Đại Tần Đế Quốc 6: Đế Quốc Phong Yên

Lượt đọc: 160 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết 2
Sự Phân Liệt Ban Đầu Giữa Thực Tiễn Lịch Sử Và Ý Thức Lịch Sử

❊ ❊ ❊

Tây Hán lấy việc bình xét văn minh Tần làm trục tâm, khiến thực tiễn và ý thức lịch sử xuất hiện sự phân liệt ban đầu.

Trải qua mối họa dữ dội của loạn cuối đời Tần và cuộc tranh chấp Hán - Sở, vương triều Tây Hán cuối cùng đã thống nhất Trung Quốc một lần nữa. Vào lúc này, đối mặt thế nào với Đế quốc Tần cùng cội nguồn của nó là thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã trở thành vấn đề thực tế cấp bách nhất trong việc dựng nước lập chính của Tây Hán. Việc giải quyết vấn đề này ra sao phụ thuộc trực tiếp vào ý thức lịch sử của tầng lớp chủ đạo. Cái gọi là ý thức lịch sử, trục tâm của nó là tầm nhìn văn minh của tầng lớp chủ đạo xã hội, cùng với lợi ích xã hội rộng rãi mà tầng lớp ấy có thể đại diện, tuyệt đối không phải do tính khí cá nhân hay mưu mô quyền lực của lãnh tụ quyết định. Tầm nhìn văn minh và độ rộng của lợi ích xã hội có một vấn đề chuẩn mực cụ thể: Đối với khung cảnh văn minh đại nhất thống do Đế quốc Tần khai sáng, nên kế thừa toàn diện hay dựng lại lò bếp khác?

Xét từ ý nghĩa lịch sử trong tiến trình diễn tiến của văn minh Trung Quốc, Tây Hán là một thời đại cực kỳ quan trọng mang ý nghĩa đặc thù. Điểm đặc thù này nằm ở chỗ: Tây Hán nằm ở ngã tư đường đầu tiên sau nền văn minh nguyên sinh của Trung Quốc, có tiềm chất xã hội lớn nhất để phát sinh muôn vàn biến đổi, có nhiều khả năng nhất để định hình lại văn minh Trung Quốc. Tóm lại một câu, vương triều Tây Hán gánh vác đề tài lịch sử trọng đại nhất là "làm sao kế thừa quá khứ, làm sao mở lối tương lai". Chính vì vậy, sự lựa chọn mang tính lịch sử của vương triều Tây Hán tỏ ra đặc biệt quan trọng.

Tầng lớp khai quốc của Tây Hán cơ bản được tạo thành từ những kẻ sĩ áo vải thuộc đủ loại nghề nghiệp xã hội vào cuối đời Tần. Trong lực lượng nòng cốt ấy, ngoại trừ một quý tộc nước Hàn là Trương Lương, văn thần võ tướng của tập đoàn Lưu Bang phần lớn gồm sáu loại người: lại viên, lái buôn, thợ thủ công, địa chủ nhỏ, du sĩ và tội nhân khổ sai. Còn bản thân Lưu Bang lại càng là một viên quan nhỏ (đình trưởng) điển hình cuối thời Tần. Tuy có sự khác biệt về nghề nghiệp và chút ít sai khác về thân phận xã hội, nhưng nhìn về tổng thể, họ đều thuộc tầng lớp bình dân. Tầng lớp rộng lớn này chính là mảnh đất xã hội nuôi dưỡng và tách thoát ra những kẻ sĩ áo vải thời Chiến Quốc; những nhân vật kiệt xuất trong số đó hầu như không ai không mang phẩm chất tiến thủ của tầng lớp này. Xét từ ý nghĩa ý thức xã hội và ý thức lịch sử, tầng lớp sĩ nhân đương thời là tầng lớp xã hội duy nhất có nhận thức tương đối toàn diện, khách quan và tỉnh táo về lịch sử cũng như thời đại mình đang sống. Dựa trên nền tảng xã hội ấy, mọi hành vi chính trị của tập đoàn Lưu Bang ngay từ đầu đã có những nét tương phản khá rõ rệt với tập đoàn Hạng Vũ. Về thái độ cơ bản đối với văn minh Tần, giữa tập đoàn Lưu Bang và tập đoàn Hạng Vũ lại càng có sự khác biệt trọng đại. Tập đoàn Hạng Vũ với tư cách là kẻ mất đi quyền lợi sẵn có nên căm thù văn minh Tần đến tận xương tủy, vừa triệt để phá hủy về mặt vật chất, lại vừa triệt để phủ định về mặt tinh thần, sau khi diệt Tần liền phục hồi hoàn toàn chế độ chư hầu. Tập đoàn Lưu Bang tuy chống Tần, nhưng từ đầu chí cuối vẫn luôn có một sự ngưỡng mộ chân thực đối với công nghiệp đế quốc và Tần Thủy Hoàng. Còn đối với khung cảnh văn minh đế quốc, họ đã áp dụng cách làm thận trọng cân nhắc lựa chọn ngay từ đầu.

Từ Hán Cao Tổ Lưu Bang đến Hán Vũ Đế Lưu Triệt, trải qua hơn trăm năm, Tây Hán cuối cùng đã hoàn thành sự cân nhắc lựa chọn này.

