước Tần không phải là không có, nhưng thực sự là cực kỳ ít. Cho dù có, thì cũng không phải là ý chỉ rõ nguồn gốc, mà chỉ đơn thuần biểu thị một sự khinh miệt. Thời kỳ Chiến Quốc, nước Tần sau khi biến pháp đã hùng mạnh, kẻ dùng từ "man di" để bài xích người Tần do đó bỗng nhiên tăng nhiều. Nhưng xét về thực chất của nó, giống như "thuyết hổ lang", đều là những lời mắng chửi để trút giận, chứ không phải là sự chỉ định xác thực nghiêm túc. Trong lịch sử Trung Quốc, hiện tượng công kích lẫn nhau sinh ra dựa trên sự thù hận tộc quần bang quốc loại này rất nhiều. Sớm nhất, thì có việc tộc Chu mắng tộc Thương là "Nhung Ân", "sâu mọt Nhung"; người các triều đại Nam Bắc triều sau đó, lại mắng lẫn nhau là "bắc lỗ", "đảo di"; thời Xuân Thu Chiến Quốc, chư hầu Trung Nguyên thì mắng Sở là "Kinh Man", Tần là "Nhung Địch" v.v. Nếu lấy những lời lẽ này làm căn cứ đánh giá nguồn gốc tộc quần, thì há chẳng phải là quá thiên lệch hay sao! Chỉ vì thế, thời Tây Hán lập sử cho nhà Tần, lịch sử nguồn gốc và sự di cư của người Tần, hoàn toàn không phải là điểm nghi vấn. Nguyên tắc làm sử của Tư Mã Thiên là "tin thì giữ tin, nghi thì giữ nghi". Đối với một tộc quần đời trước mang thái độ đánh giá phủ định thời Tây Hán, nếu có sự thật "không phải tộc ta" trọng đại như vậy, há có thể không ghi chép đúng sự thật? Tạm không nói đến sự thật, cho dù là điểm nghi vấn, Tư Mã Thiên cũng nhất định sẽ ghi chép lại những lời nói kiểu như "người ta nói rằng" v.v., để nhằm thu hút sự chú ý của mọi người. Thế nhưng, trong "Sử Ký" lại chưa từng thấy dấu vết kiểu này. Rõ ràng, người Tần có phải là tộc quần Trung Nguyên hay không, cho đến thời Tây Hán vẫn không có tranh cãi lớn. Sau đó cho đến thời nhà Tùy, cũng không có tranh cãi lớn. Tộc quần người Tần bị "xác định" là Nhung Địch phương Tây, hoàn toàn chỉ là khởi nguồn từ thời nhà Đường. Như đoạn trước đã dẫn, trong "Sử Tịch" mới có thuyết "người Tần khởi từ Tây Nhung". Phân tích lịch sử, đây rõ ràng là nhu cầu chính trị của người Đường: lấy nguồn gốc tộc Tần loại suy với Tùy khởi từ Hồ tộc Bắc Chu, ám chỉ sự đoản mệnh của Tùy giống như Tần mà thôi. Đây là thói hư tật xấu lịch sử, hoàn toàn không có lập trường thăm dò công bằng dựa trên sự thật, không nên dùng làm căn cứ.
Tranh cãi về vấn đề nguồn gốc tộc Tần, lại chính là bắt nguồn từ thời đương đại. Nhà sử học Mông Văn Thông vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước đã đưa ra thuyết "Tần là người Nhung Địch", và dùng "Xã hội nước Tần" cùng "Khảo về việc Tần là người Nhung" để luận chứng, suy đoán rằng tộc quần người Tần và Ly Sơn Nhung đều là "Khuyển Nhung". Sau đó, liền xuất hiện thuyết "người Tần đi về hướng Đông", đại diện bởi các tác phẩm như "Nguồn gốc các dân tộc Trung Quốc", "Khảo về việc Tần là dân tộc phương Đông" của Vệ Tụ Hiền, Hoàng Văn Bật, v.v., xác định người Tần là tộc quần Trung Nguyên. Luận thuyết sau, khỏi cần phải bàn. Bàn về thuyết "Tần là người Nhung Địch" của họ Mông, thực chất là suy diễn dựa trên đủ loại ngôn luận lẻ tẻ trong sách sử. Sự suy diễn này, từng bị chuyên gia lịch sử nhà Tần nổi tiếng mới qua đời những năm gần đây là ông Mã Phi Bách phê phán rằng: "Họ Mông lấy đây làm căn cứ, thực sự thuộc về thiên lệch."
