Đại Tần Đế Quốc 6: Đế Quốc Phong Yên

Lượt đọc: 160 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồn Phách Vạn Lý Trường Chường Đã Đi Rồi, Sao Nỡ Nhẫn Tâm Nhìn Quốc Tang Của Đạo Quân Vương

❊ ❊ ❊

Mùa thu trên đại thảo nguyên không thể tả nổi, không thể nói hết. Những làn sóng cỏ mấp mô vàng úa, những thân bạch dương sừng sững oai phong trắng màu sương, những cây hồ dương già cỗi cháy rực sắc đỏ, những dãy núi xanh ngút ngàn vắt ngang chân trời, những dòng nước trong cuồn cuộn chảy êm đềm, những vòm trời xanh thẳm vô tận, những đàn cừu điểm xuyết khắp nơi không bờ bến, thứ sắc màu mà dẫu là bậc thánh thủ cũng không tài nào pha chế nổi, bầu không khí mà dẫu là bậc hiền triết cũng chẳng thể dung chứa hết, khúc mục ca say đắm, những kỵ sĩ phi nước đại, món sữa ngựa mát rượi thanh tao, hạt kê rang thơm giòn, cùng đống lửa nướng cừu và vò rượu lớn mà chỉ có tráng sĩ hào khí ngút trời mới dám dốc sức so tài... Đại thảo nguyên bao la thu gọn cả cõi trời đất tang thương, vừa hùng tráng u trầm lại vừa kiều diễm lả lướt, mặc sức cho ngươi phóng khoáng, mặc sức cho ngươi cuồng nhiệt, mặc sức cho ngươi cảm động, mặc sức cho ngươi ưu thương.

Vào ngày này của hai nghìn hai trăm mười bảy năm trước, sắc thu trên thảo nguyên giống như một ngọn lửa sục sôi nhiệt huyết.

Vạn Lý Trường Thành cuối cùng cũng sắp được hợp long nơi vùng ngoại ô Cửu Nguyên, toàn bộ thảo nguyên Âm Sơn như đang sôi sục.

Trên những dãy núi Âm Sơn nhấp nhô hùng vĩ, muôn vàn cờ xí tung bay phấp phới, tiếng tù và bằng sừng trâu trầm hùng vang vọng hòa lẫn tiếng trống lớn chiêng vang rền trời đất. Trên vùng thảo nguyên dưới chân núi Âm Sơn phía nam, những kỵ binh thiết giáp màu đen xếp thành hai phương trận lớn cách nhau một khoảng xa. Trên khoảng cỏ giữa các phương trận, hàng vạn mục dân lùa theo những đàn bò, đàn ngựa, đàn dê từ khắp nơi bắc nam Âm Sơn tụ họp về; tiếng bò dê kêu vang lừng cùng tiếng người huyên náo, kẻ nhảy múa quanh đốm lửa, người tụm lại uống rượu cất cao lời ca, kẻ đổi chác hàng hóa, người so tài vật lộn, sự nhộn nhịp vui tươi lần đầu tiên bao trùm lên đại thảo nguyên vốn đã trải qua bao năm tháng chinh chiến. Lại có hàng vạn người dân áo vải từng tham gia tu cất Trường Thành nay đã được nghỉ việc, đầu quấn khăn đen, mình mặc áo vải thô, vai đeo hành lý tay chống cuốc sắt, hừng hực chen chúc trên những sườn đồi dốc sườn núi phía trong của dãy Trường Thành hùng vĩ để chỉ trỏ bình phẩm, khắp núi khắp đồi tiếng người râm ran như thủy triều. Khu vực trống trải ở trung tâm thảo nguyên chính là điểm hợp long của Trường Thành Đông và Tây: Trường Thành phía tây chạy từ Lâm Thao, Lũng Tây, và Trường Thành phía đông chạy từ bờ biển Liêu Đông, sắp sửa được hợp long ngay tại khu vực rìa thảo nguyên Âm Sơn phía bắc Cửu Nguyên. Lúc này, bức tường lớn và các ụ súng bằng gạch Tần của Trường Thành đã hoàn thành toàn bộ, chỉ còn lại một viên đá lớn ở ụ súng trung tâm là chưa được đặt lên. Viên đại thạch này chính là vật lấp đầy miệng rồng của Đài Phong Hỏa Cửu Nguyên mà đại điển khánh thành hôm nay phải hoàn thành. Giờ phút này, miệng rồng trung tâm và đài phong hỏa đã được phủ lụa đỏ từ trên xuống dưới, cờ xí trên đài dưới đài dựng lên như rừng; từ đài phong hỏa thả xuống hai dải lụa đỏ khổng lồ, lần lượt đề những chữ lớn viết trên lụa trắng, vế đông là "Thiên thu đại Tần, bắc khu hồ lỗ", vế tây là "Vạn Lý Trường Thành, nam phiên Hoa Hạ".

"Mông công, Trường Thành vạn dặm, cuối cùng cũng hợp long rồi!"

"Trưởng công tử, huy động hơn một triệu sức dân, cuối cùng cũng có thể gánh vác việc trở về quê cũ gieo trồng rồi!"

Trên đài phong hỏa, Mông Điềm và Phù Tô đứng sát vai nhau bên ụ súng, trong lòng dâng trào muôn vàn cảm xúc khó diễn tả bằng lời. Chỉ trong vỏn vẹn một tháng ngắn ngủi, râu tóc Mông Điềm đã bạc trắng cả. Phù Tô tuy chưa lộ vẻ già nua, nhưng trông cũng gầy gò, sạm đen và đầy vẻ mệt mỏi tang thương. Kể từ khi hoàng đế hành doanh đi về phía nam qua con đường thẳng Cửu Nguyên, Vương Ly xin yết kiến mà không thấy rõ hư thực, Mông Điềm và Phù Tô liền rơi vào sự bất an khó tả. Trong khoảng thời gian ấy, Mông Điềm nhận được một văn bản từ phủ thừa Lang trung lệnh, nói rằng Lang trung lệnh đã phụng chiếu vội vã đến cung Cam Tuyền, còn bức thượng thư xin hồi hương sức dân ở Cửu Nguyên thì đã phái người mang đến cung Cam Tuyền dâng lên hoàng đế rồi. Từ đó Mông Điềm biết được hoàng đế đang ngự giá ở cung Cam Tuyền, bóng mây nghi ngờ trong lòng càng thêm đậm đặc, mấy lần ngỏ ý muốn đi về phía nam tới cung Cam Tuyền bệ kiến bệ hạ, nhưng đều bị Phù Tô kiên quyết can ngăn. Lý do của Phù Tô rất vững chắc: Phụ hoàng đã ngự giá đến cung Cam Tuyền, bệnh thế tất đã thuyên giảm, việc nước ắt sẽ đi vào quỹ đạo bình thường, không cần chưa có chiếu thư mà mạo muội xin yết kiến, chỉ chuốc lấy sự phiền muộn cho phụ hoàng mà thôi. Mông Điềm tuy cảm thấy Phù Tô quá mức cẩn trọng câu nệ, nhưng rốt cuộc vẫn không khăng khăng giữ vững ý kiến. Dù sao đi nữa, Mông Điềm vẫn xem Phù Tô như vị trữ quân mà đối đãi, nếu không có ý nguyện rõ ràng của Phù Tô, bất kỳ hành động nào cũng có thể mang lại kết quả ngược lại. Tuy nhiên, Mông Điềm vẫn không lơi lỏng sự cảnh giác, lập tức đề xuất một mưu lược khác: đẩy nhanh việc hợp long Trường Thành, sau đại điển khánh thành liền lập tức hồi hương một triệu dân phu; sau đó xem đây là việc quốc gia biên giới trọng đại, hai người cùng nhau trở về kinh đô yết kiến hoàng đế. Lần này, Phù Tô đã đồng ý với chủ trương của Mông Điềm. Bởi vì, Mông Điềm đã nêu ra một điểm nghi vấn lớn mà Phù Tô không sao đáp nổi: "Phong cách cần chính của hoàng đế xưa nay chưa từng thấy, hà cớ gì đại tướng quân trấn biên và giám quân hoàng tử xin yết kiến nhiều lần mà không cho phép? Hà cớ gì việc hồi hương một triệu dân phu mà không hề đáp ứng một lời? Dẫu cho hoàng đế đau bệnh không thể xử lý chính sự, hà cớ gì thừa tướng đứng đầu triều chính cũng không hề hồi đáp một lời? Phàm là những điều như thế, há lại không có nguyên nhân trọng đại hay sao? Ta và ngươi có thể đợi một thời gian, nhưng không thể đợi mãi mãi được đâu." Ngày hôm đó sau khi bàn bạc, hai người chia nhau đi đốc thúc Trường Thành Đông và Tây, cuối cùng trong thời gian chưa đầy một tháng đã hoàn thành công đoạn thu dọn cuối cùng, nghênh đón đại lễ hợp long Vạn Lý Trường Thành ngày hôm nay.

"Đại điển hợp long Vạn Lý Trường Thành, tấu nhạc——!"

Tiếng hô dài của vị tư lễ hòa cùng tiếng chuông trống vang lên đồng đều cùng tiếng kèn lệnh trầm hùng, cùng với tiếng hò reo của muôn vàn dân chúng, đã lấn át cả những ngọn núi và thảo nguyên, đồng thời cũng đánh thức Mông Điềm và Phù Tô đang chìm đắm trong những suy tư mông lung. Khi hai người nghiêm trang chỉnh đốn lại y quan, tiếng hô dài của vị tướng Tư lễ lại từng đợt theo gió vang vọng khắp các sườn đồi: "Giám quân hoàng trưởng tử, thay mặt hoàng đế bệ hạ tế trời——!" Chỉ trong khoảnh khắc, các mục dân đã ngừng ca múa, những người dân áo vải ngừng reo hò, những đàn bò dê ngừng tiếng kêu vui sướng, đại thảo nguyên bỗng tĩnh lặng như một thung lũng sâu. Phù Tô sải bước từ dưới lá đại kỳ của đài phong hỏa đi đến chiếc bàn tế đặt trước ụ súng, vái trời một lứa, trải cuột tre ra đọc văn tế: "Hạo thiên ở trên, Doanh Phù Tô thay mặt hoàng đế bệ hạ kính cẩn tâu rằng: Đại Tần đông tiến, thống nhất Hoa Hạ, sáng lập văn minh, hết lòng thực thi tân chính, an định thiên hạ. Nạn giặc Hồ phương bắc, trải qua mấy trăm năm, Hung Nô hoành hành, nhiều lần xâm phạm Trung Quốc! Để bảo vệ muôn dân, xây dựng Trường Thành của ta. Phía tây khởi từ Lâm Thao, phía đông đến Liêu Đông, kéo dài vạn dặm, làm cửa ải quốc gia! Cầu xin trời cao phù hộ, nhờ có Trường Thành vĩnh tồn, bảo vệ quốc nhân ta, thái bình lâu dài——!" Giọng nói trầm ngùng của Phù Tô vẫn còn đang vang vọng, thì vùng đồi núi thảo nguyên đã liên tiếp rộ lên tiếng hô vang dậy như sóng trào gió thét: Hoàng đế vạn tuế, Trường Thành vạn tuế.

"Đại tướng quân hợp long Trường Thành——" Hồi lâu sau, tiếng truyền hô của tướng Tư lễ lại theo gió lướt qua thảo nguyên.

Trong tiếng kèn trống rộn ràng, Mông Điềm với mái tóc và chòm râu bạc phơ vẻ mặt trang nghiêm cất bước, từ dưới lá đại kỳ trên đài phong hỏa đi đến trước miệng rồng đang đợi hợp long. Hai người thợ cả khoác lụa đỏ, dẫn đầu hai tráng sĩ mình trần, khiêng tới một khối đá vuông được gói trong vải đỏ, đặt ngay ngắn lên chiếc bàn lớn cạnh miệng rồng. Mông Điềm cúi mình thật sâu với hai người thợ cả, cúi sâu với hai chàng trai mình trần, cúi sâu với khối đá bọc vải đỏ, đoạn dùng hai tay ôm lấy khối đá, hừng hực giơ cao qua đầu, cất giọng hô lớn: "Bệ hạ! Vạn Lý Trường Thành hợp long rồi——!" Giữa tiếng gầm vang vọng, khối đá bọc vải đỏ ầm ầm nện xuống khoảng trống cuối cùng của Vạn Lý Trường Thành... Bất chợt, muôn vàn người dân áo vải khắp núi đồng loạt giơ cao cuốc sắt reo hò nhảy múa như rừng rậm chuyển động, ai nấy nước mắt giàn giụa hô to: "Trường Thành hợp long rồi! Dân phu được về quê rồi!" Theo tiếng reo hò của dân chúng, một cột khói lang yên thử nghiệm trên đài phong hỏa hợp long vút bay lên tận trời cao, đoàn người đông đảo mục dân dưới đài phong hỏa ca múa tưng bừng, kéo theo tiếng hòa âm vô tận từ thảo nguyên bao la rộng lớn——

Âm Sơn nguy nga biên thành dài dằng dặc

Phương nam lúa gạo phương bắc bò cừu

Dân đen muôn vàn mồ hôi xứ người

Mục dân nước cỏ khúc ca thái bình

Vòm trời bao la rồng lớn uy nghi

Hoa Hạ thống nhất chung cõi đại bang

Ngày hôm đó, Mông Điềm hạ lệnh chuyển hết số rượu cũ trữ trong quân ra ngoài, những cỗ xe bò chở rượu nối đuôi nhau không dứt. Rượu của đại quân, rượu của mục dân, rượu của dân phu, đều được chất đống trước đài phong hỏa thành từng ngọn núi nhỏ. Muôn vàn tướng sĩ, muôn vàn mục dân, muôn vàn người dân áo vải tụ tập trên thảo nguyên trước núi rượu tựa biển người mênh mông, cạn chén đủ loại rượu, ngâm nga đủ loại khúc ca, nhảy múa đủ loại điệu nhảy, đủ thứ ngôn ngữ từ khắp bốn phương trời hội tụ lại thành một làn sóng huyên náo kỳ lạ, muôn màu muôn vẻ trang phục từ khắp nơi hòa quyện thành một đại dương sắc màu kỳ diệu; những người Hung Nô tóc vàng mắt xanh, người Lâm Hô tráng kiện vạm vỡ, người Đông Hồ gầy gò sạm đen cùng đủ loại người Trung Nguyên tóc đen mắt đen da vàng hòa quyện với nhau cuồn cuộn không dứt, rượu thịt không phân biệt ngươi ta, vùng miền không chia nam bắc, đám đông không kể già trẻ gái trai, tất cả đều đang tự do tuôn chảy trên đại thảo nguyên, vui sướng ca hát, cuồng hoan không kiêng nể gì cả...