Quá trình này không phải toàn bộ đều là bài toán khó. Đối với chế độ trung ương tập quyền, quận huyện chế, thống nhất chính lệnh, thống nhất văn tự, thống nhất đo lường, thống nhất tiêu chuẩn giao thông sản xuất, đổi dời phong tục cùng muôn vàn pháp độ xã hội cơ bản, vương triều Tây Hán đều kế thừa toàn bộ khung cảnh văn minh Tần. Cái gọi là "Hán kế thừa chế độ Tần", chính là nói về điều này. Trên thực tế, thể chế Tần được tái xác lập cũng nhanh chóng được toàn xã hội tiếp nhận trở lại. Cái gọi là cân nhắc lựa chọn chủ yếu tập trung vào hai hạt nhân: Một là, đối xử thế nào với chế độ phân phong chư hầu vốn có truyền thống mạnh mẽ? Hai là, làm sao để đưa ra lời giải thích hợp lý cho việc trên thực tế kế thừa thể chế Tần nhưng về đạo nghĩa lại phủ định thể chế Tần? Nói cụ thể, điểm khó khi đối mặt với chế độ phân phong là có nên bắt chước Đế quốc Tần phế trừ phong đất thực tế để thực hiện chế độ phong tước trên danh nghĩa hay không? Còn điểm khó trong việc giải thích hợp lý mâu thuẫn giữa kế thừa và phủ định văn minh Tần là phải đưa ra lời bình xét và giải thích thỏa đáng giữa tính chính nghĩa của việc chống Tần với giá trị lịch sử của văn minh Tần.

Đối với điểm khó của chế độ phân phong, vương triều Tây Hán đã đưa ra sự thỏa hiệp có giới hạn, đến thời Hán Vũ Đế cơ bản xác lập chế độ phân phong đất đai có giới hạn. Chế độ cơ bản này thụt lùi so với Đế quốc Tần, cũng đem lại hậu quả xấu lâu dài cho vương triều Tây Hán. Đây là một vấn đề cơ bản khác trong tiến trình lịch sử "Hán kế thừa chế độ Tần". Dù cho sự thỏa hiệp của Tây Hán là có giới hạn, nhưng do chế độ phân phong (ngay cả khi là phong đất có giới hạn) đem lại những biến động xã hội triền miên không dứt, nên sau thời Tây Hán, chế độ phân phong có giới hạn này đời sau càng mờ nhạt hơn đời trước, sau thời Ngụy - Tấn cuối cùng chuyển biến thành chế độ hoàn toàn phong tước danh nghĩa. Nghĩa là, sự kế thừa trên thực tế đối với chế độ Tần của các chính quyền đời sau càng trở nên hoàn chỉnh hơn sau thời Tây Hán. Hiện tượng lịch sử này nói lên rằng: Trải qua kiếp nạn phục bích thời loạn cuối Tần, lại một lần nữa trải qua những biến động do "chư hầu vương" gây ra vào đầu và giữa thời Tây Hán, lịch sử đã biểu thị đầy đủ nhất một đạo lý cơ bản: Thụt lùi so với thể chế Tần là không có lối thoát, kết cục của nó chỉ khiến Trung Quốc một lần nữa rơi vào cảnh chia rẽ động loạn; thể chế Tần được tôi luyện qua hơn năm trăm năm biến động thời Xuân Thu - Chiến Quốc là phù hợp với xã hội, có ích cho quốc gia, có lợi cho sự lớn mạnh và phát triển lâu dài của dân tộc Hoa Hạ. Xét từ ý nghĩa chế độ thực tế, văn minh Tần về bản chất đã nhận được sự thừa nhận lịch sử một cách hoàn toàn.

Thế nhưng, trên phương diện bình xét ý thức lịch sử, lại xuất hiện sự phân liệt to lớn.

Vương triều Tây Hán bắt nguồn từ thế lực chống Tần. Sự thật cơ bản nhất này quyết định chính quyền Tây Hán không thể thừa nhận Đế quốc Tần và văn minh Tần về mặt đạo nghĩa. Bằng không, chính quyền Tây Hán sẽ mất đi tính chính nghĩa của việc dấy binh phản Tần. Đối với truyền thống cổ xưa vốn luôn coi trọng nguyên tắc đạo nghĩa và nhấn mạnh "dấy binh phải có danh nghĩa", điểm này vô cùng quan trọng. Sở dĩ xã hội Trung Quốc cổ đại coi "thương dân phạt tội" là cảnh giới dùng binh cao nhất, căn nguyên chính là ở chỗ coi trọng nguyên tắc đạo nghĩa của hành vi chính trị. Nếu đối phương không phải là bạo chính có tội với thiên hạ mà đem quân đánh, thì đó là "xâm phạm" chứ không phải "thảo phạt"; đã là thiên hạ "thảo Tần phạt Tần", thì Tần chỉ có thể là bạo chính không còn nghi ngờ gì nữa. Đó chính là logic ẩn chứa trong truyền thống đạo nghĩa chính trị cổ xưa của Trung Quốc.

Tuy nhiên, sự khác biệt về nền tảng xã hội của tập đoàn Lưu Bang đã quyết định những nét khác nhau giữa họ với việc phản Tần phục bích của quý tộc sáu nước. Nhưng ở điểm chỉ trích chính sự nhà Tần để từ đó giành lấy tính chính nghĩa phản Tần cho mình, họ lại tương đồng. Điểm khác biệt giữa hai bên chỉ là mức độ và phương thức chỉ trích chính sự nhà Tần mà thôi. Như đã nói ở trước, quý tộc sáu nước ôm lòng hận thù công kích, bịa đặt dối trá có chủ đích đối với chính sự nhà Tần. Còn sự chỉ trích của tập đoàn Lưu Bang đối với chính sự nhà Tần thì chỉ giới hạn ở mức phủ định chung chung.

