“Ông Button,” Emmeline cất lời vào tối hôm đó, khi họ đang ngồi trên bãi cát gần chiếc lều tạm bợ do ông dựng lên, “Ông Button—mèo cũng đi ngủ đấy chứ ạ.”
Họ vừa gặng hỏi ông về những quả mọng “chăm-chỉ-ngủ-mãi-không-thức”.
“Ai bảo là không nào?” ông Button đáp.
“Ý cháu là,” Emmeline nói, “chúng ngủ rồi cứ thế ngủ luôn không bao giờ tỉnh dậy nữa cơ. Con mèo nhà cháu cũng thế. Nó có mấy vạch vằn trên mình, ngực trắng phau, và đuôi thì khoang vòng từ gốc đến ngọn. Nó ngủ lăn lóc ngoài vườn, duỗi thẳng cẳng ra và nhe cả răng; rồi cháu bảo chị Jane, còn Dicky thì chạy vào mách bác. Cháu sang nhà cô Sims, vợ bác sĩ, để dự tiệc trà; lúc về cháu hỏi Jane con mèo đâu rồi—và chị ấy bảo nó ngỏm củ tỏi rồi đem chôn rồi, nhưng dặn cháu không được nói với bác.”
“Anh nhớ chứ,” Dick tiếp lời. “Đó là cái hôm anh đi xem gươm xi-cố, và em dặn anh không được mách bố là con mèo đã ngỏm củ tỏi đem chôn rồi. Nhưng anh lại nói với cái tay làm vườn nhà bà James khi lão đến dọn cỏ; và anh hỏi lão mèo chết đem chôn rồi thì đi đâu, lão bảo lão đoán chúng xuống địa ngục—ít nhất thì lão cũng mong là thế, vì chúng toàn cào bới tung hết cả hoa lên. Rồi lão dặn anh không được hé răng với ai về chuyện lão vừa nói, bởi vì đấy là từ bậy bạ, và lão không nên thốt ra như thế. Anh hỏi lão nếu anh giữ bí mật thì lão cho gì, thế là lão cho anh năm xu. Hôm đấy chính là ngày anh mua quả dừa.”
Chiếc lều tạm bợ gồm có hai mái chèo và một nhánh cây—thứ mà ông Button đã cưa từ một cây xoan lùn, cùng với cánh buồm đỉnh cột mà ông mang theo từ chiếc tàu brig—được dựng ngay giữa bãi biển, nhằm tránh những quả dừa rơi trúng nếu gió thổi mạnh lên trong đêm. Mặt trời đã lặn nhưng trăng vẫn chưa mọc khi họ ngồi dưới bầu trời đầy sao trên bãi cát gần chốn dung thân tạm thời.
“Thế cái thứ mà bác bảo làm giày cho mọi người là gì thế, Paddy?” Dick hỏi sau một hồi im lặng.
“Thứ nào cơ chứ?”
“Cháu nghe bác bảo trong rừng là không được nói chuyện, nếu không thì—”
“Ồ, bọn Cluricaunes—mấy tay tí hon chuyên đóng giày dép cho Thiện Nhân ấy mà. Có phải cháu đang hỏi bọn chúng không?”
“Vâng,” Dick đáp, dù cậu chẳng chắc chắn lắm có phải mình đang nói về bọn chúng hay không, nhưng đang rất tò mò muốn biết thêm những chuyện lạ lùng. “Thế Thiện Nhân là ai hả bác?”
“Chà, cậu sinh ra và lớn lên ở xó xỉnh nào mà lại không biết Thiện Nhân chính là tên gọi khác của tụi thần tiên—xin lỗi các ngài cho tôi được nhắc tới nhé?”
“Làm gì có ai,” Dick cãi. “Bác Sims bảo chẳng có đâu.”