Phù Tô lần đầu tiên trong đời say mèm. Ở rìa biển người huyên náo dưới chân đài phong hỏa, Phù Tô vô tri vô giác rời khỏi Mông Điềm, vô tri vô giác hòa mình vào dòng người cuồng hoan. Uống cạn mấy vò rượu không rõ tên, khí phách hào hiệp của Phù Tô bỗng chốc bùng nổ, nỗi u uất đọng lại lâu ngày bỗng chốc tan biến không dấu tích. Đi qua từng ngọn lều đốm lửa, đi qua từng đám đông đang vui vẻ chuyển động, Phù Tô vừa gò mình hát những khúc ca có lời hoặc không lời, vừa nhảy những điệu múa khi lạ lẫm lúc quen thuộc, vừa cạn những chén rượu từng thấy hay chưa từng thấy bao giờ, mặt đỏ bừng như ngọn lửa đang cháy, mồ hôi tuôn rơi như dòng suối nhỏ, trái tim say đắm mềm nhũn như những thiếu nữ trên thảo nguyên; cười, hát, múa, chạy, nhảy, gào thét, nằm dài, chẳng biết mình đang ở phương nào, chẳng biết mình là ai, chẳng biết là mơ hay tỉnh, chẳng biết trời đất sẽ đi về đâu! Vào ngày hôm đó, Phù Tô chỉ biết một điều chắc chắn rằng, niềm vui sướng thoải mái nhường này, sự vô lo vô nghĩ nhường này, trong cuộc đời chàng là điều chưa từng có. Trong mơ hồ, linh hồn Phù Tô bay vút lên từ một cội nguồn sâu thẳm, nhẹ nhàng bay bổng tựa một chiếc lông hồng, bay về phía bầu trời xanh, bay về phía đại dương, bay đến tận sâu thẳm của thảo nguyên vô tận...

Mông Điềm tự mình dẫn theo một đội kỵ mã tinh nhuệ, lùng sục suốt một ngày một đêm, mới tìm thấy Phù Tô đang ngủ say như chết bên vũng nước vô danh ở chân núi Âm Sơn phía nam. Đó là một hồ nước ẩn mình được bao bọc bởi một rừng hồ dương đỏ rực, Phù Tô cuộn mình ngủ bên hồ, trên người phủ một lớp lá đỏ lấm tấm sương thu, hai tay thả chìm trong làn nước trong vắt, khóe môi vương nụ cười vô cùng mãn nguyện... Khi Mông Điềm lặng lẽ bồng Phù Tô lên, mắt các kỵ sĩ trong đội đều rưng rưng. Quân y đi theo cẩn thận khám xét một hồi, kinh ngạc nói rằng trưởng công tử mắc chứng say chết vô cùng hiếm gặp, chỉ có cách tịnh dưỡng giải rượu, mười mấy ngày sau mới có thể bình phục.

Mông Điềm lần đầu tiên giận dữ biến sắc, nổi lôi đình với tư mã hộ vệ của giám quân hành viên (hành doanh), lập tức hạ lệnh tước bỏ quân tước để chuộc tội tiếp tục làm nhiệm vụ, nếu trưởng công tử lại xảy ra sự cố mất tích như thế này nữa, toàn bộ quân lính hộ vệ sẽ bị chém đầu! Khoảnh khắc ấy, tất cả các lại vĩ và tướng sĩ trong giám quân hành doanh đều khóc ròng, chẳng một ai dám biện bạch rằng đại tướng quân không có quyền xử lý thuộc hạ của giám quân đại thần. Ngược lại, không nói hai lời, toàn bộ lại vĩ và tướng sĩ dưới trướng giám quân đều tháo gỡ huy hiệu quân tước trên ngực xuống, đồng thanh hô lên một câu: "Nguyện chịu phạt! Chuộc tội thi hành nhiệm vụ!"

Mưu tính lập tức đi về phía nam đành phải hoãn lại.

Mông Điềm mang nặng nỗi lo âu chỉ đành chuẩn bị trước mọi thứ, chờ đợi Phù Tô hồi phục. Trong khoảng thời gian này, Mông Điềm liên tiếp ban hành năm đạo đại tướng quân lệnh, rầm rộ thúc đẩy các công việc tiếp theo của việc khánh thành Trường Thành, yêu cầu triều dã đều phải biết rõ. Đạo lệnh thứ nhất, tất cả các trại dân phu lập tức bắt đầu phân loại đợt hồi hương sức dân, mỗi trại chỉ giữ lại một phần mười tráng đinh, để trông coi các đài phong hỏa trước khi đại quân đến tiếp quản Trường Thành; đạo lệnh thứ hai, ba mươi vạn đại quân tái bố trí phòng thủ, đại doanh Cửu Nguyên đồn trú chủ lực thiết quân mười vạn, đại doanh Liêu Đông mới xây đồn trú chủ lực thiết kỵ mười vạn, hơn mười vạn tướng sĩ bộ kỵ còn lại lấy đài phong hỏa làm cơ sở, lập tức chia thành mấy chục doanh thủ quân đồn trú Trường Thành; đạo lệnh thứ ba, tất cả các loại nỏ liên thanh hạng nặng lập tức đưa lên các đoạn yếu hiểm của Trường Thành, lương thảo xe cộ quân tư trang lập tức bắt đầu vận chuyển cất trữ đến các đài phong hỏa, làm nền tảng cho quân đồn trú; đạo lệnh thứ tư, dân phu áo vải tu cất Trường Thành, nếu có tráng đinh nào phù hợp và bằng lòng biên chế vào quân ngũ, lập tức thống kê bẩm báo, phân về các doanh; đạo lệnh thứ năm, lấy mười quận Cửu Nguyên, Vân Trung, Nhạn Môn, Lũng Tây, Bắc Địa, Thượng Quận, Thượng Cốc, Ngư Dương, Liêu Tây, Liêu Đông làm các quận liên quan đến Trường Thành, lấy thái thú quận Cửu Nguyên đứng đầu cùng phối hợp với thái thú chín quận còn lại, thỏa đáng an trí và ủy lạo những dân phu áo vải tử thương cùng gia đình họ trong quá trình xây dựng Trường Thành.

Ngoài năm đạo lệnh ấy ra, Mông Điềm lại phác thảo trước hai đạo tấu chương, một đạo là chiêu mộ mười vạn quân sĩ thủ biên ở các quận phương bắc, làm nền tảng dự bị cho Trường Thành; một đạo là thỉnh cầu hoàng đế ban chiếu cho các quận huyện trong thiên hạ, đình chỉ việc trưng thu lao dịch và thỏa đáng an trí những dân phu trở về quê quán. Theo lệ thường, hai đạo tấu chương này Mông Điềm phải cử đặc sứ phi ngựa gửi gấp về Hàm Dương, để hoàng đế sớm ngày quyết định. Bao nhiêu năm nay, đây vẫn luôn là phong cách chính trị hăng hái nhanh nhọn của nước Tần, dù là quân hay thần, chẳng ai trì hoãn chính sự cả. Thế nhưng, lần này Mông Điềm lại hành động ngược lại, chẳng những không lập tức gửi tấu chương đi, mà còn ban hành đại tướng quân lệnh rầm rộ động trời động đất, thậm chí có những lệnh không hoàn toàn hợp với pháp độ. Mông Điềm chỉ có một mục đích duy nhất: tạo động tĩnh lớn ở Cửu Nguyên để triều dã đều hay biết, ép Hàm Dương ban chiếu triệu kiến Phù Tô và Mông Điềm. Nếu tạo ra động tĩnh lớn như thế mà Hàm Dương vẫn dửng dưng không chút động tĩnh, thì chắc chắn trong triều có biến và hoàng đế đã có điểm bất thường, khi đó Mông Điềm buộc phải cưỡng chế tiến vào quốc gia...

Đúng lúc ấy, đặc sứ của hoàng đế đã đến Cửu Nguyên.

"Đặc sứ là người phương nào?" Vừa nghe tin thám tử phi báo, Mông Điềm liền cất lời hỏi tên họ đặc sứ.

"Đặc sứ Diêm Nhạc, nghi vệ không sai chút nào!"

"Diêm Nhạc? Là kẻ phương nào?"

"Hạ thần không biết!"

Mông Điềm trầm mặc. Theo lệ thường, các đặc sứ phái đến Cửu Nguyên xưa nay đều là những đại thần trọng thần, ngoài việc hoàng đế thân lâm, thì phần lớn là Lý Tự, Mông Nghị, Phùng Kiếp... còn cái tên Diêm Nhạc này lại là kẻ phương nào? Với sự quen thuộc của Mông Điềm đối với các đại thần trong triều, dù thế nào cũng không thể nghĩ ra một vị đại thần đủ tư cách làm đặc sứ như vậy rốt cuộc giữ chức quan gì, chẳng phải là chuyện vô cùng kỳ lạ hay sao? Thoáng chốc, Mông Điềm vô cùng nghi hoặc, mang theo một đội kỵ mã năm trăm người phi như bay nghênh đón ra tận ngoài cửa ải. Nhìn thấy một đội cờ xí nghi vệ rầm rộ uốn lượn đi tới, Mông Điềm không hề xuống ngựa, cũng không cất lời, năm trăm kỵ mã xếp thành một phương trận uy nghiêm chắn ngang cửa đường.

"Công xa Tư mã lệnh kiêm lĩnh Hoàng mệnh đặc sứ Diêm Nhạc, bái kiến Cửu Nguyên hầu Đại tướng quân Mông công——!"

Một người đứng phắt dậy trên chiếc xe ngựa phía trước, dõng dạc xướng thật dài danh hiệu của bản thân, dõng dạc đọc lên tước vị quân chức cùng tôn xưng thiên hạ của Mông Điềm, không thể coi là không kính trọng, không thể coi là không hợp lễ. Mông Điềm, kẻ vốn quen thuộc với nghi lễ hoàng thành và nghi vệ hoàng thất, chỉ liếc mắt qua là biết quân mã nghi vệ tuyệt đối không phải giả mạo. Thế nhưng, Mông Điềm vẫn không xuống ngựa, đối phương xướng hiệu bái kiến xong ông cũng vẫn không nói năng gì. Gần bằng khoảng thời gian dùng một bữa cơm, đôi bên cứ lạnh lùng giằng co, đối phương có chút lúng túng tay chân, thế nhưng đội kỵ mã Cửu Nguyên vẫn một mực im lặng uy nghiêm.

"Hạ thần Diêm Nhạc dám hỏi đại tướng quân, làm như vậy là ý gì?"

"Diêm Nhạc, ngươi nhậm chức Công xa Tư mã lệnh từ bao giờ thế①?" Mông Điềm cuối cùng cũng nghiêm nghị cất tiếng.

"Nhậm chức cách đây chục ngày. Đại tướng quân chẳng lẽ muốn khám nghiệm ấn tín sao?" Đối phương không kiêu ngạo cũng không tự ti.

"Mời đặc sứ vào thành." Mông Điềm lạnh lùng thốt ra một câu.

Đội kỵ mã rẽ ra một lối đi nhỏ, xe ngựa nghi vệ rầm rộ đi qua. Đội kỵ mã của Mông Điềm không hề đi trước dọn đường, cũng không có người theo sau hộ tống, mà phóng ngựa như bay theo một con đường núi khác vào trong thành. Mông Điềm vừa vào thành ngồi vững trong mạc phủ, Tư mã quân vụ liền bẩm báo rằng đặc sứ xin yết kiến. Mông Điềm nhạt giọng phân phó: "Trước cứ bảo hắn ở lại quán dịch, nói rằng đợi công tử tỉnh rượu rồi lão phu cùng công tử sẽ đồng hội phụng chiếu." Tư mã quân vụ vừa đi, Mông Điềm liền triệu Vương Ly đến bàn bạc mật, rồi cùng nhau chạy đến giám quân hành doanh.

Phù Tô tuy đã tỉnh lại được ba năm ngày, nhưng cảm giác chóng mặt dường như vẫn chưa tan biến, ánh mắt thẫn thờ mờ mịt, dáng điệu bồng bềnh không định hướng, thường xuyên bất thình lình cất tiếng cười lớn sảng khoái, đều khiến Mông Điềm cau mày ngán ngẩm. Ngày nào Mông Điềm cũng đến thăm hỏi hai ba lần, thế nhưng mỗi lần cất lời bàn đến chính sự, Phù Tô lại cười ha hả không đâu vào đâu: "Mông công ơi Mông công, cái gì cũng không tốt, thảo nguyên là tốt nhất! Rượu cũ là tốt nhất! Lòng say sưa say rượu cất cao ca khúc——!" Tiếng cười trong trẻo thuần khiết đan xen với hai hốc mắt đẫm lệ lấp lánh, Mông Điềm thật sự không đành lòng chứng kiến thêm, mỗi lần đều thở dài thật dài rồi lặng thinh không nói. Hôm nay thì khác, Mông Điềm dẫn theo Vương Ly, kiên quyết phải khiến Phù Tô hoàn toàn thoát khỏi sự mơ hồ ảo giác để tỉnh ngộ, nhận thức lại và xốc lại tinh thần.

"Trưởng công tử! Đặc sứ của hoàng thượng đã đến!" Vừa bước vào chính sảnh, Vương Ly đã cao giọng bẩm báo tin tức.

"Đặc sứ... Đặc sứ..." Phù Tô đờ đẫn nhìn ra thảo nguyên ngoài cửa sổ, ngẩn ngơ lầm bầm những từ ngữ có vẻ quen thuộc.

"Hoàng thượng, phái người đến rồi! Phụ hoàng, phái người đến rồi!" Vương Ly nhấn mạnh từng chữ một.

"Phụ hoàng! Phụ hoàng đến rồi ư?" Phù Tô đột ngột quay phắt người lại, vẻ mặt đầy kinh ngạc mừng rỡ.

"Phụ hoàng phái người đến rồi! Đặc sứ! Chiếu thư!" Vương Ly vừa khua tay múa chân vừa la hét.

"Biết rồi. Làm ồn quá đấy."