Xem xét kỹ "Sử ký - Cao Tổ bản kỷ", bản thân Lưu Bang trọn đời chỉ bình xét chính sự nhà Tần đúng hai lần, hơn nữa đều là cùng một câu. Một lần là khi dấy binh ở huyện Bái thuở ban đầu, trong bức thư gắn vào tên bắn vào thành ấp có nói một câu: "Thiên hạ khổ vì Tần đã lâu!" Một lần khác là lúc ước pháp tam chương ở Quan Trung, lại nói với các bậc cha già đất Tần một câu: "Các bậc cha già khổ vì luật pháp hà khắc của Tần đã lâu!" Ngoài ra, còn có hai việc đáng chú ý. Một việc là vào năm thứ tám sau khi xưng đế, tức mùa đông năm sắp qua đời, Lưu Bang hạ chiếu lập ra chế độ cố định dùng dân hộ trông coi mồ mả cho sáu vị vua "đều tuyệt tự không có người nối dõi" từ thời Chiến Quốc trở lại: Trần Sênh cùng bốn vị vua như Triệu Điệu Tương Vương, mỗi vị được phong mười hộ dân giữ lăng, Tín Lăng Quân được phong năm hộ; duy chỉ có Tần Thủy Hoàng được phong hai mươi hộ giữ lăng. Trong lịch sử hơn hai nghìn năm sau đó, phong dân hộ giữ lăng cho Tần Thủy Hoàng, Lưu Bang là người duy nhất. Tương phản với điều đó là khi Hán Vũ Đế phong thiền ở Thái Sơn, các đại thần Nho gia đã có thể nói thẳng Tần Thủy Hoàng không thể đứng vào hàng ngũ phong thiền, mà Hán Vũ Đế cũng đã chấp thuận. Một việc khác là vào năm thứ sáu sau khi lập chính quyền, Lưu Bang đã cất nhắc Trương Thương, một quan phụ trách thống kê của Đế quốc Tần, làm "Kế tướng", đồng thời "ra lệnh cho Trương Thương lấy thân phận liệt hầu ở tại phủ tướng, thống lĩnh việc dâng sổ sách của các quận quốc". Trên thực tế, đó chính là lấy Tiêu Hà làm thừa tướng quản lý chính sự chung, lấy Trương Thương làm phó thừa tướng phụ trách kinh tế. Dùng quan chức kinh tế của Đế quốc Tần làm thừa tướng kinh tế cho mình, ý đồ thực thi thể chế Tần trên thực tế của Lưu Bang là rất rõ ràng. Vị Trương Thương này về sau dưới thời Hán Văn Đế được thăng tiến lên tận chức thừa tướng, nắm quyền chính sự hơn mười năm. Khi ấy, thậm chí ngay cả lịch pháp, quốc vận, âm luật của vương triều Tây Hán đều nhất loạt giữ nguyên theo văn minh Tần. Sự kế thừa nguyên vẹn này kéo dài mãi cho đến thời Hán Vũ Đế.

Những trọng thần khai quốc cùng thời với Lưu Bang cũng hiếm khi có ngôn luận chỉ trích văn minh Tần một cách có hệ thống. Nhân vật điển hình nhất là đại mưu sĩ Trương Lương. Trương Lương từng là "thân đồ" (đại thần coi việc dân chính và kinh tế) thời mạt kỳ của nước Hàn, là quý tộc thuần chính của sáu nước, hơn nữa thời thanh niên luôn coi việc mưu sát Tần Thủy Hoàng và cổ động phục bích phản Tần là sứ mệnh. Thế nhưng sau khi gia nhập tập đoàn Lưu Bang, Trương Lương chỉ lấy việc trù tính bày mưu làm nhiệm vụ, chưa từng can dự vào chính vụ thực tế, cũng chưa từng công khai lên án chính sự nhà Tần. Sau khi Lưu Bang xưng đế, Trương Lương trên thực tế đã lui về ở ẩn. Với thân phận quý tộc sáu nước, biểu hiện chính trị trước sau có sự thay đổi to lớn và cuối cùng thoái ẩn của Trương Lương rất đáng để tìm hiểu. Xưa nay giới sử gia và dã sử diễn nghĩa đều giải thích bằng câu "đạm bạc danh lợi, công thành thân thoái". Thực tế không phải vậy, sự thay đổi của Trương Lương thực chất có liên quan mật thiết đến bầu không khí chính trị của tập đoàn Lưu Bang. Trương Lương vừa không thể khiến Lưu Bang khôi phục chế độ chư hầu, lại không muốn đi theo Lưu Bang để tôn sùng thể chế Tần trên thực tế, đành phải nén đau gạt bỏ toan tính chính trị bấy lâu, bước vào con đường "thần tiên" tu thân dưỡng tính. Cách giải thích này hẳn là gần với chân tướng lịch sử hơn.

Các đời vua tôi sau Lưu Bang như Lã Hậu, Huệ Đế, Văn Đế, Cảnh Đế, tình hình nhìn chung đều tương tự: Rất ít khi động chạm đến việc bình xét chính sự nhà Tần, dẫu có nhắc tới cũng chỉ là vài câu chỉ trích mờ nhạt, chung chung. Nói cách khác, trước thời Hán Vũ Đế, sự phủ định về mặt lý niệm đối với chính sự và thể chế Tần vẫn dừng lại ở giai đoạn cảm tính — xuất phát từ nguyên tắc chính nghĩa phản Tần bắt buộc phải có, họ chỉ đưa ra những phán xét cảm tính mang tính tất yếu ban đầu đối với văn minh Tần mà thôi. Thế là, "thiên hạ khổ vì Tần đã lâu" liền trở thành cách nói mang tính đại diện một cách khái quát.