“Còn cô James,” Emmeline xen vào, “thì bảo là có. Cô ấy bảo cô thích nhìn thấy trẻ con tin vào thần tiên. Cô đang nói chuyện với một quý cô khác đội chiếc mũ gắn lông chim màu đỏ và quàng khăn lông thú. Họ đang uống trà, còn cháu thì ngồi trên thảm sưởi. Cô ấy bảo thế gian này đang trở nên cái gì thế này thế nọ, rồi vị quý cô kia cũng đồng tình và hỏi cô James có thấy mụ gì đó đội cái mũ xấu tệ vào Lễ Tạ ơn không. Họ không bàn gì thêm về chuyện thần tiên nữa, nhưng cô James——”
“Mặc kệ cháu có tin hay không,” Paddy tiếp lời, “chúng vẫn cứ ở đó thôi. Và biết đâu tụi nó đang lỏ mắt nhìn ra từ khu rừng sau lưng chúng ta lúc này, rồi lén nghe chúng ta trò chuyện ấy chứ; mặc dù ta hồ nghi chẳng biết ở mấy chốn này có mống nào không, chứ còn dưới miền Connaught thì ngày xưa chúng đông như sung rụng. Ôi giời ơi là giời! những ngày tháng xưa cũ ơi! bao giờ ta mới được gặp lại chúng đây? Này nhé, tin hay không tùy cháu, nhưng chính tía già nhà ta—cầu Chúa cho linh hồn ngài được siêu thoát!—đang trên đường vượt đèo Croagh Patrick vào một đêm trước Giáng sinh, một tay cầm chai rượu whisky, tay kia cầm một con ngỗng đã làm sạch lông vằn vện hẳn hoi—thứ mà ngài vừa trúng trong một cuộc xổ số; thế rồi, nghe tiếng vo ve chẳng to hơn con ong mật, ngài ngó trộm qua bụi kim tước, và kìa, quanh một hòn đá trắng lớn, bọn Thiện Nhân đang múa vòng tay trong tay, tung tăng nhảy nhót, với đôi mắt sáng rực như mắt bướm đêm; còn một tên trên hòn đá, chẳng to hơn đốt ngón tay cái, đang thổi kèn túi cho tụi nó nhảy. Vừa thấy thế, ngài thét lên một tiếng rồi vứt con ngỗng xuống, cắm cổ chạy thẳng về nhà, vượt qua dậu qua mương, nhảy nhót như một con chuột túi đực, mặt cắt không còn giọt máu khi ngài xông qua cánh cửa, nơi tất cả chúng ta đang quây quần bên đống lửa nướng hạt dẻ xem ai là người được cưới vợ gả chồng trước tiên.”
“‘Nhân danh các thánh thần, ông bị cái quái gì thế hả?’ u ta hỏi.”
“‘Tao vừa thấy Thiện Nhân,’ ông đáp, ‘ở cánh đồng đằng kia kìa,’ ông bảo; ‘và chúng cướp mất con ngỗng rồi,’ ngài than; ‘nhưng lạy Chúa, tao vẫn giữ được chai rượu,’ ông nói. ‘Khui nút ra cho tao nếm một ngụm xem nào, vì tim tao đang nghẹn ở cổ họng, còn lưỡi tao thì khô khốc như cái lò gạch rồi đây.’”
“Và khi chúng ta chật vật cạy nút chai ra, thì trong chai chẳng có giọt nào; còn sáng hôm sau khi ra tìm con ngỗng, nó đã biến mất tăm. Nhưng hòn đá thì vẫn còn đó, rành rành ra đấy, với những vết hằn trên đá do đôi giày tí hon của tên thổi kèn túi để lại—và sau chuyện đó thì còn ai dám hoài nghi sự tồn tại của lũ thần tiên nữa cơ chứ?”
Mấy đứa trẻ im lặng một lúc, rồi Dick cất tiếng:
“Kể cho chúng cháu nghe về bọn Cluricaunes đi bác, và cách chúng làm giày ấy.”
“Khi ta kể cho các cháu nghe về bọn Cluricaunes,” ông Button nói, “đó là sự thật hẳn hoi và do chính tai ta biết, bởi vì ta từng nói chuyện với một người từng tóm gọn một tên trong tay; đó chính là bác ruột của ta, anh của u ta, Con Cogan—cầu cho linh hồn ngài an nghỉ! Con cao sáu thước hai ngấn, với khuôn mặt dài trắng bệch; đầu hắn từng bị nện bẹt từ nhiều năm trước khi ta sinh ra trong một trận ẩu đả nào đó, và mấy ông bác sĩ đã vá đầu hắn bằng một đồng năm xu đập bẹp.”