Phù Tô rõ ràng đã bị đánh thức ký ức quen thuộc, vẻ mặt vui sướng đang say đắm sâu trong tâm khảm bỗng chốc tan biến, trên khuôn mặt lại hiện lên vẻ mệt mỏi và u uất mà Mông Điềm quen thuộc, chàng chán nản ngồi thụp xuống trước bàn không nói năng gì. Mông Điềm bước đến nghiêm trang vái chào một cái: "Trưởng công tử, họa phúc cát hung của quốc gia đều quyết định ngay trước mắt, cúi xin công tử tỉnh táo xốc lại tinh thần để nói chuyện." Phù Tô chợt giật mình thon thót, phắt đứng dậy nói: "Mông công đợi một lát." Rồi sải bước đi thẳng ra hậu sảnh. Khoảng chừng thời gian ăn một bữa cơm, Phù Tô vội vã bước ra, mái tóc dài ướt sũng xõa tung trên vai, một chiếc áo lụa rộng rãi sạch sẽ đã thay thế cho chiếc áo đẫm mồ hôi nồng nặc mùi rượu; Phù Tô sau khi tắm nước lạnh trở nên tươi mát lạnh lùng, hoàn toàn quét sạch vẻ bồng bềnh chóng mặt mơ hồ đờ đẫn lúc trước.

"Cúi xin Mông công chỉ giáo." Phù Tô cúi sâu vái Mông Điềm một cái, nghiêm trang ngồi xuống chiếc bàn đối diện.

"Trưởng công tử, vị đặc sứ này có lai lịch kỳ quái, lão phu vô cùng lo lắng."

"Dám hỏi Mông công, thế nào là lai lịch kỳ quái của đặc sứ?"

"Công tử phải biết rằng: Cái gọi là Công xa Tư mã lệnh này, vốn là chức vụ trọng yếu dưới quyền Vệ úy, lại càng là chức vụ then chốt nơi hoàng thành, xưa nay đều do các võ tướng công huân tuyển bạt nhậm chức. Vệ úy Dương Đoan Hòa do đại tướng quân đội Tần chuyển sang, các chức vụ trọng yếu dưới quyền đều do các đại thần quân lính thay thế. Trước khi hoàng đế đại tuần thú, Công xa Tư mã lệnh vẫn là quân lệnh sử trong mạc phủ của Vương Bôn năm xưa. Người ấy đang độ tuổi tráng niên, làm thế nào mà sau chuyến đại tuần thú lại đột nhiên bị bãi chức? Bệ hạ dùng người, nếu không có đại tội thì tuyệt đối không có lý do đột ngột bãi chức, còn nếu những chức vụ trọng yếu như thế này phạm pháp chịu tội, sao chúng ta lại không hề hay biết? Cái tên Diêm Nhạc hôm nay, người người chưa từng nghe thấy bao giờ, há chẳng phải là kỳ lạ lắm sao!"

"Theo ý kiến của Mông công, đặc sứ như vậy có liên quan gì đến chuyện này?" Trán Phù Tô rịn ra một lớp mồ hôi mịn.

"Mối liên quan về nhân sự, nhất thời khó mà tra cứu." Sắc mặt Mông Điềm vô cùng nặng nề, "Điều quan trọng lúc này, chính là đạo chiếu thư này. Lão thần phỏng đoán, nhân sự hoàng thành đã có biến động lớn như vậy, hoàng đế ắt có điểm bất thường... Lão thần hôm nay nói thẳng: Hùng chủ từng có nguy cơ bất trắc, Tề Hoàn công Giang Tiểu Bạch hùng võ một đời, nào biết buổi chiều tà lâm nguy lại có họa của Dịch Nha, Thụ Điêu!..."

"Vô lý hết sức! Phụ hoàng không phải Tề Hoàn công! Không phải!" Phù Tô đột ngột đập bàn gầm lên giận dữ.

"Lão thần chỉ mong ngài không phải." Ánh mắt Mông Điềm lạnh lùng đến đáng sợ.

"Ý của Mông công là nên thế nào?" Phù Tô bình tĩnh lại, áy náy chắp tay vái chào.

"Lão thần cùng Vương Ly bàn bạc được một kế sách, chỉ đành chờ công tử quyết định."

"Vương Ly, ngươi cứ nói đi." Phù Tô mệt mỏi tựa lưng vào giá sách phía sau.

"Công tử ngài xem," Vương Ly trải một tấm bản đồ da cừu lên trước mặt Phù Tô, "Các nơi thám thính được: Hành doanh của hoàng đế hiện nay vẫn ở cung Cam Tuyền, hơn nữa Tam công Cửu khanh đều đã được triệu tập đến cung Cam Tuyền, toàn bộ núi Cam Tuyền phòng thủ nghiêm ngặt, xe cộ người qua lại chỉ cho vào không cho ra. Nhìn từ điểm này, triều cục ắt có biến động bất thường! Kế sách của Mông công và mạt tướng là: Lập tức bí mật câu lưu đặc sứ, do mạt tướng dẫn năm vạn quân, bí mật thọc sâu vào thung lũng sông Kinh, tiến vào cửa ải trọng yếu Trung Sơn, cắt đứt con đường từ cung Cam Tuyền đi về phía nam; sau đó Mông công thống soái năm vạn thiết kỵ phi nước đại về phía nam, bao vây cung Cam Tuyền, xin yết kiến hoàng đế bệ hạ trực tiếp tâu bày quốc sự; nếu có bất thường, Mông công sẽ dẹp yên quốc gia chỉnh đốn loạn cục, phò tá công tử lên ngôi!..."

"Nếu, không có bất thường, thì lại phải thế nào?" Sắc mặt Phù Tô trầm xuống.

"Nếu không có bất thường," Vương Ly trầm ngâm một lúc, cuối cùng cũng nói ra, "Mông công và mạt tướng xin tự chịu tội..."

"Vô lý hết sức! Vì để ta lên ngôi mà nhà họ Vương nhà họ Mông đều bị chu di tam tộc hay sao!" Phù Tô liên tiếp đập bàn tức giận ra mặt.

"Công tử, điều quan trọng trong chuyện này, nằm ở chỗ triều cục Tết ắt có điểm bất thường, vốn dĩ đã bất thường rồi." Mông Điềm gõ gõ lên mặt bàn.

"Cái gọi là xin tội, vốn dĩ chỉ là vạn bất đắc dĩ..." Vương Ly cẩn thận giải thích thêm.

"Vạn bất đắc dĩ? Mười vạn vạn lần cũng không thể được!" Cơn thịnh nộ của Phù Tô hiếm thấy có người bì kịp.

"Nếu chiếu thư có điều bất thường, lẽ nào công tử khoanh tay chờ chết sao!" Mông Điềm nước mắt già giàn giụa.

"Mông công..." Phù Tô cũng nghẹn ngào, "Chính kiến của Phù Tô và phụ hoàng vốn có điểm bất đồng, đã khiến chính pháp nhà Tần bị thiên hạ nghi ngờ, đã khiến phụ hoàng chịu đựng biết bao giày vò... Vào thời điểm này, phụ hoàng mang bệnh đi tuần thú thiên hạ, trấn áp sự phục bích, dẫu cho có lúc nén giận quên đi ta, Phù Tô sao có thể cầm binh đối đầu cho được!...... Mông công và phụ hoàng quen biết từ thuở thiếu niên, dầm sương dãi nắng mấy chục năm, sao có thể vì Phù Tô mà đối địch đao binh với phụ hoàng cho đành!...... Dòng họ nhà Vương, hai đời danh tướng, dốc sức ngựa suốt một đời, chưa hưởng vinh hoa đã phải mệt mỏi ra đi, chỉ để lại mình Vương Ly tập tước vào quân ngũ, sao có thể vì sự tiến thối của Phù Tô mà tiêu diệt hậu duệ công thần chứ!...... Mông công Mông công, Vương Ly Vương Ly, đừng nhắc lại nữa! Đừng nhắc lại nữa!..." Phù Tô đau đớn thấu tận tâm can, phục xuống bàn buông tiếng khóc rống lên. Vương Ly trẻ tuổi tay chân luống cuống, ôm lấy Phù Tô khóc thành một cục.

Mông Điềm thở dài thườn thượt, lủi thủi bước đi.

Sáng sớm hôm sau, Phù Tô chỉnh tề y quan bước vào mạc phủ của Đại tướng quân. Mông Điềm mệt mỏi u uất lần đầu tiên không rời giường lúc gà gáy, vẫn đang chìm trong giấc ngủ say. Tư mã hộ vệ nói rằng, đại tướng quân đêm qua một mình uống rượu, say đến mức bất tỉnh nhân sự, lúc được khiêng lên giường vẫn còn hơi sốt nhẹ. Phù Tô vô cùng bất an, lập tức triệu vị thái y duy nhất trong mạc phủ Cửu Nguyên đến khám cho Mông Điềm. Thế nhưng, ngay lúc thái y bước vào phòng ngủ của mạc phủ, Mông Điềm lại tỉnh giấc. Mông Điềm không hỏi mục đích đến của Phù Tô, sau khi rửa mặt chải đầu qua loa liền xách roi ngựa bước ra, gật đầu với Phù Tô một cái rồi đi thẳng ra khỏi mạc phủ. Phù Tô có chút lúng túng, nhưng lại chẳng biết nói gì, chỉ ra hiệu bằng mắt với tư mã hộ vệ rồi bước theo sau Mông Điềm ra khỏi mạc phủ. Thế nhưng, khi tư mã hộ vệ mang giường quân cùng mấy tên lính tới định khiêng Mông Điềm đi, vị đại tướng quân vốn xưa nay đối xử với binh lính như anh em ruột thịt ấy lại bỗng nhiên nổi trận lôi đình, một cước đá văng chiếc giường quân, một roi quật ngã tư mã, gầm lên một tiếng: "Lão phu sống không sợ chết! Sợ gì một trận rượu!" Vứt lại đám binh lính đang thẫn thờ thở dài, ông sải bước rầm rầm đi thẳng ra ngoài.

Khi lệnh sứ quán nghênh đón Phù Tô và Mông Điềm vào, đặc sứ Diêm Nhạc đã ngẩn người ra một hồi lâu.

Sự coi thường và lạnh nhạt của Mông Điềm ngày hôm qua đã khiến Diêm Nhạc cảm thấy có điềm chẳng lành. Trong đám quân dữ tợn như hổ sói này, Mông Điềm giết hắn quả thực dễ như bóp chết một con kiến. Diêm Nhạc không dám hành động thiếu suy nghĩ, vừa không dám quang minh chính đại chạy đến giám quân hành doanh hoặc mạc phủ Đại tướng quân để tuyên đọc chiếu thư, lại vừa không dám đem tình hình ở đây mật báo về cung Cam Tuyền. Dẫu sao thì Cửu Nguyên không có dấu hiệu phản nghịch rõ ràng, bản thân hắn cũng chưa công bố chiếu thư, phản ứng chính xác của Mông Điềm và Phù Tô vẫn chưa rõ ràng, mật báo về chỉ cho thấy bản thân mình bất tài mà thôi. Mà nhiệm vụ trọng đại lần này, lại chính là bậc thang tốt nhất để bản thân lập công thăng tiến, tuyệt đối không thể làm hỏng việc một cách dễ dàng. Suy đi tính lại, Diêm Nhạc quyết định án binh bất động, trước cứ quan sát tình hình rồi tính tiếp; Phù Tô và Mông Điềm đều là những vị đại thần chính trực có uy tín lâu năm trong thiên hạ, nghĩ rằng chắc cũng không đến nỗi nổi phản loạn tru sát đặc sứ một cách dễ dàng.

Nhiều năm về trước, Diêm Nhạc vốn dĩ là một thiếu niên chợ búa ở Hàm Đan nước Triệu, cha hắn mở một quán rượu, rất quen thuộc với mấy thương nhân nước Tần hay đến uống rượu. Trước cuộc đại chiến Tần diệt Triệu, cha của Diêm Nhạc được thương nhân nước Tần khuyên nhủ, cả nhà bí mật trốn sang nước Tần, mở lại một quán rượu nước Triệu ở Hàm Dương. Sau đó, nhờ sự giới thiệu quan hệ của người gốc Triệu cũ ở Tần, cha Diêm Nhạc quen biết Triệu Cao, kẻ vốn cũng là người gốc Triệu. Kể từ đó, Diêm Nhạc lanh lợi tinh tráng đã lọt vào tầm ngắm của Triệu Cao. Ba năm năm sau, Triệu Cao giới thiệu Diêm Nhạc vào thử việc ở thự Vệ úy hoàng thành làm một thị vệ tuần đêm. Sau khi Triệu Cao trở thành thầy của tiểu hoàng tử Hồ Hải, Diêm Nhạc lại may mắn trở thành xá nhân của tiểu hoàng tử. Ngoài việc lo liệu mọi việc vặt, chức trách bí mật duy nhất mà Triệu Cao giao cho Diêm Nhạc là: thăm dò mọi động tĩnh của tất cả các hoàng tử công chúa, đặc biệt là khả năng qua lại với hoàng đế. Diêm Nhạc làm việc này không chê vào đâu được, phục vụ Hồ Hải vô cùng chu đáo suôn sẻ, khiến Triệu Cao vô cùng vừa ý. Hoàng đế đại tuần thú, Hồ Hải đi theo hầu, nhưng Diêm Nhạc lại ở lại Hàm Dương, canh giữ phủ đệ của tiểu hoàng tử, lo liệu muôn vàn việc vặt, đồng thời cũng thăm dò vô số tin tức. Khi hành doanh của hoàng đế vẫn đang trên đường đi về phía nam qua đường thẳng, Diêm Nhạc đã được hệ thống nội thị của Triệu Cao bí mật đưa vào cung Cam Tuyền chờ đợi. Chính nhờ có nền tảng tin tức của Diêm Nhạc, Triệu Cao mới nắm rất rõ đại thế ở Hàm Dương, nói với Hồ Hải rằng: "Công khanh Hàm Dương không có đại sự, Mông Nghị Lý Tín không có điểm bất thường, không cản trở mưu đồ của ta." Sau biến cố cung Cam Tuyền, Diêm Nhạc chỉ sau một đêm đã trở thành thái tử xá nhân, ngạc nhiên mừng rỡ đến mức chính bản thân hắn cũng không dám tin nổi. Diêm Nhạc nằm mơ cũng không ngờ rằng, niềm vui bất ngờ lớn hơn vẫn còn ở phía sau.