Sự chỉ trích mang tính cảm tính này bắt đầu biến đổi vào thời Hán Vũ Đế.

Sự bình xét của Tây Hán đối với văn minh Tần chuyển biến từ cảm tính sang lý tính, bắt đầu cuộc tìm hiểu lý niệm trên quy mô lớn.

Bối cảnh của sự thay đổi này là: Chính quyền Tây Hán đã ổn định và hưng thịnh, bắt đầu giải quyết các vấn đề nan giải về phương diện văn trị võ công. Về võ công, đó là liên tục dốc sức phản kích Hung Nô. Về văn trị, lấy điểm tựa là giải thích mâu thuẫn lịch sử giữa kế thừa và phủ định văn minh Tần để xác lập nguyên tắc giá trị chủ lưu trong ý thức hệ quốc gia. Dưới bối cảnh lớn này, việc thực hiện mục tiêu văn trị thể hiện ở hai phương diện: Vừa xuất hiện bộ sử kinh điển đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc xâu chuỗi một cách có hệ thống dấu chân Hoa Hạ — "Sử ký", lại vừa xuất hiện lượng lớn ngôn luận và văn bài xem xét lại văn minh Tần.

Nhìn một cách tổng thể, sự bình xét đối với văn minh Tần cũng như việc tìm hiểu nguyên nhân diệt vong của nhà Tần vào thời Tây Hán thể hiện xu thế tương đối khách quan. Cái gọi là tương đối khách quan nghĩa là sự bình xét của Tây Hán nhìn chung đã thoát khỏi tâm trạng đầy oán độc và thù hận của những kẻ phục bích cuối đời Tần, bắt đầu bình xét văn minh Tần từ ý nghĩa bàn luận sự thực. Một sự thực cơ bản là: Học giả Tây Hán dù khẳng định hay phủ định chính sự nhà Tần đều rất ít khi dẫn lại những lời lẽ cay độc chửi rủa chính sự Tần của những kẻ phục bích cuối đời Tần, mà đều đang trần thuật những sự thực do chính mình nhận định. Dẫu trong đó không thiếu những lời trách cứ chung chung, mơ hồ, nhưng xét trên mặt căn bản thì đã khách quan hơn rất nhiều. Song bất kể mức độ khách quan ra sao, sự phủ định mang tính lý niệm của Tây Hán đối với văn minh Tần là rất rõ ràng, hơn nữa từ cảm tính chuyển sang lý tính, ngày càng có xu hướng lý luận hóa.

Cụ thể hơn, trong các thiên sách liên quan của "Sử ký" vốn được quan phương Tây Hán công nhận, vẫn rất ít khi chỉ trích toàn diện văn minh Tần. Trong các thiên tự sự mang tính tổng hợp như "Hóa thực liệt truyện", "Hà cừ thư", "Bình chuẩn thư", tác giả đều dàn trải kể về thành tựu kinh tế và phong tục địa phương của các thời đại, cơ bản không động chạm đến việc bình xét tổng thể từng giai đoạn diễn tiến văn minh qua các thời kỳ. Ngay cả trong "Lễ thư", "Nhạc thư", "Luật thư" chuyên tự sự về biến chuyển ý thức hệ, cũng rất ít khi chỉ trích thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc và Đế quốc Tần. Trong "Lễ thư" chỉ có một đoạn nhận định vừa lờ mờ khẳng định lại vừa lờ mờ trách cứ: "Thời Chu suy đồi, lễ phế nhạc hỏng... Đến khi Tần có được thiên hạ, thu nạp hết lễ nghi sáu nước, gạn lọc lấy điều tốt, tuy không hợp với chế độ tiên thánh, nhưng tôn sùng vua, ức chế bầy tôi, triều đình tề chỉnh, đều nương theo từ xưa đến nay. Đến thời Cao Tổ... đại để đều phỏng theo lề thói cũ của Tần... ít có sự thay đổi." Trong "Thái Sử Công tự tự" và phần "Thái Sử Công viết" sau truyện các nhân vật, thỉnh thoảng có những lời lẽ như "Tần đánh mất đạo", "Tần đã bạo ngược", nhưng còn lâu mới đạt đến mức độ nguyền rủa đồng loạt như các thế lực phục bích cuối đời Tần, cũng còn lâu mới đạt đến mức giới sử gia đời sau nhìn chung đều quy kết "bạo chính làm mất Tần".

Thái độ của bản thân Hán Vũ Đế cũng rất đáng suy ngẫm.