Dick xen vào bằng một câu hỏi về quy trình, mục đích và ý nghĩa của việc vá đầu bằng đồng xu, nhưng ông Button phớt lờ câu hỏi đó.
“Hắn vốn đã lú lẫn nhìn thấy thần tiên đủ đường trước khi được vá đầu, nhưng khỉ thật, sau vụ đó thì hắn lại chứng nào tật nấy gấp đôi. Lúc bấy giờ ta chỉ là một tên nhóc choai choai, nhưng tóc tai cứ gọi là gần bạc trắng vì những câu chuyện hắn kể về Thiện Nhân cùng vô số trò quái ác của chúng. Có đêm chúng biến hắn thành con ngựa rồi cỡi tung hoành nửa hạt, một tên ngồi trên lưng còn tên kia chạy bám theo sau, nhét đầy gai kim tước vào dưới đuôi để thúc hắn lồng lộn. Đêm khác thì hắn hóa thành con lừa, bị cày cược kéo chiếc xe nhỏ, rồi bị đá vào bụng bắt kéo đá. Lại có đêm hắn biến thành con ngỗng, vừa cắm cổ chạy thục mạng trên bãi đất trống vừa vươn cổ kêu quạc quạc, bị một mụ yêu tinh già cầm dao rượt đuổi phía sau, đến mức suýt phát điên phải tìm đến hơi men; mặc dù xét cho cùng, hắn cũng chẳng cần ai xúi giục khoản rượu chè ấy cho lắm.”
“Và khi tiền sạch bách, hắn liền bèn cạy ngay đồng năm xu được vá trên đỉnh đầu ra, đổi lấy một chai whisky, và đó chính là kết cục đời hắn.”
Ông Button dừng lại để châm lại tẩu thuốc đã bị tắt ngấm, và không gian chìm vào yên lặng trong giây lát.
Trăng đã lên cao, tiếng sóng vỗ rì rào trên rạn san hô ngập tràn khắp màn đêm như khúc hát ru muôn thuở. Vùng đầm phá rộng lớn dập dờn gợn sóng dưới ánh trăng theo nhịp thủy triều lên. Trông nó bao giờ cũng rộng gấp đôi khi ngắm dưới ánh trăng hoặc ánh sao so với ban ngày. Thỉnh thoảng, tiếng quẫy nước của một con cá lớn phá vỡ sự tĩnh lặng, và những gợn sóng lan tỏa chốc lát trên mặt nước phẳng lặng.
Vào ban đêm, những điều kỳ vĩ vẫn diễn ra nơi đầm phá, khuất tầm mắt của những kẻ ngắm nhìn từ bờ. Nếu dạo bước qua khu rừng phía sau lưng, bạn sẽ thấy nó ngập tràn ánh sáng. Một khu rừng nhiệt đới dưới ánh trăng nhiệt đới xanh thẳm như trong hang động đại dương. Bạn có thể nhìn thấy những dây leo, những chùm hoa, phong lan và cả thân cây đều được thắp sáng tựa như ban ngày dưới ánh ngọc lục bảo.
Ông Button rút một đoạn dây dài từ trong túi ra.
“Đến giờ đi ngủ rồi,” ông bảo; “và ta phải cột con bé Em’leen lại, kẻo nó lại mộng du, lang thang rồi lạc mất trong rừng sâu.”
“Cháu không muốn bị buộc lại đâu,” Emmeline phản đối.
“Ta làm vậy vì tốt cho cháu thôi,” ông Button đáp, vừa quấn đoạn dây quanh eo con bé. “Nào, đi thôi.”
Ông dắt con bé vào lều như dắt một chú chó bị xích cổ, rồi buộc đầu dây bên kia vào chiếc mái chèo—trụ cột chính nâng đỡ chiếc lều.
“Giờ thì,” ông bảo, “nếu cháu có lỡ chồm dậy đi lại trong đêm, thì cái lều này sẽ đổ sập xuống đầu tất cả chúng ta đấy.”