Đêm hôm đó, Triệu Cao cùng Hồ Hải gọi Diêm Nhạc tới. Vừa ngồi xuống, Triệu Cao sầm mặt hỏi thẳng câu đầu tiên: "Diêm Nhạc, có muốn lập công lập nghiệp không?" Diêm Nhạc lập tức chắp tay cao giọng đáp: "Nguyện vì thái tử, ân công hiệu lực chăn khuy khuyển mã!" Triệu Cao lại hỏi câu thứ hai: "Nếu có nguy cơ mất mạng, con sẽ thế nào?" Diêm Nhạc dõng dạc cao giọng: "Dẫu muôn chết cũng không từ!" Triệu Cao gật đầu, bèn kể lại sứ mệnh mang thân phận đặc sứ hoàng đế đi sứ Cửu Nguyên. Diêm Nhạc nằm mơ cũng chưa từng nghĩ tới, hạng người chợ búa như mình lại có thể làm đặc sứ của hoàng đế, lại có thể chen chân vào hàng ngũ đại thần, hắn không chút do dự mà khái nhiên nhận lời. Thế nên, Hồ Hải lập tức lấy danh nghĩa thái tử giám quốc, tuyên bố sắc phong thăng chức Diêm Nhạc làm Công xa Tư mã lệnh, và với thân phận đặc sứ hoàng đế đi sứ Cửu Nguyên tuyên đọc chiếu thư của hoàng đế. Diêm Nhạc suốt từ đầu đến cuối không hề biết sống chết của hoàng đế ra sao, thế nhưng lại biết rất rõ bản thân nên hỏi điều gì và không nên hỏi điều gì, hắn vừa nước mắt rưng rưng nức nở tiếp nhận chiếu thư, thế nhưng suốt dọc đường không hề hỏi một câu về ý của hoàng đế, mà chỉ thỉnh giáo Triệu Cao mọi chi tiết có thể nghĩ tới. Triệu Cao tỉ mỉ kiên nhẫn giảng giải mọi đầu mối then chốt, câu quan trọng nhất đã khắc sâu vào tâm trí Diêm Nhạc: "Điểm cốt lõi của việc ban chiếu giục chiếu, chính là phải làm sao để Phù Tô và Mông Điềm nhất định phải chết!" Cuối cùng, Triệu Cao lộ ra nụ cười hiếm hoi: "Nếu con không phụ sứ mệnh, lão phu sẽ gả con Hồ Nhi cho con." Diêm Nhạc mừng rỡ khôn xiết, lập tức liên tục dập đầu bái kiến nhạc phụ, trán rớm máu cũng không dừng lại. Triệu Cao không ngăn cản hắn, thế nhưng bỗng nhiên sầm mặt lại bồi thêm một câu: "Nếu con không thành sự, lão phu cũng sẽ khiến cửu tộc của con cùng con xuống dưới đó ngắm cảnh phong quang."

Diêm Nhạc không hề kinh ngạc, chỉ liên tục gật đầu. Diêm Nhạc phỏng đoán Triệu Cao cực kỳ thấu đáo — tàn độc cực điểm nhưng lại bao che đồng bọn, chỉ cần không phản bội không làm hỏng việc, Triệu Cao sẽ mang lại cho những kẻ đi theo những mối lợi lớn không thể ngờ tới; ví như không tàn độc đến thế, thì khoảng chừng cũng chẳng phải là Triệu Cao rồi. Con bé Hồ Nhi đó, vốn dĩ là tiểu công tử của một tộc trưởng bộ tộc Hung Nô, tóc vàng mắt xanh mang một vẻ tình tứ khác lạ, thế nhưng kể từ khi bị đưa vào hoàng thành với thân phận tù binh, vẫn luôn chỉ là một thiếu niên lang thang vô công rỗi nghề. Vị hoàng đế vạn cơ bet nhât rất hiếm khi bước vào hậu cung nơi có các tầng lớp nữ nhân, con bé Hồ Nhi này cũng chưa từng gặp hoàng đế bao giờ. Sau đó, Triệu Cao, kẻ vừa quen thuộc vừa yêu mến người Hồ, đã bí mật nhận cô thiếu niên lang thang lang thang lang thang lang thang bơ vơ này làm nghĩa nữ; vào một thời điểm thích hợp, Triệu Cao lại thỉnh cầu hoàng đế, chính thức ban ơn gả cô gái người Hồ này làm con nuôi cho mình. Kể từ khi quen biết con bé Hồ Nhi này, Diêm Nhạc đã động tâm vô cùng, mấy lần muốn ngỏ lời cầu hôn với Triệu Cao nhưng không dám mở miệng, khiến cho hồn xiêu phách lạc không thể an yên. Nếu việc đặc sứ làm thành công, vừa trở thành đại thần, lại vừa có được người đẹp, cớ sao mà không làm chứ! Nếu bản thân không làm thành sự mà phải chết, thì coi như mạng ta đáng phải thế này; cơ hội trời cho như thế này, mà mày Diêm Nhạc còn không nắm lấy được trong tay, chẳng lẽ không đáng chết sao? Đây chính là tên du thủ du thực chợ búa Diêm Nhạc — đặt cược không tiếc thân gia tính mạng, trời muốn ta chết ta tự khắc nhận cuộc đời này cũng đáng giá rồi.

Kẻ vô lại thời Chiến Quốc, đại khái đều là như vậy cả...

---❊ ❖ ❊---

Chiếu theo lễ nghi tuyên chiếu cho hoàng tử và các đại thần cao cấp, Diêm Nhạc ôm chiếc hộp đồng cung kính nghênh đón bước ra khỏi chính sảnh. Phù Tô và Mông Điềm vừa bước vào sân viện, Diêm Nhạc lập tức cúi sâu thật sâu: "Giám quân hoàng trưởng tử và Đại tướng quân công cao lao khổ, hạ thần Diêm Nhạc, vô cùng ngưỡng mộ!" Diêm Nhạc ghi nhớ khắc cốt ghi tâm lời Triệu Cao dặn: Chiếu theo pháp độ, đặc sứ không biết nội dung chiếu thư, trước khi tuyên chiếu lễ tiết phải kính cẩn. Phù Tô chắp tay nhạt giọng nói: "Đặc sứ tuyên chiếu đi." Diêm Nhạc chắp tay, cung kính đáp một tiếng vâng, rồi mở chiếc hộp đồng đặt trên chiếc bàn đã được tùy tùng sắp đặt sẵn, nâng niu chiếu thư lấy ra, cao giọng ngâm đọc:

"Trẫm tuần du thiên hạ, dẹp sự phục bích của sáu nước, trừng trị những kẻ kiêm hợp trái phép, nhọc nhằn việc nước để an định chính pháp nhà Tần. Nay Phù Tô cùng tướng quân Mông Điềm, đem hàng vạn binh sĩ đồn trú biên giới, đã hơn mười năm rồi! Không thể tiến lên phía trước, sĩ lính hao tổn nhiều, chẳng có chút công lao nào, trái lại còn liên tục dâng thư thẳng thắn, phỉ báng những việc trẫm làm. Phù Tô vì không thể bãi nhiệm để làm thái tử, ngày đêm oán hận. Phù Tô làm con không hiếu thảo, ban kiếm cho tự sát! Tướng quân Mông Điềm cùng Phù Tô ở ngoài biên ải, không chịu uốn nắn chính trực, há lại không biết mưu tính của nó bề tôi Mông Điềm bất trung, ban cho cái chết! Binh quyền, giao cho phó tướng Vương Ly. Thu năm Thủy Hoàng thứ ba mươi bảy."

Diêm Nhạc tuy từ đầu đến cuối không hề ngước mắt lên, giọng nói run rẩy như chiếc lá rụng trong gió, thế nhưng rõ ràng đã nhận ra sự bất thường trong bầu không khí của sân viện. Mấy tên tư mã và hộ vệ đi theo đều kinh ngạc đến mức không thốt nên lời, sắc mặt của công tử Phù Tô biến đổi kịch liệt, thoạt đầu là bối rối thẫn thờ, tiếp theo là hoảng sợ bất an, cuối cùng biến thành đau đớn khôn nguôi, gục ngã xuống đất buông tiếng khóc rống lên... Còn Mông Điềm với chòm râu và mái tóc bạc phơ thì vẫn luôn ngạc nhiên trầm tư, sắc mặt tái xanh đôi mắt ánh lên những tia sáng, trừng trừng nhìn thẳng vào Diêm Nhạc.

"Mông công, đây chính là chiếu thư bệ hạ thân phong..." Diêm Nhạc thoáng chốc cảm thấy chột dạ.

"Đặc sứ đại nhân, lão phu tai nặng nghe không rõ, phải tận mắt nhìn thấy chiếu thư cơ." Mông Điềm lạnh lùng thốt lên một câu.

"Vâng. Xin kính mời Mông công xem qua." Diêm Nhạc cung kính dâng hai tay dâng chiếu thư lên.

Mông Điềm tiếp lấy chiếu thư, ánh mắt vừa liếc qua sắc mặt bỗng chốc tái mét. Chiếu thư không thể là giả, nét chữ thủ bút của hoàng đế bệ hạ lại càng không thể là giả. Dẫu sao đi nữa, Mông Điềm quá đỗi quen thuộc với thói quen viết chữ của hoàng đế. Dù là vậy, Mông Điềm dẫu thế nào cũng không thể tin nổi đạo chiếu thư này là bản tâm của hoàng đế, trừ phi hoàng đế điên rồi, nếu không thì tuyệt đối không thể để trưởng công tử của mình cùng vị trọng thần rường cột của mình cùng nhau chịu chết, không thể, tuyệt đối không thể! Chiếu thư như thế này, tuyệt đối không thể dễ dàng nhận lấy, nhất định phải đi về phía nam Hàm Dương để yết kiến hoàng đế...

"Dám hỏi Mông công, có cao kiến gì chăng?" Diêm Nhạc không kiêu ngạo cũng không tự ti.

"Lão phu muốn cùng đặc sứ trở về kinh đô, yết kiến bệ hạ!" "Chiếu theo pháp độ, thỉnh cầu này của Mông công, hạ thần không dám tuân lệnh." "Diêm Nhạc, ngươi muốn làm loạn mệnh ở Cửu Nguyên ư, ngươi tự thấy mình gánh nổi không?" Mông Điềm cười lạnh một tiếng. "Hạ thần phụng chiếu hành sự, tuyệt đối không phải loạn mệnh."

"Hay cho hai chữ phụng chiếu." Sắc mặt Mông Điềm đầy vẻ sát khí, "Đã không có ý đồ làm càn, sao chân cẳng hạ sứ lại phải vội vã thế?"

"Mông công đã tự mình kiểm chứng chiếu thư, nói vậy có vẻ không thỏa đáng lắm." Diêm Nhạc thấy Phù Tô vẫn đang đau buồn khóc lóc thảm thiết, thực sự không đoán được nhân vật mấu chốt nhất này sẽ có phản ứng gì, nhất thời không dám ép Mông Điềm quá mức; dẫu sao đây cũng là vùng trọng binh Cửu Nguyên, Phù Tô lại càng là hoàng trưởng tử có uy vóc lừng lẫy, nếu Phù Tô cũng cứng rắn như Mông Điềm, muốn uy hiếp hắn đi về phía nam yết kiến hoàng đế để giãi bày tình hình, Diêm Nhạc e rằng có muốn chuồn cũng chẳng thoát nổi; đến lúc đó, Diêm Nhạc chắc chắn sẽ phải tự nhận mình xui xẻo, mọi giấc mơ đẹp đẽ đều nhất định tan thành mây khói...

"Mông công, không cần tranh cãi nữa." Lúc này, Phù Tô cuối cùng cũng đứng dậy lên tiếng.

"Trưởng công tử..." Diêm Nhạc nâng niu chiếu thư, nhưng không nói thêm gì nữa.

"Phù Tô xin phụng chiếu..." Phù Tô thẫn thờ đưa hai tay ra.

"Khoan đã!" Mông Điềm quát lớn một tiếng, bước tới một bước chắn ngang trước mặt Phù Tô.

"Mông công... Tâm can ta cạn khô rồi!..." Phù Tô nghẹn ngào.

"Công tử ngàn vạn lần đừng bi thương mê muội." Mông Điềm đỡ lấy Phù Tô, nghiêm trang chính sắc nói, "Công tử hãy nghe lão thần một lời, chớ có tự làm rối loạn phương tấc. Công tử hãy suy nghĩ xem: Hoàng đế bệ hạ là vị hùng chủ xưa nay chưa từng có, thấu triệt sâu sắc, biết người khéo dùng, đời này chưa từng ban ra một đạo lệnh làm rối loạn đất nước nào! Bệ hạ sai ngươi và ta dẫn ba mươi vạn đại quân bắc kích Hung Nô, xây dựng Vạn Lý Trường Thành, đây chính là trọng trách lớn nhất thiên hạ ngày nay! Bệ hạ nếu trong lòng còn hoài nghi, ngươi và ta há có thể nắm giữ trọng binh mười mấy năm trời hay sao! Chiếu thư nói ngươi và ta không có chút công lao nào, đó có thể là lời của bệ hạ sao? Lại còn một điều nữa, từ khi thiên hạ thống nhất, nhà Tần chưa từng bãi miễn một vị công thần nào, bệ hạ há lại vì chút lỗi lầm nhỏ nhặt mà tru sát hoàng trưởng tử vốn đáng lẽ phải được rèn giũa để làm trữ quân chứ? Há lại có thể tru sát một vị trọng thần công huân như lão phu chứ? Hôm nay một đạo chiếu thư, một vị sứ thần, còn chưa được diện kiến bệ hạ, sao biết trong đó không có biến cố bất thường nào xảy ra chứ!...... Công tử nên tỉnh táo xốc lại tinh thần, ngươi và ta phải diện kiến bệ hạ! Nếu bệ hạ tận mặt rõ ràng ban cho cái chết, lão phu có gì phải sợ! Công tử có gì phải sợ! Nếu bệ hạ vạn nhất... Cái chết của ngươi và ta, chẳng phải đẩy bệ hạ vào cảnh hôn quân sao!"

"Phụ hoàng tội trách ta, chẳng phải chỉ mới một ngày..." Phù Tô nghẹn ngào, do dự.

"Mông Điềm! Ngươi dám trái lệnh vua sao!" Diêm Nhạc nhìn thấy có chuyển cơ, lập tức cất giọng quát lớn.