"Sử ký - Lễ thư" ghi lại một sự thực cơ bản: Hán Vũ Đế triệu tập đông đảo sĩ phu Nho thuật, toan tính chế định lại lễ nghi, có người liền chủ trương khôi phục lễ chế thời cổ. Hán Vũ Đế bèn hạ chiếu rằng: "Kẻ nhận mệnh làm vua, mỗi người đều có chỗ dấy nghiệp riêng, đường đi khác nhau mà cùng về một đích, ấy là nương theo lòng dân mà làm, thuận theo phong tục mà đặt ra điển chế. Những kẻ bàn luận đều ca tụng thái cổ, vậy trăm họ còn trông mong vào đâu? Nhà Hán cũng là việc của một nhà, điển pháp không lưu truyền thì lấy gì nói với con cháu! Kẻ giáo hóa sâu rộng thì bao quát rộng lớn, kẻ cai trị nông cạn thì hẹp hòi gò bó, há chẳng nên gắng sức sao!" Rõ ràng, Hán Vũ Đế rất nhạy cảm và cũng rất nghiêm khắc với việc phục cổ, dẫu chỉ là phục cổ về mặt lễ chế thì ông vẫn phê phán rất nặng nề, lời lẽ nói ra vô cùng đanh thép: Nhà Hán cũng chỉ là một nhà trong các triều đại mà thôi, không có pháp độ lễ nghi của riêng mình thì lấy gì đối diện với con cháu! Nhạy cảm điều gì? Cảnh giác ở đâu? Giới hạn thực tế của ông rất rõ ràng: Không thể vì phủ định chính sự nhà Tần mà đi sang con đường phục cổ. Sau đạo chiếu thư này, Hán Vũ Đế không tiếp thu lý niệm của giới Nho thuật, mà tiến hành canh tân mạnh mẽ: Sửa đổi lịch pháp, đổi màu sắc y phục, phong thiền Thái Sơn, định điển lễ tông miếu và trăm quan, hoàn thành "Hán gia lễ nghi" vừa khác với phục cổ lại vừa khác với chế độ Tần, "lấy đó làm khuôn phép thường hằng, để lại cho đời sau." Nét đáng suy ngẫm của Hán Vũ Đế nằm ở chỗ ông luôn tự giác nắm giữ một lý niệm thi chính: Tần có thể phủ định, nhưng vừa không thể vì phủ định Tần mà đi đến chỗ phục bích, lại vừa không thể kế thừa toàn bộ thể chế Tần như Hán Cao Tổ. Dưới lý niệm như vậy, sự phủ định đối với văn minh Tần đương nhiên rất khó đi đến mức cực đoan như các đời sau.

Sự thật cơ bản này hé lộ một thông điệp lịch sử đáng chú ý: Ngay cả khi đã đến thời Hán Vũ Đế, sự bình xét mang tính tổng thể của Tây Hán đối với văn minh Tần dẫu đã giữ rõ nguyên tắc phủ định, nhưng trên các phương diện cơ bản vẫn rất cẩn trọng, vẫn tránh việc đưa ra sự phủ định đơn giản cuối cùng dưới hình thức có hệ thống. Sự lấp lửng mang tính cảm tính của những ngôn luận "bài Tần" trong "Sử ký", cũng như sự bình xét của nhiều nhà tư tưởng thời đại này đối với chính sự và thể chế Tần, đều hàm chứa sự khẳng định bên trong lời phủ định, rất giống với Giả Nghị thời đầu Hán. Tất cả những điều đó đủ để chứng minh sự tìm hiểu tương đối thận trọng và tương đối khách quan về lịch sử diễn tiến văn minh trong thời kỳ này.

Ý thức lịch sử mang tính chính thống của Tây Hán sau thời Hán Vũ Đế đã bắt đầu có sự biến chuyển nào đó.

Dấu hiệu của sự biến chuyển là trong tiếng nói quan phương bắt đầu xuất hiện cách nói phủ định toàn diện văn minh Tần. Cái gọi là phủ định toàn diện nghĩa là trong sự phủ định không còn hàm chứa sự khẳng định, mà là gạt bỏ tất cả không chừa thứ gì, thái độ phân tích đối với văn minh Tần bắt đầu biến mất. Sự thật cơ bản nhất là cuộc đại luận chiến tại hội nghị Muối Sắt thời Hán Chiêu Đế. Với tư cách là biên bản hội nghị, cuốn "Diêm thiết luận" đã ghi chép chân thực cuộc tranh biện giữa "Hiền lương Văn học" với đại thần nắm chính sự trung ương là Tang Hoằng Dương. Các thiên chương tập trung đề cập đến việc bình xét văn minh Tần gồm có "Tru Tần", "Chu Tần", "Phạt công", "Thân Hàn", "Bị Hồ". "Hiền lương Văn học" là những nhà lý luận chuyên nghiệp của Tây Hán, là tập hợp giới nho sinh. Sự bình xét của họ đối với văn minh Tần là phủ định toàn bộ mà không hàm chứa bất kỳ sự khẳng định nào. Những ngôn luận điển hình của họ gồm có: "Thương Ưỡng làm trái đạo thánh nhân, làm loạn phong tục Tần, về sau, chính sự hao tổn hỗn loạn không thể sửa sang, trôi giạt mất mát không thể vãn hồi." "Tần cậy sức chiến thắng để thâu tóm thiên hạ, coi thường cõi bờ trong nước mà tham lam đất đai của rợ Hồ, rợ Việt." "Tần kiệt cùng sức lực mà bị diệt tộc, sao có thể khiến người đời vào chầu!" Vân vân. Ngay cả hành động chính nghĩa như phản kích Hung Nô cũng bị nói thành "tham đất", sự hoang đường ấy có thể thấy rõ! Sự bình xét của đại thần nắm quyền trung ương Tang Hoằng Dương thì hoàn toàn ngược lại, ở đây không liệt kê thêm nữa. Tuy rằng xét về hình thức, luận thuyết bài xích toàn bộ văn minh Tần này chỉ là ý kiến của một bên trong hội nghị trung ương, không tuyệt đối đại diện cho tiếng nói của triều đình trung ương. Thế nhưng, việc có thể lấy giá trị quan lịch sử phủ định sạch trơn văn minh Tần làm chuẩn mực, lấy thanh thế tập thể để gây khó dễ cho chính sách thực tế mà triều đình đang thi hành, thì bước chuyển ẩn chứa bên trong đó quả thực vô cùng sâu xa.

Ý thức lịch sử thời Tây Hán thể hiện nhiều hơn trong các trước tác cá nhân của quan lại và học giả.