Với tư cách là nghiên cứu học thuật, học giả ôm giữ quan điểm nào, vốn dĩ không có gì đáng trách. Điều chúng ta muốn nói là: Nguồn gốc tộc quần người Tần vốn dĩ không phải là vấn đề, vì sao đột nhiên lại trở thành vấn đề? Chỉ là những ngôn luận công kích lấm tấm trong những cuốn sách sử thời thượng cổ đó phát huy tác dụng hay sao? Quả thực như thế, trong "Sử Ký" đối với tộc Sở cũng có thuyết "Kinh Man", "Nam Man", càng có sự công kích "không phải tộc ta, bụng dạ ắt khác", vì sao nguồn gốc người Sở không thành vấn đề, từ trước đến nay chưa từng gây ra tranh cãi quy mô lớn? Khi thuyết "văn minh lạc hậu" kết nối với thuyết "Tần là người Nhung Địch", thứ cố định tiềm ẩn nào đó trong ý thức lịch sử của chúng ta mới được làm rõ: Thuyết "văn minh lạc hậu" lấy thuyết "Tần là người Nhung Địch" làm căn cứ, còn thuyết "Tần là người Nhung Địch" thì tìm kiếm gốc rễ tộc quần cho thuyết "văn minh lạc hậu". Mặc dù, thuyết "Tần là người Nhung Địch" và thuyết "văn minh lạc hậu", đều chưa trở thành nhận thức phổ biến, nhưng có rất nhiều học giả trong thời đại văn minh đỉnh cao vẫn cứ lặp lại và duy trì một định thức hoang đường cổ xưa, đủ thấy việc dân tộc chúng ta xem xét lịch sử văn minh, sẽ gian nan biết bao nhiêu!
Thứ ba, bộ tộc Tần quả thực là bộ tộc Tây Nhung, thì sẽ thế nào? Trong thời đại văn minh đỉnh cao, đem nơi phát nguyên của tộc quần xem làm căn cứ phán định văn minh tiên tiến hay lạc hậu, quả thực là quá sa đà vào định thức cũ của sử học phương Tây rồi. Ý thức lịch sử phương Tây từng lấy việc La Mã chinh phục Hy Lạp làm ví dụ minh họa, sinh ra một loại lý niệm: Văn minh lạc hậu chinh phục văn minh tiên tiến, trong lịch sử xuất hiện rất nhiều. Nói về La Mã và Hy Lạp, tộc quần La Mã lúc đó không nghi ngờ gì là văn minh lạc hậu, La Mã chinh phục Hy Lạp cũng là thôn tính vũ lực thuần túy, thể hiện phương thức điển hình của "văn minh lạc hậu chinh phục văn minh tiên tiến". Thế nhưng, đem lý niệm này kéo dài thành một loại định thức nào đó, cho rằng trạng thái ban đầu của một tộc quần cụ thể chính là căn cứ định tính văn minh vĩnh cửu của nó, rõ ràng là hoang đường. Từ đó mà đem văn minh Tần đồng nhất với văn minh La Mã lạc hậu chinh phục Hy Lạp, cũng đồng dạng là hoang đường.
Giá trị quan lịch sử mà thời đại văn minh đỉnh cao nên có là: Dù người Tần có phải là người Nhung Địch hay không, thì cũng không thể vì thế mà phủ định sự thật lịch sử rằng nước Tần sau khi biến pháp triệt để, đã hình thành hình thái văn minh mới sau hai lần đại sáng tạo văn minh. Tần thời Chiến Quốc đã sáng tạo ra hình thái văn minh mới của nhà nước pháp trị thời chiến, sau khi diệt sáu nước Tần càng sáng tạo ra hình thái văn minh mới của quốc gia đại nhất thống. Sự thật lịch sử này chứng minh: Xét về mặt định tính lịch sử dựa trên nội hàm văn minh, văn minh của một dân tộc tiên tiến hay không, hoàn toàn không có quan hệ tất yếu với nơi phát nguyên tộc quần và trạng thái ban đầu của nó. Trong ý nghĩa đánh giá lịch sử văn minh, nơi phát nguyên tộc quần hoàn toàn có thể bỏ qua không tính đến. Nếu xác định trạng thái ban đầu của tộc quần là lạc hậu, thì văn minh của nó nhất định sẽ mãi mãi lạc hậu, người Tần cho dù có biến pháp toàn diện dời phong đổi tục tự mình cập nhật quốc gia hùng mạnh, thì vẫn cứ là văn minh lạc hậu. Quả thực như thế, há chẳng phải là tạo ra một loại "thuyết huyết thống lịch sử" hoang đường vô luân — sự sinh thành của dân tộc quyết định vĩnh viễn tính chất văn minh của nó!
Đã như thế, sự phát triển của lịch sử nằm ở đâu, sự phấn đấu tiến lên của dân tộc có giá trị gì?
Xuất phát từ tầm nhìn văn minh mà thời đại văn minh đỉnh cao nên có, quan niệm này đã bị rất nhiều nhà nghiên cứu lịch sử Tiên Tần và lịch sử Tần Hán vứt bỏ rồi. Thế nhưng, nó vẫn cứ là một lý niệm lưu hành đường hoàng xuất hiện trong nhiều loại luận tác. Phán định tính chất văn minh cơ bản nhất, vốn dĩ là vấn đề đầu tiên mà thời đại văn minh đỉnh cao xem xét thời đại văn minh nguyên thủy nên có được nhận thức phổ biến nhất. Thực tế hoàn toàn ngược lại, thời đại văn minh đỉnh cao này của chúng ta vẫn tồn tại sự nhận định "Tần là văn minh lạc hậu, Sơn Đông lục quốc là văn minh tiên tiến". Giới sử học còn như vậy, huống chi là nhận thức phổ biến của quần chúng.