Mông Điềm cười lớn một tiếng, chỉ tay cao giọng nói: "Đặc sứ đại nhân, công lao của lão phu, ít nhất cũng đủ bù đắp ba năm lần tội chết, xin yết kiến bệ hạ há dung ngươi đến ngăn cản? Người đâu! Phù tá Giám quân hoàng trưởng tử trở về hành doanh!" Đội ngũ tư mã vệ sĩ hô lên một tiếng vang như sấm dậy, lập tức như gió lốc vây quanh Phù Tô bước ra khỏi sân viện sứ quán. Mông Điềm quay người cười lạnh nói: "Lão phu xin thông báo trước cho đặc sứ đại nhân, dạo này Hung Nô thường xuyên có hành vi quấy rối cướp bóc, đặc sứ nếu phái tín sứ ra khỏi thành, bị người Hồ bắt mất để lộ cơ mật quốc gia của chúng ta, chớ trách quân pháp của lão phu vô tình!" Dứt lời, Mông Điềm sải những bước rầm rầm bỏ đi. Diêm Nhạc lau mồ hôi lạnh trên trán, thở dài một hơi thật dài, chán nản ngã ngồi xuống bậc thềm đá.

Mông Điềm và Phù Tô trở về mạc phủ, Phù Tô chỉ một mực đờ đẫn rơi nước mắt, đối với bất kỳ lời khuyên nào của Mông Điềm cũng không đưa ra ý kiến gì. Mông Điềm đành chịu, chỉ đành tự mình dẫn theo tư mã hộ vệ đưa Phù Tô trở về giám quân hành doanh. Mông Điềm sắp xếp vô cùng chu đáo: ở lại hành doanh vị thái y duy nhất, lại dặn dò tư mã hộ vệ vô số điều với giọng thấp, nghiêm lệnh bên cạnh trưởng công tử không được rời người, nếu trưởng công tử xảy ra tai nạn bất ngờ, tướng sĩ hộ vệ hành doanh sẽ bị xử lý theo quân pháp. Mọi sự sắp xếp đã hoàn tất, Mông Điềm mới lủi thủi bước đi.

Đêm hôm đó, Mông Điềm đi đi lại lại dưới bóng cây, không sao chợp mắt nổi.

Suy đi tính lại, Phù Tô dường như rất khó xốc lại tinh thần, việc muốn Phù Tô cùng ông đi về phía nam cũng có vẻ rất khó thực thi. Mà nếu Phù Tô cứ một mực bi thương mê muội, một mình Mông Điềm thì cô chưởng khó vỗ. Mông Nghị không có lấy nửa chữ tin tức, một đám tướng lĩnh đại thần cùng nếm mật nằm gai trong nước cũng không có lấy nửa chữ tin tức, thừa tướng Lý Tự có giao du thâm thiết cũng không có lấy nửa chữ tin tức; chính sự cả nước, dường như đột nhiên đem trọng trấn Cửu Nguyên chặn đứng ngoài những bức tường kiên cố, như vậy có bình thường không? Tuyệt đối không bình thường! Tình thế như thế chỉ có thể chứng minh một điều, chính trị triều đình Hàm Dương quả thực đã biến đổi, mà không phải là biến đổi nhỏ. Mà căn nguyên của sự biến đổi, chỉ nằm ở một nơi, đó chính là hoàng đế quả thực đã rơi vào tình trạng nguy kịch như Tề Hoàn công, đã hoàn toàn mất đi khả năng ban lệnh, bằng không, không ai có thể đảo điên càn khôn một cách quái đản như thế. Đối mặt với tình thế này, Mông Điềm suy đi tính lại, bản thân nắm giữ trọng binh, quyết định không thể để mặc đám kẻ nịnh thần này làm loạn triều chính quốc gia. Mông Điềm đem từng vị đại thần trong nước ra suy nghĩ lại một lượt, ai nấy đều là những vị công thần nguyên lão mang dòng máu sôi trào nhiệt huyết, không một ai có khả năng làm loạn đất nước; suy cho cùng, kẻ làm loạn đất nước ắt phải có mưu đồ, nếu những vị trọng thần này quả thực làm loạn đất nước, kết cục của họ chỉ có thể là thân bại danh liệt, lẽ nào các vị trọng thần lại không tính toán điều này sao? Mặc dù Mông Điềm nhất thời không thể khẳng định ai là tâm điểm của cục diện biến đổi lúc này, thế nhưng có một điều có vẻ vô cùng rõ ràng: ít nhất, hoàng đế bệ hạ dưới một số tác động ồn ào của một số thế lực nào đó, đã nhất thời nổi giận mất đi tâm trí. Vị Tần vương Doanh Chính năm xưa, chẳng phải cũng là vì quá mệt mỏi quá mức phiền muộn, bị các nguyên lão nhà Doanh Tần gào thét đưa ra đạo trục khách lệnh hoang đường đó sao? Vì chuyện của thái hậu mà liên lụy chém đầu hơn bảy mươi người, khiến thây của những kẻ can gián nằm ngang dọc đầy ba mươi sáu bậc thềm bạch ngọc ở đại điện, chẳng phải cũng là vì Tần vương quá u uất quá mức giận dữ hay sao? Lại nhớ đến hai đứa con tư sinh của thái hậu và Lao Ái bị đập chết năm xưa, vụ đại tàn sát ở Hàm Đan sau khi tiêu diệt nước Triệu, lần nào cũng là sự quyết định bất thường của hoàng đế trong lúc giận dữ mất trí. Nói cách khác, hoàng đế không thể nào không có lúc mất đi tâm trí, mặc dù rất hiếm, nhưng rốt cuộc không phải là không bao giờ có thể xảy ra. Mấy năm nay, những căn bệnh kín của hoàng đế liên tiếp tái phát, việc giận dữ mất trí cũng đã từng xảy ra vài lần, bao gồm cả lần đột ngột tát Phù Tô cái tát đó; theo lời Mông Nghị nói, đặc biệt là sau khi các phương sĩ trốn chạy, tình trạng bệnh tình của hoàng đế lại càng tái phát thất thường, thường xuyên phải cố nén ngọn lửa giận vô danh u uất trong lòng; trong hoàn cảnh này, hoàng đế quả thực cũng có khả năng nhất thời mất trí mà đưa ra đạo quyết định hoang đường đến mức ngay cả bản thân cũng không thể kiểm soát nổi. Phải, khả năng như thế này cũng là điều bắt buộc phải nghĩ tới...

"Tình thế hiện nay, lấy việc trước tiên dâng thư thỉnh cầu lại làm nhiệm vụ cấp bách, kế sách phía sau sẽ tính toán sau."

Cuối cùng, Mông Điềm cũng đã gỡ rối được mớ bòng bong trong tâm trí. Phù Tô đã bi thương mê muội, không thể trông cậy vào việc chàng làm chủ tâm cốt được nữa; ngược lại, phải lập tức bắt tay vào việc bảo toàn tính mạng cho Phù Tô; chỉ cần Phù Tô không chết, thì nhất định sẽ có thể tỉnh ngộ lại, mà chỉ cần Phù Tô tỉnh ngộ, thì đại cục nhất định có thể đảo ngược. Về điểm này, Mông Điềm vô cùng tin tưởng. Dẫu sao đi nữa, phẩm cách tài năng và uy vọng của Phù Tô, không có điểm nào là không phải là vị hùng kiệt trữ quân được trời đất ban cho nước Tần. Đã là như thế, thì phải lập tức dâng thư thỉnh cầu lại, trong quá trình dâng thư thỉnh cầu lại để chờ đợi chuyển cơ. Cái gọi là thỉnh cầu lại, chính là dựa trên đạo chiếu thư ban đầu để dâng thư biện hộ lần nữa, nhằm thỉnh cầu xử lý lại từ đầu. Tính khả thi của việc thỉnh cầu lại nằm ở chỗ đặc sứ không thể ngăn cản được, dẫu cho đặc sứ có ngăn cản, Mông Điềm cũng có thể cường hành làm tới; giống như đại thần hô to đao hạ lưu nhân ở pháp trường, rồi lập tức dâng thư thỉnh cầu xét xử lại từ đầu, mà quan hành hình thì không thể cường hành giết người vậy. Điểm mấu chốt của mưu kế này, nằm ở việc trấn áp đặc sứ Diêm Nhạc, khiến hắn không thể giục giã Phù Tô. Mà điểm này, Mông Điềm lại càng yên tâm hơn. Không cần Mông Điềm phải tự mình ra mặt, chỉ cần một vị kỵ sĩ nhiệt huyết nước Tần sẵn sàng xông pha, mang truyền thống xả thân bảo vệ thống soái, tuyệt đối sẽ không để cho Diêm Nhạc có sắc mặt tốt mà nhìn. Chỉ là Mông Điềm phải dặn đi dặn lại những vị kỵ sĩ này, không được vượt quá giới hạn. Trong lúc thỉnh cầu lại, vừa có thể đợi Phù Tô tỉnh ngộ, vừa có thể cùng Vương Ly bí mật bàn bạc các đối sách trọng đại tiếp theo. Nói cách khác, trước tiên thỉnh cầu lại để bảo vệ Phù Tô, rồi sau đó mới mưu tính đối sách ứng phó tiếp theo, không hổ là đối sách vẹn toàn ở thời điểm hiện tại.

Canh tư, Mông Điềm đạp lên sương thu lá rụng bước trở lại thư phòng.

Cầm bút lớn lên, tâm tư cuồn cuộn, nước mắt không kìm được của Mông Điềm vương vãi khắp trang giấy da cừu——

Thư thỉnh cầu lại chiếu mệnh

Lão thần Mông Điềm kính cẩn tâu lên bệ hạ: Vào ngày đại điển hợp long Trường Thành, bất ngờ gặp lúc đặc sứ mang chiếu thư đến Cửu Nguyên, ban cho lão thần cùng Giám quân hoàng trưởng tử Phù Tô tội chết tự sát. Hoàng trưởng tử bi thương mê muội, lão thần chẳng biết thế nào đành liều chết dâng thư thỉnh cầu lại: Thần từ thuở thiếu niên đi theo bệ hạ, hơn ba mươi năm dốc sức vì việc nước hiệu lực nơi chiến trường, sâu sắc chịu ơn tri ngộ của bệ hạ, giao phó cho thần ba mươi vạn trọng binh để xua đuổi tai họa Hung Nô, xây dựng Vạn Lý Trường Thành nhằm an định phương bắc. Bệ hạ từng sai hoàng trưởng tử lúc thiếu niên vào quân ngũ Cửu Nguyên, giao trọng trách đốc thúc cho lão thần, lại còn giao phó cả việc phía sau cho lão thần. Thần mỗi khi nghĩ đến điều đó, không lúc nào là không rưng rưng cảm hoài. Sao chỉ mới mấy năm, hoàng trưởng tử đang lúc hăng hái rèn giũa tài đức vẹn toàn, lão thần đang lúc chỉnh đốn vùng biên ải, bệ hạ lại trách mắng lão thần và hoàng trưởng tử không có chút công lao nào, không có công uốn nắn chính trực, ban cho lão thần và hoàng trưởng tử tội chết đây! Lão thần chết không có gì đáng tiếc, hoàng trưởng tử lại càng muốn phụng chiếu tự sát. Thế nhưng, lão thần vì mưu đồ lâu dài của tân chính nhà Tần, nên đã cường hành ngăn cản hoàng trưởng tử không cho chết, đồng thời kính cẩn thỉnh cầu bệ hạ lại: Phù Tô hoàng trưởng tử rất được lòng người trong thiên hạ, hoàn toàn xứng đáng gánh vác đại thống quốc gia, nay đột ngột ban cho cái chết, bệ hạ há chẳng nghĩ đến sự kế thừa đại nghiệp văn minh hay sao! Há chẳng nghĩ đến nạn giặc Hồ hoành hành ở biên giới hay sao! Lão thần nói thẳng, bệ hạ xưa nay minh sát soi thấu, thế nhưng cũng có lúc giận dữ sai lầm vạn phần, lỗi lầm về đạo trục khách lệnh năm xưa bệ hạ há quên rồi sao? Xin bệ hạ minh sát: Lão thần có thể chết, tướng quân của nhà Tần nhiều như sao trên trời; Phù Tô thì không thể chết, vị hùng chủ đời sau của nhà Tần chỉ có một mình người này mà thôi! Lão thần chỉ sợ bệ hạ bị kẻ gian mê hoặc, nhất thời mất xét xét để rồi ôm hận ngàn thu, cho nên đành liều chết thỉnh cầu lại, dám xin miễn tội chết cho Phù Tô, đồng thời minh bạch lập Phù Tô làm thái tử, để an định đại cục. Nếu bệ hạ quả thực minh sát chuẩn tus, lão thần có thể lập tức tự sát, chết cũng không có gì hối hận! Nếu bệ hạ trong lòng vẫn còn hoài nghi, xin bệ hạ triệu lão thần về Hàm Dương trực tiếp tâu bày, hoặc ban chiếu thư rõ ràng, lão thần xin thẳng thắn bộc bạch không giấu giếm.

Khi những cơn gió lớn trên thảo nguyên đưa tới từng hồi tiếng gà gáy, Mông Điềm đặt cây bút lớn xuống.

Vốn dĩ, Mông Điềm còn định viết một bức thư cho Lý Tự, xin Lý Tự tìm cách uốn nắn sự phán đoán sai lầm của hoàng đế bệ hạ, thế nhưng rốt cuộc vẫn không cầm bút lên. Trong số các đại thần triều đình, Mông Điềm và Vương Tiễn, Lý Tự có cội nguồn sâu xa nhất. Nhà họ Vương, nhà họ Mông, nhà họ Tự, vừa là ba nhân vật rường cột sớm đi theo Tần vương nhất, cũng là ba gia tộc công huân hiển hách nhất trong thời kỳ đế quốc. Dẫu nói Lý Tự vì nguyên nhân Lữ Bất Vi mà có nhiều thăng trầm, thời gian vào triều đình làm việc hơi muộn, thế nhưng nếu lấy việc Tần vương hỏi đáp làm điểm khởi đầu, thì không nghi ngờ gì nữa, đó chính là nhân tài miếu đường đã được Tần vương mưu định từ lâu. Mà dù là Vương Tiễn hay Lý Tự, đều là những người mà Mông Điềm hồi thiếu niên đã phát hiện và giới thiệu cho Tần vương thời niên thiếu. Sự tận tâm cất nhắc nhân tài của Mông Điềm, đã thay đổi hoàn toàn phong cách quân tử trung lập xưa nay không nhúng tay vào nhân sự của gia tộc họ Mông, khiến cho gia tộc họ Mông bất ngờ trở thành "keo cá chế cung" của tập đoàn tân chính Tần vương. Thế nhưng, tiếng tăm của nhà họ Mông ngày càng lớn mạnh, đồng thời cũng mang theo những nỗi niềm khó xử mà người thường khó lòng thấu hiểu.

Nỗi niềm khó xử này, lại vừa khéo xuất phát từ phía Lý Tự.