Song song với việc tìm hiểu của giới quan phương, các học giả mang thân phận quan lại thời kỳ Tây Hán cũng bắt đầu tìm hiểu trên quy mô lớn về sự được mất của chính sự Tần và nguyên nhân nhà Tần diệt vong. Sự tìm hiểu này có một xu thế rõ rệt: Tổng thể phủ định văn minh Tần nhưng cục bộ có thể khẳng định, ra sức tìm kiếm nguyên nhân Đế quốc Tần diệt vong từ chính những khiếm khuyết của văn minh Tần. Xét về sức ảnh hưởng trong các luận thuyết, những thời kỳ khác nhau của Tây Hán lần lượt có bốn nhân vật đại diện: Một là học phái của Hoài Nam Vương Lưu An, một là Giả Nghị, một là Giả Sơn, một là Đổng Trọng Thư. Học phái của Hoài Nam Vương Lưu An kết tinh thành một tác phẩm tên là "Hoài Nam Tử", trong đó đồng loạt chỉ trích văn minh Tần, Đế quốc Tần, Tần Thủy Hoàng, luận bàn toàn diện từ các phương diện cơ bản như kinh tế, quân sự, chính trị, dân sinh, lời bình xét cuối cùng thuộc về kiểu phủ định sạch trơn. Luận điểm phủ định kinh tế trong "Hoài Nam Tử - Dĩ luận huấn" có thể coi là đại diện, viết rằng: "Thời Tần, đắp đài tạ thật cao, mở vườn tược thật rộng, xây đường sá thật xa, đúc người vàng, điều lính thú, thu cỏ rơm, xét từng đầu người vét từng thúng thóc, nộp vào Thiếu phủ. Đàn ông trai tráng, phía tây tới Lâm Thao, Địch Đạo, phía đông tới Cối Kê, Phù Thạch, phía nam tới Dự Chương, Quế Lâm, phía bắc tới Phi Hồ, Dương Nguyên, người chết dọc đường lấy rãnh hào mà đo!"

Thiên "Quá Tần luận" của Giả Nghị là thiên sử luận mang tính bình xét tổng hợp được các đời suy tôn. Lập trường cơ bản của Giả Nghị là phủ định văn minh Tần, nhưng trong đó cũng đánh giá rất cao biến pháp của Tần Hiếu Công và Thương Ưỡng, đồng thời cũng đánh giá rất cao công tích cơ bản của Tần Thủy Hoàng. Phán đoán khái quát của Giả Nghị về nguyên nhân diệt vong của nhà Tần là: "Nhân nghĩa không thi hành, mà thế công thủ đã khác vậy!" Còn phán đoán tổng thể của Giả Nghị về văn minh Tần là: "Tần vương... bỏ vương đạo, lập tư quyền, cấm văn thư mà dùng hình phạt tàn khốc, chuộng lừa lọc vũ lực trước rồi mới đến nhân nghĩa, lấy bạo ngược làm việc mở đầu cho thiên hạ... Cho nên lúc Tần hưng thịnh, luật pháp phiền toái hình phạt nghiêm khắc khiến thiên hạ kinh sợ... Tần đánh mất cả gốc lẫn ngọn, cho nên không được dài lâu."

Bản tấu sớ của Giả Sơn dâng lên Hán Văn Đế cũng lên án rõ rệt chính sự nhà Tần, được xưng là "Chí ngôn". Ngôn luận mang tính đại diện của ông là: "Tần... thu gom thuế má nặng nề dồn dập, trăm họ kiệt quệ mệt mỏi, áo đỏ phạm nhân nghẽn nửa đường, trộm cướp đầy núi, khiến người trong thiên hạ trừng mắt mà nhìn, ghé tai mà nghe!" Bài văn của ông nguyền rủa Tần Thủy Hoàng càng thêm dữ dội: "Tần vương tham lam hung tàn bạo ngược, tàn hại thiên hạ, làm khốn cùng muôn dân để thỏa mãn dục vọng của mình... Lúc Tần Hoàng đế còn sống, thiên hạ đã sụp đổ rồi, vậy mà không tự biết!" Bởi lẽ lời lẽ của Giả Sơn to tát mà rỗng tuếch, gần giống với những lời oán độc rủa xả của các thế lực phục bích cuối đời Tần, cho nên sức ảnh hưởng của ông ở đời sau khá yếu, không bằng luận thuyết của Giả Nghị và Đổng Trọng Thư sau đó.

Sự lên án của Đổng Trọng Thư đối với chính sự nhà Tần thuộc về đại diện cho kiểu phủ định sạch trơn; những lời lên án về kinh tế, pháp trị, giáo hóa của ông được những người theo thuyết "bạo Tần" đời sau coi trọng nhất. Cả đời Đổng Trọng Thư viết vô số văn bài, chỉ riêng tấu sớ đã có một trăm hai mươi ba thiên. Thuyết luận Tần của ông chủ yếu có hai phần: Một phần thấy trong bản tấu sớ được ghi lại ở bản truyện của ông, một phần thấy trong đoạn "Đổng Trọng Thư thuyết thượng viết" (ghi chép tấu sớ hoặc đối đáp với vua) do "Hán thư - Thực hóa chí" dẫn lại. Cả hai luận điểm đều mang tính điển hình cho thuyết "bạo Tần" đời sau, được giới sử gia đời sau liên tục trích dẫn làm căn cứ sử liệu, do đó xin trích lục dưới đây:

"Hán thư - Thực hóa chí" dẫn lại lời lên án kinh tế của ông rằng:

"Thời xưa đánh thuế dân không quá một phần mười, đòi hỏi dễ chu cấp; sai khiến dân không quá ba ngày, sức dân dễ kham nổi... Đến đời Tần thì chẳng như vậy, dùng phép của Thương Ưỡng, đổi chế độ của đế vương, bỏ phép tỉnh điền, dân được mua bán đất đai, kẻ giàu ruộng đất liền dải, kẻ nghèo không có mảnh đất cắm dùi. Lại lũng đoạn mối lợi sông đầm, nắm giữ sự trù phú của núi rừng, hoang dâm vượt lễ chế, đua nhau xa xỉ để tranh cao thấp; trong ấp có kẻ mang vị thế tôn quý như bậc quân vương, trong làng có người giàu có ngang hàng công hầu, dân hèn sao khỏi khốn cùng? Lại bắt mỗi tháng làm lính đổi phiên, xong rồi lại làm chính dịch một năm, đi thú một năm, tạp dịch nặng gấp ba mươi lần thời xưa; tô ruộng thuế đinh, mối lợi muối sắt, nặng gấp hai mươi lần thời xưa. Có kẻ cày ruộng cho nhà hào phú, phải nộp thuế đến năm phần mười. Cho nên dân nghèo thường mặc áo của trâu ngựa, ăn thức ăn của chó lợn. Lại thêm quan lại tham tàn bạo ngược, hình phạt giết chóc bừa bãi, dân buồn lo cùng quẫn, trốn chạy vào rừng núi, biến thành trộm cướp; áo đỏ phạm nhân chật nửa lối đi, việc xử án mỗi năm tính bằng hàng nghìn hàng vạn vụ. Nhà Hán dấy lên, cứ thế noi theo mà chưa sửa đổi..."

"Hán thư - Đổng Trọng Thư truyện" chép việc ông lên án pháp trị nhà Tần như sau:

"Học theo phép của Thân Bất Hại, Thương Ưỡng, thi hành thuyết của Hàn Phi, ghét bỏ đạo đế vương, lấy thói tham lam hung bạo làm phong tục. Chẳng có văn đức để dạy dỗ thiên hạ. Bắt bẻ danh xưng mà không xét thực chất, người làm điều thiện chưa chắc được tha, mà kẻ phạm điều ác chưa hẳn đã chịu hình phạt... Lại thích dùng quan lại ngang ngược tàn khốc, vơ vét thuế má không chừng mực, vắt kiệt tài lực của dân, trăm họ tan tác trốn tránh, không thể theo nghề cày cấy dệt may, giặc cướp cùng nổi dậy. Cho nên người chịu hình phạt rất nặng, kẻ chết nhìn thấy nhau ngoài đường, mà gian tà vẫn không dứt."

"Hán thư - Đổng Trọng Thư truyện" ghi lại lời ông lên án giáo hóa như sau:

"Đến thời mạt kỳ của nhà Chu, làm nhiều điều vô đạo, đến nỗi mất thiên hạ. Tần nối tiếp sau đó, riêng mình chẳng thể sửa đổi, lại càng làm quá hơn: Cấm ngặt văn học, không được cất giấu sách vở, vứt bỏ lễ nghĩa mà ghét nghe đến điều đó. Lòng dạ muốn diệt sạch đạo của tiên vương, chỉ chuyên làm việc cai trị buông thả tùy tiện cẩu thả, cho nên lên ngôi thiên tử mười bốn năm mà nước đã tan nát diệt vong! Từ xưa đến nay, chưa từng có ai lấy loạn cứu loạn, làm tổn hại trăm họ trong thiên hạ đến mức như Tần! Nọc độc và tàn dư của nó đến nay vẫn chưa dứt, khiến phong tục bạc bẽo xấu xa, lòng dân ngang ngạnh hung bạo, chống đối xung đột, nát bấy thối rữa đến cùng cực như thế này! Khổng Tử nói: 'Gỗ mục không thể chạm khắc, vách tường bằng phân đất không thể trát vôi.' Nay nhà Hán nối tiếp sau Tần, như gỗ mục vách phân vậy, dẫu muốn sửa sang cho yên ổn cũng chẳng biết làm thế nào... Làm chính sự mà không xong, tệ quá ắt phải biến đổi và canh tân... Nhà Hán từ khi được thiên hạ đến nay, thường muốn trị vì cho tốt mà đến nay vẫn chưa thể trị vì tốt, ấy là do sai lầm ở chỗ đáng canh tân mà lại không canh tân vậy!"

Về việc những lời lên án kinh tế và pháp trị của Đổng Trọng Thư không đứng vững trước sự khảo chứng, tôi sẽ cùng làm sáng tỏ ở phần sau.