Trong ba gia tộc công huân của đế quốc, anh em họ Mông và cha con họ Vương vô cùng chân thành hài hòa, tình cảm sâu đậm cùng sự ăn ý vô thức của họ, gần như hòa quyện khít khao như nước với sữa. Vương Tiễn tuổi tác lớn hơn, đối với vua, đối với thần, đối với việc nước, đều có suy nghĩ tính toán uyển chuyển tiến thối, cho nên trong số các đại thần miếu đường nước Tần chủ yếu là những kẻ sĩ trẻ tuổi hăng hái, ông khá tỏ rõ phong cách từng trải thế sự. Thế nhưng, Mông Điềm kết giao với Vương Tiễn, từ đáy lòng luôn cảm thấy vững chãi. Bởi vì, bản chất của Vương Tiễn có một cội nguồn không thể thay đổi — đối với đại sự tuyệt đối không nhượng bộ. Nói cách khác, Vương Tiễn đối với những chuyện nhỏ nhặt không liên quan đến đại cục thì không thiếu những màn giao thiệp qua loa, thế nhưng đối với những đại sự liên quan đến vận mệnh quốc gia, với tư cách là một đại thần, Vương Tiễn lại là kẻ kiên quyết cứng rắn nhất. Điểm này, Vương Bôn thậm chí còn vượt qua cả cha mình. Các cuộc đại chiến tiêu diệt nước Triệu, diệt nước Yên năm xưa, Vương Tiễn đều từng có những quyết định khác biệt ở những vấn đề then chốt với quyết sách triều đình nước Tần lấy Tần vương làm trung tâm, mỗi lần như vậy Vương Tiễn đều kiên quyết không thay đổi; đại chiến tiêu diệt nước Sở lại càng như thế, Tần vương có thể không dùng lão thần, nhưng hễ đã dùng lão thần, thì phải để lão thần quyết định mọi việc. Vương Tiễn có thể chờ đợi, thế nhưng Vương Tiễn tuyệt đối sẽ không lùi bước. Đây chính là nguyên nhân căn bản khiến Mông Điềm kết giao với cha con nhà họ Vương mà trong lòng vô cùng vững chãi. Mông Điềm tin chắc rằng, nếu cha con Vương Tiễn Vương Bôn còn sống một người nào, câu đố về cung Cam Tuyền sẽ được hé lộ nhanh chóng, thậm chí căn bản sẽ không xảy ra. Đại ca Vương Tiễn, có lẽ sẽ vòng vo hơn một chút, có lẽ sẽ bình ổn hơn một chút, thế nhưng rốt cuộc sẽ không để mặc cho bọn nịnh thần làm hỏng việc nước. Còn nếu là anh em Vương Bôn, thì sẽ không mảy may do dự cường hành yết kiến, kẻ nào dám ngăn cản, thanh trường kiếm của Vương Bôn chắc chắn sẽ đâm thủng ngực kẻ đó. Ông trời ban tặng cha con họ Vương cho nước Tần, quả thực là một kỳ quan lớn. Trong số sáu nước bị tiêu diệt, Vương Tiễn đánh tất cả những trận lớn trận lâu dài, đem toàn bộ binh lực của quốc gia giằng co với nước địch năm này qua năm khác, hầu như không thể thiếu Vương Tiễn được. Còn Vương Bôn thì đánh tất cả những trận kỳ lạ, trận hiểm hóc, trận khó khăn nghi vấn, một lữ kỵ binh phi nước đại vạn dặm, mấy vạn quân lính phá nát như cành khô lá mục, mỗi trận đánh đều khiến người ta hoa mắt chóng mặt, chiến tranh sấm chớp hầu như không một ai có thể sánh ngang với Vương Bôn. Phong cách chiến đấu khác nhau, phong cách chính trị cũng khác nhau. Vương Tiễn đối với việc nước, có thể gọi là mưu lược lớn giỏi suy tính, rất ít khi quan tâm đến những chính vụ không liên quan đến tổng thể. Vương Bôn thì hoàn toàn ngược lại, chưa từng bao giờ hỏi han đại cục, cũng không mưu tính đại lược, chỉ đắm chìm trong việc xử lý thật nhanh gọn những chính sự được giao phó cho mình. Vương Bôn mang thân phận đại tướng quân mà có thể giữ chức Thái úy Tam công, không chỉ vì công huân, mà còn thấy rõ tài năng. Đương nhiên, nếu bàn về cội nguồn tài năng hay thậm chí là công lao, Mông Điềm làm Thái úy, có vẻ như phù hợp hơn Vương Bôn. Thế nhưng, Mông Điềm không hề mảy may đố kỵ với Vương Bôn, ngược lại còn vô cùng kính phục sự sáng suốt trong việc dùng người của hoàng đế. Nếu làm Thái úy, Mông Điềm há lại có được đại công nghiệp đẩy lùi Hung Nô ở phương bắc chứ!...... Giờ phút này, Mông Điềm nghĩ đến cha con nhà họ Vương, trong lòng lại dâng lên từng trận xốn xang nhói đau, quốc nạn trước mắt, không một ai có thể sánh vai kề cận, thật là điều vô cùng đau đớn! Ông trời sớm cướp đi cha con nhà họ Vương của nước Tần, chẳng lẽ quả thực có ý nghĩa rằng thiên hạ sắp sửa phải đối mặt với một kiếp nạn không thể cứu vãn hay sao?

Sự qua lại giữa Mông Điềm và Lý Tư vốn tồn tại một loại cách trở mơ hồ khó diễn tả.

So với Vương Tiễn, sự dung hòa của Lý Tư thiếu đi một tầng lực lượng sâu sắc. Trong ký ức của Mông Điềm, Lý Tư chưa từng kiên trì điều gì. Dù là đại sách trù mưu lớn, dù là chuyện triều chính, Lý Tư cho dù có nêu rõ chủ trương của mình, chỉ cần có đại thần phản đối đến cùng, Lý Tư đều có thể thay đổi. Đương nhiên, nếu Tần vương hoàng đế có ý kiến khác, thì Lý Tư nhất định sẽ mưu tính lại cho đến khi quân thần triều hội đồng tình mới thôi. Giao du với Lý Tư, bàn luận việc đời xưa nay vẫn luôn hòa hợp thuận suôn sẻ, nhưng trong lòng Mông Điềm lại luôn có một cảm giác trống rỗng mơ hồ không thể dò đến tận đáy. Mông Điềm quen biết Lý Tư và Hàn Phi cùng một lúc. Mông Điềm thích Hàn Phi cô ngạo lạnh lùng mà lại không thông sự lý hơn, dù có tranh cãi với Hàn Phi đến mức mặt đỏ tía tai thế nào đi nữa, Mông Điềm vẫn sẽ hừng hực khí thế ôm một vò rượu đến làm khó Hàn Phi lần nữa. Nguyên nhân căn bản chỉ có một chỗ, Hàn Phi bụng không thành phủ, lời nói lắp bắp chính là từng cụm ngọn lửa trong suốt!

Sau đó, khi Mông Điềm đọc mấy bài luận thuyết quyền mưu phân tích thuật phòng gian trong "Hàn Phi Tử", thiếu chút nữa kinh ngạc đến mức không nói nên lời —— có thể phân tích quyền thuật âm mưu thấu đáo nhường ấy, nhưng trong thực tế lại hoàn toàn mù tịt về quyền thuật âm mưu, sự kỳ lạ thần thánh của con người sao có thể nói hết được chứ! Dù là vậy, Mông Điềm vẫn thích Hàn Phi, mặc dù sau này hắn cũng đồng tình với việc giết Hàn Phi...

Hàn Phi và Lý Tư là hai loại người. Trong mắt Mông Điềm, sự bùng nổ chói lọi nhất trong sự nghiệp của Lý Tư chính là "Gián trục khách thư", một mình ra đi, không chút do dự trần tình những sai lầm trong chính trị nhà Tần, một cú lừa xoay chuyển tình thế nguy cấp sắp phá sản của tân chính nước Tần vừa mới chớm nở, có thể gọi là công lao xoay chuyển càn khôn. Cũng từ lúc đó, Lý Tư đặt nền móng cho thanh thế triều dã, đặc biệt là đặt nền móng cho thanh thế to lớn trong lòng những người Sơn Đông vào nước Tần. Phải nói rằng, đây là lần kiên trì duy nhất trong đời Lý Tư.

Thế nhưng, từ những việc làm sau đó của Lý Tư, Mông Điềm lại luôn ngửi thấy một thứ mùi vị khác lạ mơ hồ: "Gián trục khách thư" không phải là sự thể hiện bản tính kiên cường của Lý Tư, mà là tiếng kêu gào cuối cùng lúc tuyệt vọng. Trong việc sáng chế ra tân chính văn minh đế quốc, Lý Tư quả thực đã vẫy vùng tài năng chính trị một cách vô cùng sinh động, xứng đáng là thủ bút lớn của đại sách vĩ lược. Lý Tư lãnh chính, tất cả công lao của mưu lớn sách lược đều quy về hoàng đế, tất cả sai lầm đều quy cho thừa tướng phủ gánh chịu, duy trì cực tốt uy quyền thanh thế thần thánh của bệ hạ hoàng đế, ngươi có thể nói Lý Tư không có gánh vác sao?

Thế nhưng, Mông Điềm lại cảm nhận rõ ràng rằng, cảm giác mơ hồ của hắn đối với Lý Tư ấy, Vương Bôn cũng có. Đó là một lần hội thương quân sự, Mông Điềm nhắc đến chủ trương của Lý Tư trùng khớp với Tần vương, môi Vương Bôn chỉ bĩu một cái mà thôi. Vương Bôn không nói một câu nào, từ đó về sau cũng chưa từng nhắc tới Lý Tư trước mặt Mông Điềm. Dù vậy, chỉ bằng cái bĩu môi này, Mông Điềm đã cảm nhận rõ ràng tâm nguyện của Vương Bôn.

Càng về sau, cảm giác bất an này của Mông Điềm đối với Lý Tư lại càng trở nên rõ nét hơn. Trong cuộc đại luận chiến chấn nhiếp sự phục tích ở Sơn Đông, cơn giận dữ của hoàng đế đối với quý tộc sáu nước là điều hiển nhiên, Lý Tư liền lập tức đưa ra lệnh đốt sách "dĩ pháp vi giáo, dĩ lại vi sư", sau đó lại kiên quyết chủ trương chôn sống các nho sinh; khi ấy, Lý Tư rất lạnh nhạt với Phù Tô – người từ Hàm Dương trở về phò tá chính sự mà phản đối việc trấn áp phục tích quá khắt khe; Lý Tư thừa biết Mông Điềm vẫn luôn trầm mặc cũng có quan điểm giống Phù Tô, nhưng lại chưa từng bàn bạc bất kỳ điều gì với Mông Điềm...

Phàm là những điều này, Mông Điềm đều cảm thấy vô cùng khó hiểu. Với sự am hiểu của hắn về tính khí tài năng của Lý Tư, Lý Tư làm chính trị không nên có phong cách thiết huyết nghiêm khắc đến thế. Thế nhưng, Lý Tư lúc ấy lại cứng rắn đến vậy, cứng rắn đến mức ngay cả bệ hạ hoàng đế cũng chỉ có thể phê ba chữ "chế viết khả" lên lệnh đốt sách với quyết đoán khoan dung, chứ không phê bằng Mệnh lệnh bắt buộc phải thi hành là "chiếu viết hành". Lý Tư cứng rắn như thế, quả thực là một sự thay đổi đột ngột khó lòng tưởng tượng nổi, Mông Điềm khó mà phỏng đoán nguyên nhân trong đó, lại vì không muốn dính líu quá sâu đến Phù Tô nên không thể tìm Lý Tư bàn bạc thành khẩn, cái bóng đen này cứ thế mơ hồ tích tụ trong lòng... Không biết từ khi nào, việc qua lại giữa Mông Điềm và Lý Tư ngày càng ít đi. Thậm chí, việc qua lại giữa Mông Ân ở triều đình và Lý Tư cũng trở nên xa lánh thấy rõ. Trên thực tế, Mông Điềm tòng quân, Lý Tư tòng chính, đại sự đan xen lẫn nhau lại có Thái úy phủ, nhu cầu thực tế của việc hội thương đại chính quả thực không nhiều. Thế nhưng, đây tuyệt đối không phải là nguyên nhân căn bản của sự xa lánh.

Căn bản của sự xa cách lạnh nhạt nằm ở chỗ Lý Tư cố ý né tránh Phù Tô và anh em họ Mông, cũng nằm ở chỗ anh em họ Mông ít nhiều có sự coi thường đối với sự cố ý né tránh này. Mông Điềm vì thế mà cảm thấy rất khó chịu, nhưng nhất thời không tìm được cơ hội thích hợp để giãi bày cùng Lý Tư.

Trong những ngày tháng khó xử vẫn tiếp diễn này, Mông Điềm từ vài lời rời rạc của Mông Ân mà biết được: Trước chuyến tuần thú lớn của hoàng đế, tâm trạng của Lý Tư dường như rất nặng nề. Mông Ân phỏng đoán, nhất định là lúc lâm chung, Vương Bôn đã nói ra đánh giá của mình về Lý Tư với hoàng đế, mà hoàng đế chắc chắn đã bộc lộ đôi điều với Lý Tư. Mông Điềm tin lời Mông Ân nói về sự u uất nặng nề của Lý Tư, nhưng lại nghiêm khắc quở trách Mông Ân vì đã phỏng đoán hoàng đế. Mông Điềm kiên tin: Hoàng đế tuyệt đối sẽ không nghi kỵ Lý Tư, cho dù có chút không vui, cũng sẽ không bộc lộ những lời lẽ đủ khiến Lý Tư đột ngột cảm thấy áp lực. Đây không phải là hoàng đế thâm trầm, mà là hoàng đế có đại khí phách mà người thường không thể bì kịp. Quả nhiên là thế, sự u uất nặng nề của Lý Tư có thể bắt nguồn từ đâu chứ...

Mông Điềm không tốn thêm nhiều tâm sức cho việc này, cho dù suy nghĩ trăm bề, vẫn rối như tơ vò. Đây chính là Mông Điềm, đoán người thường đoán mặt tốt, đoán việc thường đoán bề khó, phàm là chuyện gì cũng coi nhẹ thành nặng, trù hoa luôn đặt sự ổn định lên hàng đầu. Chỉ vì thế, Mông Điềm không giỏi phòng gian, lại rất dễ biến chuyện đơn giản thành rắc rối phức tạp. Lúc này, suy nghĩ của Mông Điềm là kiêm cố các phía:

Thứ nhất, là không thể kéo Phù Tô cùng mình dâng sớ thỉnh cầu lại, mà phải tự mình đơn độc dâng sớ, để cơn giận của hoàng đế đối với Phù Tô không tiếp tục lan rộng;

Thứ hai, sớ thỉnh cầu lại của mình nhất định phải chủ yếu nói thay Phù Tô, chứ không phải biện hộ cho bản thân;

Thứ ba, trong thời gian mình dâng sớ thỉnh cầu lại, bắt buộc phải tìm cách bảo vệ Phù Tô không để xảy ra tai họa bất ngờ;

Thứ tư, vào thời khắc nguy nan này, tuyệt đối không thể liên lụy đến Mông Ân, cũng không thể liên lụy đến Lý Tư, không thể thông tin qua lại với hai người, càng không thể thỉnh cầu hai người phò tá; dù sao, bản thân mình có khả năng xúc phạm hoàng đế, cũng có khả năng phạm vào luật Tần, liên lụy đến Mông Ân Lý Tư thì bất lợi cho đất nước, đối với bản thân Mông Ân Lý Tư cũng bất lợi.

Vào khoảnh khắc rạng đông sương mù giá lạnh mịt mờ, đội mã kỵ binh đặc sứ của Cửu Nguyên Mạc phủ đã xuôi nam.

Sáng sớm giờ Mão, Mông Điềm đem bản sao "Phục thỉnh thư" giao đến viện đặc sứ của trạm dịch. Diêm Nhạc xem xong bản phục thỉnh thư, trầm ngâm hồi lâu mới sầm mặt nói: "Mông công muốn ta chuyển trình hoàng đế, bắt buộc phải có văn thư chính ấn."

Mông Điềm nhạt giọng đáp: "Dâng sớ thỉnh cầu lại, không phiền các hạ. Lão phu là muốn đặc sứ biết rằng, chuyến đi Cửu Nguyên này, các hạ sẽ phải ở lại thêm mấy ngày đấy."

Diêm Nhạc chợt hoảng hốt kêu lên: "Mông Điềm, ngươi dám câu lưu bổn sứ sao!"

Mông Điềm lạnh lùng nói: "Lão phu hiện tại không có hứng thú đó. Chỉ là các hạ nên tự mình suy xét lời nói hành động của bản thân." Nói xong liền sải bước bỏ đi.

Diêm Nhạc nhìn theo bóng lưng Mông Điềm, trong lòng chốc lát đập thình thịch. Diêm Nhạc lúc này đã hiểu rõ, sự việc này đã trở nên khó giải quyết rồi, điểm cốt lõi khó giải quyết chính là Mông Điềm. Lão Mông Điềm này nắm giữ trọng binh đã lâu, hắn không tuân chiếu thì ngươi thực sự chẳng có cách nào làm gì được hắn. Thế nhưng, việc này cũng có khả năng thành công. Khả năng này nằm ở hai điểm căn bản: Một là Mông Điềm vẫn tin bệ hạ hoàng đế còn sống, điểm này là then chốt nhất, bằng không mọi thứ đều sẽ thay đổi hoàn toàn khuôn mặt; Hai là Phù Tô kém xa sự cứng rắn của Mông Điềm, nếu Phù Tô cũng cứng rắn như Mông Điềm, chỉ sợ cục diện cũng sẽ đổi thay hoàn toàn. Có hai điểm nền tảng này, đại sự vẫn có thể làm được, Diêm Nhạc vẫn đáng để tiếp tục tiến lên một bước.

"Bẩm báo đặc sứ, hành văn của giám quân không có điểm bất thường, Phù Tô vẫn ngủ say chưa tỉnh."

Đúng lúc này, lại viên tùy giám do Diêm Nhạc phái đi đã quay về bẩm báo tin tức. Kẻ gọi là lại viên tùy giám, chính là quan lại đi theo "tội thần" để đôn đốc việc thực thi chiếu thư. Theo truyền thống pháp chính nước Tần: Hễ quân vương phái đặc sứ xuống chiếu, đặc sứ có quyền đôn đốc chiếu thư được thực thi ngay lập tức; nếu là chiếu thư trị tội, thì đặc sứ bắt buộc phải đích thân giám sát để xử trí theo hình phạt của chiếu thư, sau khi sự việc hoàn tất sẽ dâng biểu bẩm báo toàn bộ tình hình. Chiếu theo truyền thống pháp chính này, Diêm Nhạc đến đây với tư cách đặc sứ, tự có quyền đôn đốc hình phạt. Thế nhưng tình thế đã thay đổi, "tội thần" không phụng chiếu mà lại muốn dâng sớ thỉnh cầu lại để chờ ban lại chiếu thư khác, đặc sứ liền có quyền tự mình hoặc phái người đi theo vào công thự của "tội thần" để giám sát hành tích của họ, đây gọi là tùy giám. Mông Điềm, Phù Tô là những nhân vật nào, uy thế hiển hách, giáp sĩ lớp lớp, Diêm Nhạc vô cùng sợ hãi không lo nổi thân mình, đương nhiên sẽ không tự mình đi theo giám sát hai phủ; cho nên, chỉ mỗi bên phái hai văn lại tùy hành đi theo giám sát hai phủ. Việc tùy giám theo đúng pháp luật bình thường như vậy, Mông Điềm và Phù Tô tự nhiên không thể cự tuyệt. Người đến bẩm báo với Diêm Nhạc vào sáng sớm, chính là một lại viên tùy giám tại giám quân hành văn.

Lại viên nói, giám quân hành văn canh phòng nghiêm ngặt, hai lại viên tùy giám chỉ có thể một người ở ngoài một người ở trong; người ở bên ngoài ở trong viện cửa doanh, chỉ có thể quanh quẩn giữa hai lớp giáp sĩ; người đi vào nội thất thì chỉ có thể bị kẹp giữa bốn tên giáp sĩ đứng canh ngoài phòng ngủ của Phù Tô; bên trong phòng ngủ, chỉ có hai kiếm sĩ mặc thường phục, một tên gia bộc hầu cận và một vị lão thái y. Lại viên nói, cho đến tận canh tư, trong phòng ngủ của Phù Tô vẫn có tiếng khóc mờ ảo, đến gần sáng thì tiếng khóc liền dứt; sau đó lão thái y vội vã đi ra một lát, rồi lại vội vã đi vào, lúc đi ra hai tay trống không, lúc đi vào thì ôm theo một bói thảo dược; còn đến sáng sớm, phòng ngủ của Phù Tô vẫn không có động tĩnh gì.

"Sáng sớm nay, Mông Điềm không đến giám quân hành văn sao?" Ánh mắt Diêm Nhạc lóe lên.

"Không có. Tại hạ phỏng đoán: Động tĩnh trong hành văn, tư mã sẽ kịp thời bẩm báo cho Mông Điềm."

"Phù Tô có dùng bữa sáng không?"

"Không có. Tại hạ phỏng đoán: Tròn một ngày một đêm, Phù Tô chưa hề dính một giọt nước hạt cơm."

"Tốt! Ngươi đi theo ta." Diêm Nhạc vẫy tay, dẫn lại viên tùy giám đó vào mật thất của đặc sứ.

Chốc lát sau, lại viên tùy giám dẫn theo một lão lại tóc tai hoa râm vội vã rời khỏi trạm dịch, đi đến giám quân hành văn. Mưu tính của Diêm Nhạc là: Đối với Mông Điềm thì không có cách nào đành chịu, dứt khoát tỏ ra yếu thế buông tay, để biểu thị sự kính trọng đối với đại thần có công, làm như vậy có lẽ có thể khiến Mông Điềm lơi lỏng mà không đến gây sự với đặc sứ; còn đối với Phù Tô, thì phải tấn công lúc hắn đang mê muội, tuyệt đối không được buông lỏng.

Lại viên tùy giám của giám quân hành văn vừa đi khỏi, lại viên tùy giám của đại tướng quân mạc phủ liền quay về bẩm báo. Lại viên tùy giám của mạc phủ nói, đại tướng quân mạc phủ coi như giữ lễ ngộ, hai người bọn họ chỉ có thể ngồi đợi ở chính sảnh, Mông Điềm hoặc quanh quẩn ở sân viện, hoặc bận rộn trong thư phòng, hai người bọn họ hoàn toàn không được đi theo không được đến gần, một đêm trôi qua không có chuyện gì xảy ra. Tình hình như vậy Diêm Nhạc đã sớm đoán trước, nghe xong chỉ hỏi một câu, vừa rồi Mông Điềm có về phủ hay không? Lại viên tùy giám nói không có. Diêm Nhạc lập tức dặn dò lại viên tùy giám quay về mạc phủ thám thính xem rốt cuộc Mông Điềm đã đi đâu? Giờ ngọ trưa, lại viên tùy giám mạc phủ báo về, nói tỳ tướng Vương Ly vào khoảng một canh giờ trước đã vào mạc phủ, mật hội trong thư phòng với Mông Điềm một lát, hai người đã dẫn một đội kỵ binh rời khỏi mạc phủ. Chốc lát sau, lại viên được Diêm Nhạc cố ý bố trí ngoài thành bẩm báo rằng, đội mã kỵ của Mông Điềm đi về phía đại doanh Âm Sơn, Vương Ly không cùng ra khỏi thành. Diêm Nhạc mừng rỡ một trận, trong đầu lập tức nảy ra một mưu kế mới.

Ngày thu ngắn ngủi, bóng chiều chớp mắt đã buông xuống.

Vào đầu canh một, Diêm Nhạc bày ra toàn bộ nghi thức đặc sứ, xe ngựa rầm rầm chạy đến giám quân hành văn. Tư mã hộ vệ chặn lại ngoài cổng doanh, chắp tay hô lớn đầy khí thế: "Mạt tướng chưa nhận lệnh của đại tướng quân, đặc sứ đại nhân không được đi vào!"

Diêm Nhạc mang vẻ mặt bình thản chính sắc nói: "Bổn sứ cho phép đại tướng quân dâng sớ thỉnh cầu lại, đã là ngoại lệ. Bổn sứ theo pháp luật đôn đốc chiếu lệnh, đại tướng quân cũng muốn ngăn cản sao?"

Tư mã hộ vệ nói: "Đặc sứ đôn đốc chiếu lệnh, vốn đã có lại viên tùy giám ở đó, đặc sứ đại nhân không cần phải vẽ vời thêm chuyện!"

Diêm Nhạc giơ lên tấm ngọc đen do chính tay hoàng đế ban tặng của đặc sứ nói: "Bổn sứ chỉ ở trong sân viện đôn đốc chiếu lệnh chốc lát, cho dù đại tướng quân có ở đây, cũng không thể chống lại pháp luật! Nếu các hạ cố tình chống lại pháp luật, thì bổn sứ lập tức dâng sớ lên bệ hạ!"

Tư mã hộ vệ nói: "Hiện Vũ Thành Hầu đang ở trong hành văn, cho phép tại hạ vào bẩm báo." Nói xong liền vội vã bước vào hành văn. Chốc lát sau, tư mã hộ vệ sải bước đi ra chắp tay nói: "Đặc sứ mời vào."

Dưới ánh trăng mờ ảo, sân viện lớn giáp sĩ lớp lớp. Diêm Nhạc đỡ gậy tiết của đặc sứ, kiêu hãnh bước vào cửa đá. Vương Ly trẻ tuổi tay cầm trường kiếm với vẻ mặt âm trầm đứng sừng sững dưới bậc đá, hoàn toàn không thèm đếm xỉa gì đến Diêm Nhạc đang bước vào. Diêm Nhạc tiến lên chắp tay nói: "Bệ hạ đem binh giao cho Vũ Thành Hầu, Vũ Thành Hầu lẽ nào phụ bệ hạ sao!"

Vương Ly trầm giọng nói: "Các hạ không còn nhiều thời gian đâu, chi bằng lo làm việc của mình cho tốt thì hơn." Diêm Nhạc không dám đối đầu cứng rắn với con trai của mãnh tướng sấm sét Vương Bôn – người mà hắn chưa từng giao chiến bao giờ này nữa, bấy giờ vẫy tay ra lệnh cho lại viên tùy hành bày sẵn án chiếu thư, từ trong chiếc hộp đồng trên bàn bọc lấy cuộn chiếu thư ấy, kéo dài giọng đọc từng chữ từng chữ một, khi đọc đến đoạn "Phù Tô vi nhân tử bất hiếu, kỳ tứ kiếm dĩ tự tài" thì Diêm Nhạc gần như gào lên đến khản cả giọng. Chiếu thư đọc xong, Diêm Nhạc lại lớn tiếng hô vào bên trong: "Phù Tô quả là trung thần hiếu tử, sao có thể chống lại chiếu lệnh để làm loạn pháp luật quốc gia chứ! Phù Tô không dâng sớ thỉnh cầu lại, tự khắc nên làm biểu mẫu phụng hành pháp luật cho thiên hạ, sao có thể trì hoãn việc thi hành chiếu thư chứ!..."

"Đủ rồi! Các hạ mà còn gào nữa, bổn hầu một kiếm giết ngươi!" Vương Ly đột nhiên nổi giận gầm lên.

"Được được được, bổn sứ không gào nữa. Ban kiếm." Diêm Nhạc liên tục chắp tay, lại vẫy một cái.

Chiếu theo phép tắc, chiếu thư nói ban kiếm tự sát, đương nhiên là đặc sứ đem ngự kiếm của hoàng đế ban cho tội thần, sau đó tội thần dùng thanh kiếm do hoàng đế ban để tự sát. Hôm đó bởi vì Mông Điềm cản trở, chưa từng thi hành nghi thức "ban kiếm", Phù Tô liền bị Mông Điềm và những người khác hộ tống rời đi. Theo nghi thức ban chiếu, hành động này của Diêm Nhạc là phù hợp với pháp độ, không ai có thể ngăn cản. Dù vậy, khi Diêm Nhạc nâng thanh ngự kiếm của hoàng đế đến dưới bậc thềm, vẫn bị Vương Ly với sắc mặt sa sầm cướp lấy, đưa cho giám quân tư mã ở phía sau. Diêm Nhạc còn muốn cất lời, Vương Ly lại vung mạnh tay một cái, các giáp sĩ xung quanh lập tức ép sát tới, Diêm Nhạc đành hậm hực bỏ đi.

Sáng sớm hôm sau, khi Mông Điềm phi ngựa quay về, Cửu Nguyên đã đổi thay trời đất trong tiếng khóc của tướng sĩ.