Ở đây cần phải chỉ ra rằng: Trong lời lên án giáo hóa, Đổng Trọng Thư không quy kết nguyên nhân khiến Tây Hán "phong tục bạc bẽo xấu xa" cho sự phá hoại xã hội to lớn do cuộc đại phục bích của tập đoàn quý tộc sáu nước mang lại, mà lại quy kết toàn bộ cho chính sự nhà Tần, đây rõ ràng là định kiến lịch sử. Định kiến này không phải do hiểu lầm, mà là cố ý làm ra. Mục tiêu của Đổng Trọng Thư rất rõ ràng: Thúc đẩy thể chế nhà Hán "canh tân", biến thành chế độ thực tế lấy "vương chế Tam đại" làm bản thể, và do Nho gia nắm quyền chỉ đạo ý thức hệ. Còn nếu quy kết căn nguyên suy đồi của thế đạo cho động loạn phục bích, thì chẳng khác nào phủ định tính chính đáng của việc Nho gia ca tụng "vương chế". Cho nên, ông ta chỉ đành trút toàn bộ tội danh bại hoại thế phong lên đầu chính sự nhà Tần cho xong chuyện. Cách làm phủ định sạch trơn văn minh Tần dựa trên ý đồ chính trị lộ liễu như vậy thực sự không mấy cao minh, cũng tồn tại quá nhiều mâu thuẫn sơ hở. Vì thế, nó không hề làm lung lay về mặt tổng thể quốc sách thực tế "Hán kế thừa chế độ Tần". Đổng Trọng Thư sinh vào giữa thời Tây Hán, cách thời đại Đế quốc Tần chỉ chừng trăm năm, đối với những hành vi xấu xa như sự hủy diệt bằng bạo lực, phản bội lẫn nhau, chém giết cướp bóc, đạo đức suy đồi của các thế lực phục bích, cùng với sức tàn phá và di chứng của chúng, đáng lẽ ông ta phải rất rõ ràng. Đối với sự tàn phá to lớn của tập đoàn Hạng Vũ tàn bạo nhất, Đổng Trọng Thư đáng lẽ càng phải rõ hơn. Thế nhưng, Đổng Trọng Thư lại đem tội trách phá hoại toàn bộ cấu trúc văn minh và luân lý xã hội này trút lên thời đại văn minh Tần vốn xưa nay luôn chú trọng kiến thiết và pháp độ nghiêm chỉnh, điều đó trên thực tế là không khách quan, không chịu nổi sự chất vấn, phẩm chất đạo đức học thuật kém cỏi ấy cũng thực sự khiến người ta lạnh lòng. Đằng sau những lý niệm như thế tiềm ẩn tâm địa gì, há chẳng đáng để người đời sau cất lời chất vấn hay sao?

Vào thời Tây Hán, những lời dối trá lịch sử của các thế lực phục bích cuối đời Tần đã bị kiềm chế trên phương diện tổng thể.

Thế nhưng, sự bình xét tổng thể đối với văn minh Tần vào thời Tây Hán cũng lần đầu tiên xuất hiện dưới hình thức phủ định mang tính lý luận. Sự lý luận hóa này vừa thể hiện ở việc tìm hiểu tương đối thận trọng của giới quan phương, lại càng thể hiện ở trào lưu tư tưởng "bài Tần" phổ biến mang đặc trưng hình thức là muôn vàn cuộc tìm hiểu cá nhân trong chốn học thuật tư nhân lẫn học thuật quan phương. Chính trong trào lưu tư tưởng chỉ trích một phần hoặc toàn diện đối với văn minh Tần của những người như nhóm Hiền lương Văn học, học phái Hoài Nam Vương, cùng các danh sĩ Nho gia như Giả Sơn, Đổng Trọng Thư, đã khiến những lời dối trá lịch sử của thế lực phục bích cuối đời Tần lại có được cơ hội lịch sử để sống lại, cuối cùng dẫn tới tai họa thực tế từ cuộc phục bích của Vương Mãng vào cuối thời Tây Hán, rồi lại rốt cuộc lan tỏa thành màn sương mù lịch sử dằng dặc khôn nguôi.

Xét về mặt hình thức, sự đúc kết và xem xét lại tiến trình diễn tiến của văn minh Hoa Hạ, đúc kết và xem xét lại văn minh Tần vào thời đại Tây Hán là sự tự giác đầu tiên của ý thức lịch sử Trung Quốc. Thế nhưng, do những nguyên nhân chính trị cụ thể, do sự hạn chế về tầm nhìn văn minh của thời đại đang sống, cuộc xem xét lại lịch sử văn minh có quy mô lớn và tương đối tự giác này rốt cuộc lại sinh ra kết luận mang tính phủ định gần với thuyết "bạo Tần". Kết luận này đã dẫn tới sự phân liệt không thể tưởng tượng nổi trong ý thức lịch sử Trung Quốc: Kế thừa văn minh Tần trên thực tế, nhưng lại phủ định văn minh Tần trên lý niệm.

Ở Trung Quốc trước thời kỳ này, bước chân lịch sử và ý thức lịch sử vốn luôn thẳng thắn hòa làm một: Một tập đoàn chính trị nhận định và tôn sùng một loại văn minh nào đó thì nhất định sẽ dốc hết sức mình để theo đuổi và thực hiện, ngược lại thì dứt khoát vứt bỏ. Chỉ bắt đầu từ thời kỳ Tây Hán này, bước chân lịch sử và ý thức lịch sử của Trung Quốc mới xuất hiện sự tách rời quái đản. Dẫu cho sự phân liệt này mới là bước khởi đầu, còn lâu mới nghiêm trọng như các đời sau. Thế nhưng, sự phân liệt này do được Đông Hán kế thừa mà kéo dài thăng trầm hơn bốn trăm năm, rốt cuộc đã lắng đọng thành một định thức lịch sử hoang đường. Chính quyền trung ương Lưỡng Hán với tư cách là kẻ kế thừa văn minh Tần trên thực tế, dựa vào nhiều nguyên nhân, từ đầu chí cuối vẫn luôn giữ thái độ ngầm thừa nhận, giữ sự ủng hộ trên thực tế đối với sự phân liệt hoang đường này. Đồng thời, do phương lược văn giáo "bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật" được xác lập, giá trị quan lịch sử của Nho gia ngày càng chiếm vị trí chủ lưu, sự phân liệt hoang đường của ý thức lịch sử Trung Quốc đối với văn minh Tần — sự phân liệt giữa việc dựng nước thực tế và việc bình xét giá trị, theo sự trôi đi của lịch sử mà càng lúc càng trở nên sâu sắc và nặng nề hơn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.