Tại rừng dương hồ mịt mờ sương giá ngoài thành, đội mã kỵ của Vương Ly đã chặn đứng Mông Điềm. Vương Ly đầm đìa nước mắt, khóc đến mức giọng nói cũng khàn đặc. Vương Ly nói, thanh kiếm được ban của Diêm Nhạc vẫn luôn ở trong tay tư mã, hắn ta cũng vẫn luôn canh gác bên ngoài phòng ngủ của Phù Tô; vào lúc nửa đêm, vị lão lại tùy giám của Diêm Nhạc ở ngoài phòng ngủ chỉ hô lên một tiếng "Phù Tô phụng chiếu", liền bị hắn một kiếm đâm chết; rõ ràng trong phòng ngủ không có động tĩnh gì, gia bộc và thái y vẫn luôn túc trực bên sập, hai kiếm sĩ mặc thường phục vẫn luôn canh giữ ở cửa phòng ngủ, thế nhưng đúng vào lúc canh năm gà gáy thái y bắt mạch, Đại công tử đã không còn hơi thở nữa rồi; Vương Ly nghe tin liền hớt hải xông vào, tự tay vén tấm chăn lụa lớn của Phù Tô lên, nhìn thấy thanh đoản kiếm cắm ngập sâu vào bụng...

Vương Ly nói, thái y hoảng loạn cứu chữa khắp toàn thân Phù Tô, nhưng người không cứu được, lại bất ngờ phát hiện ra một bức huyết thư có nét chữ đã khô tím trong lớp áo ngắn sát người của Phù Tô ——

Chống lệnh làm loạn pháp luật, là họa lớn của quốc gia. Phù Tô dẫu có chết, cũng không phụ luật Tần, không chống mệnh quân.

Mông Điềm ôm lấy bức huyết thư bằng lụa trắng ấy, đôi mắt già nua trống rỗng không một giọt nước mắt.

Cho đến khi ánh nắng đỏ rực đâm thủng khu rừng dương hồ đỏ rực như lửa, Mông Điềm vẫn thẫn thờ tựa vào một gốc cây khô ngồi liệt ở đó, còn chết lặng hơn cả khúc cây khô cổ thụ. Dù cho Vương Ly có kể lể, khuyên nhủ, phẫn uất hay đau thương thế nào đi nữa, Mông Điềm cũng không hề có chút âm thanh hơi thở nào. Là tính toán của con người sao? Là tính toán của ông trời sao? Mông Điềm đau đớn hối hận đến mức rỉ máu trong tim, nhưng lại không biết sai sót xuất phát từ đâu. Diêm Nhạc ép bức tuy có nguyên nhân, nhưng nhìn bức huyết thư khô tím này, Phù Tô rõ ràng đã sớm có lòng chối bỏ sự sống, hay nói cách khác, Phù Tô có một dự cảm về vận mệnh của chính mình mà người khác không thể thấu hiểu nổi. Bức huyết thư này của Phù Tô, tuy chỉ vài câu ngắn ngủi, nhưng ý nghĩa của nó lại vô cùng sâu xa, thậm chí không thiếu sự răn dạy đối với Mông Điềm. Huyết thư đã để lại tâm nguyện chân thật nhất của Phù Tô khi đón nhận cái chết: Thà dùng cái chết của bản thân để duy trì sự tôn nghiêm của luật Tần và mệnh lệnh của hoàng đế; chứ cũng không muốn cưỡng ép lên ngôi, để mở đầu cho tiền lệ làm loạn pháp luật chính trị. Là đại công tử của hoàng đế, người thừa kế quốc gia trên thực tế, lòng dạ son sắt như thế, còn nói gì được nữa đây!

Mông Điềm thật sự không đành lòng trách cứ Phù Tô thiếu đi khí phách đại nghiệp chính đạo cao cả hơn, người đã chết rồi, sự việc đã đến nước này rồi, còn nói gì được nữa đây!

Điều khiến Mông Điềm đau đớn hối hận, là hắn đã đánh giá quá cao sự kiên cường của Phù Tô, đánh giá quá thấp sự trung hiếu của Phù Tô, lại càng phớt lờ đi dáng vẻ say sưa đến mức gần như điên cuồng của Phù Tô vào ngày đại điển hợp long Vạn Lý Trường Chường, phớt lờ đi mảnh bóng tối đã tích tụ gần ba mươi năm phủ kín tâm điền của Phù Tô. Mảnh bóng tối đó là gì? Là sự chán ghét đối với việc xoay xở quyền lực triều đình, là sự hoang mang trước những đấu tranh rắc rối giữa đại sách phương lược và nhân sự rối ren, là sự xung đột to lớn nảy sinh từ lòng trung thành tuân theo phụ hoàng và niềm tin vững chắc vào chính kiến của bản thân, là nỗi buồn thương và sự mỏng manh bén rễ trong tâm hồn thuở thiếu niên... Mà tất cả những điều này, đều đã bị hào khí bừng bừng của một trang nghĩa sĩ tin người che khuất, cũng bị Mông Điềm phớt lờ.

Mông Điềm ơi Mông Điềm, ngươi vẫn luôn tự cho là suy xét chu đáo, nhưng lại không thể nhận ra sự hoang mang và khổ đau trong linh hồn Phù Tô, nếu không phải ông trời đùa cợt nhà Tần, sao lại có thể như thế này chứ!

Cho đến tận ngày hôm qua, Mông Điềm vẫn đang tìm kiếm lối thoát cuối cùng cho Phù Tô. Hắn đã phi ngựa thâm nhập vào thảo nguyên Âm Sơn, tìm thấy bộ lạc Hung Nô vốn từ lâu có quan hệ tốt với quân Tần, bàn bạc với thủ lĩnh già tóc phơi sương nhưng tráng kiện hơn cả những kỵ sĩ trẻ tuổi rằng: Sẽ đưa một người trẻ tuổi đang gặp kiếp nạn đến thảo nguyên, người trẻ tuổi này là tri kỷ sinh tử của hắn, hắn không đến đón, thủ lĩnh già không được phép thả người đi, đương nhiên lại càng không được để người đó gặp bất kỳ tai hoạ bất ngờ nào. Thủ lĩnh già hào sảng đồng ý, vỗ ngực bồm bộp vào bát rượu lớn: "Mông công cần gì phải nói nhiều chứ! Tri kỷ sinh tử của Mông công, cũng là tri kỷ sinh tử của lão phu! Chỉ cần người trẻ tuổi đó đến, lão phu sẽ gả con gái út cho cậu ta! Con rể của lão phu chính là con chim ưng của thảo nguyên này, bay khắp Âm Sơn, không ai dám làm tổn thương nó!"... Mông Điềm phi ngựa suốt đêm trở về, vốn định lập tức đưa Phù Tô đang hoảng loạn đau thương bí mật vào thảo nguyên, sau đó hắn cùng Vương Ly dẫn năm vạn kỵ binh phi nhanh xuôi nam đến cung Cam Quên...

Mọi thứ đã được sắp xếp ổn thỏa, nhưng người quan trọng nhất là Phù Tô lại không còn nữa, tính người sao bằng tính trời!

"Mông công, ba mươi vạn đại quân đang gào thét chờ lệnh, ngươi không nói lời nào thì ta làm đấy!"

Giữa nỗi phẫn uất đau thương của Vương Ly, Mông Điềm cuối cùng cũng mệt mỏi đứng dậy, mệt mỏi lắc lắc tay, giọng nói khàn đục run rẩy cân nhắc từng chữ: "Vương Ly, không thể làm loạn quốc gia, không thể làm loạn pháp luật. Miễn là bệ hạ vẫn còn sống, sự việc cuối cùng vẫn còn cứu vãn."

Vương Ly giậm chân phẫn nộ nói: "Mông công sao mà hồ đồ thế! Đại công tử đã chết, Diêm Nhạc lại còn muốn bức tử Mông công! Rường cột gãy đổ, việc bảo vệ đất nước bảo vệ pháp luật chẳng phải là lời nói suông sao!"

Mông Điềm lạnh băng nói: "Lão phu sẽ không chết. Lão phu thà chịu ngục tù. Lão phu không tin, bệ hạ hoàng đế lại có thể không dung thứ cho lão phu tâu bày trực diện mà giết lão phu."

Vương Ly cả kinh nói: "Mông công! Vạn vạn không thể! Hoàng đế đã có mệnh lệnh hồ đồ trước đó, sao có thể không có sự u mê hồ đồ nối tiếp sau..."

"Vương Ly to gan!" Mông Điềm bị lời chỉ trích công khai hoàng đế của Vương Ly làm cho tức giận, mặt đỏ tơi bời gào lên khản cổ, "Bệ hạ thấu triệt sâu sắc, sao có thể liên tiếp có chuyện u mê hồ đồ được! Không thể! Tuyệt đối không thể!"

Vương Ly không nói nữa.

Mông Điềm cũng không nói nữa.

---❊ ❖ ❊---

Ba ngày sau, đại thảo nguyên Âm Sơn đã chứng kiến một tang lễ long trọng chưa từng thấy trong lịch sử ②.

Tin tức Phù Tô qua đời, không biết đã lan truyền đi bằng cách nào. Chỉ trong vòng một ngày một đêm, tiếng tù và nghẹn ngào nặng nề vang vọng khắp núi non sông ngòi rộng lớn, toàn bộ đại thảo nguyên chấn động, toàn bộ trong ngoài Vạn Lý Trường Chường chấn động. Những người du mục đang tìm kiếm nguồn nước cỏ chăn nuôi mùa đông đã đình chỉ việc di cư chuyển động, muôn vàn đội kỵ binh nhanh như chớp từ sâu thẳm thảo nguyên Bắc Nam Âm Sơn tụ họp về một hướng; những phu dịch trường thành chuẩn bị về quê lần lượt đình chỉ việc xuôi nam, muôn vàn dân đen vô tình thay đổi con đường về quê, cuồn cuộn như thủy triều chảy về vùng ngoại ô Cửu Nguyên...

Vào buổi sáng ngày thứ ba, khi tướng sĩ đại quân Cửu Nguyên hộ tống linh cữu ra khỏi thành, khung cảnh núi non thung lũng khiến tất cả mọi người chấn động khó tả. Dưới màn sương giá mịt mờ, biển người bao la kéo dài đến tận chân trời, các dãy đỉnh núi là biển người, thảo nguyên là đại dương người, đại thảo nguyên màu vàng xám muôn màu muôn vẻ, lần đầu tiên biến thành một thế giới thần kỳ đan xen cuồn cuộn giữa khăn đội đầu màu đen của dân đen và áo da cừu màu trắng xóa. Biển người vô bờ bến, chậm rãi xuôi dòng trên vùng đồng nguyên rộng lớn dưới mái vòm trời cao, lặng lẽ thầm kín trôi dạt theo linh cữu, ngoài tiếng gió mùa thu tiêu điều lạnh lẽo gào thét, hầu như không có tiếng người.

Dần dần, hai bức vướng trướng khổng lồ cao tựa xe mây lặng lẽ phấp phới đến gần linh cữu. Một bức là vướng trướng chữ đen vải trắng của người du mục thảo nguyên —— Chim ưng Âm Sơn, gãy cánh vẫn hùng. Một bức là vướng trướng chữ trắng vải đen của dân đen trường thành —— Hồn phách trường thành, quốc tang muôn thuở.

Mông Điềm và Vương Ly mặc áo tang đi bộ, trái phải hộ vệ linh cữu của Phù Tô. Ba mươi vạn tướng sĩ đại quân Cửu Nguyên xuất động toàn bộ với quy mô chưa từng có trong lịch sử, người đều mặc áo tang, ngựa đều khoác áo choàng đen. Mười vạn tướng sĩ doanh binh khí cung nỏ đang xây dựng nghĩa trang, mười vạn phương trận bộ binh giáp sĩ đi phía trước dẫn đường cho linh cữu, mười vạn phương trận thiết kỵ chủ lực trấn giữ phía sau ba mặt hộ vệ linh cữu. Trên đại thảo nguyên ngọn giáo ngọn mâu như rừng cờ xí tựa mây, tiếng xe rầm rầm tiếng ngựa hí bi thương, đã khắc họa lên một bức tranh hoành tráng dẫu qua ngàn đời cũng không thể phai mờ giữa làn sương giá đẫm máu...

Âm Sơn nguy nga hòa lẫn vào sương giá ánh sương đỏ như máu, thảo nguyên bao la hóa thành đợt sóng lớn màu đỏ máu cuồn cuộn ——

Chú thích:

① Công xa tư mã lệnh, quan thuộc của Vệ úy nhà Tần, có bốn chức năng: Chấp chưởng xe ngựa hoàng thành ra vào, tuần tra hoàng thành ban đêm, truyền tấu chương ban đêm, trưng triệu xe công. Tuy thuộc Vệ úy, nhưng thực chất là một trong những chức vụ trọng yếu của sự vụ hoàng thành.

② Trên đỉnh Thư S thuộc Sơn trong thành huyện Tự Đức, Thiểm Tây, có mộ Phù Tô. Sách "Hàm Dương Đế Đô Ký" chương 9 của nhà sử học Vương Học Lý tiên sinh ghi chép về nó như sau: Hình dạng mộ Phù Tô làm hình chữ nhật, dài 30 mét, rộng 6 mét, cao 8 mét, trước mộ có bia khắc sáu chữ "Tần trưởng tử Phù Tô mộ". Cách thành về phía bắc một km, tại nơi giao lưu giữa sông Vô Định và sông Đại Lý, truyền là nơi Phù Tô dưới trăng lo quốc thương dân, tên là "Lương Nguyệt đài"; cách thành về phía nam một km, vách núi Loan Gia Vịnh sừng sững, có nước từ không gian rơi xuống đất thành suối, truyền là nơi Phù Tô tự sát, nên gọi là "Oẹ Yết Tuyền" (Suối nức nở). Nhà thơ đời Đường Hồ Tăng có bài thơ "Sát Tử Cốc" rằng: "Cử quốc hiền lương tận lệ thùy, Phù Tô khuất tử thú biên thời. Chí kim cốc khẩu ô yết tuyền, do tợ đương niên hận Lý Tư."

Lại có, "Đại Thanh Nhất Thống Chí" nói, trong thành Tự Đức có Phù Tô từ. "Quan Trung Thắng Tích Thố Chí·Quyển Tam Thập" lại nói: Mộ Phù Tô có hai nơi ở thôn Tư Thủy huyện Lâm Đồng, Thiểm Tây và phía tây huyện Đông Ninh Bình Lương, Cam Túc. Vương Học Lý tiên sinh cho rằng, nên thuộc về mộ giả mang tính kỷ niệm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.