Đầm Nước Xanh

Lượt đọc: 132 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Nơi Ngọn Đèn Mỡ Cháy Sáng

❊ ❊ ❊

Ông Button đang ngồi trên một chiếc rương đựng hải đồ, kẹp cây vĩ cầm dưới tai trái. Ông đang kéo khúc “Shan van vaught,” vừa tấu nhạc vừa nhịp gót chân trái xuống sàn tàu ở khu yết xá.

“Ôi người Pháp đã đến vịnh,

Theo lời nàng Shan van vaught.”

Ông mặc chiếc quần vải thô, áo sơ mi kẻ sọc và chiếc áo khoác nỉ xanh đã ngả màu ở một số chỗ do nắng gió và muối biển. Trông ông đích thực là một lão thủy thủ già lưng còng, ngón tay khum khum, dáng điệu thoang thoảng nét gì đó giống loài cua.

Khuôn mặt ông đỏ như mặt trăng nhìn qua làn sương mù miền nhiệt đới; khi chơi đàn, nét mặt ông đăm chiêu căng thẳng cứ như thể cây vĩ cầm đang kể cho ông nghe những chuyện kỳ diệu hơn nhiều so với câu chuyện nhạt nhẽo về vịnh Bantry.

Biệt danh của ông ở khu yết xá là “Pat thuận tay trái”; không phải vì ông thuận tay trái, mà đơn giản vì mọi việc ông làm đều sai — hoặc gần như thế. Dù là thu buồm, cuốn buồm, hay cọ thùng mỡ — hễ có chuyện gì sai sót được, thể nào ông cũng mắc phải.

Ông là người Celt, và tất cả những vùng biển mặn đã chảy qua giữa đời ông và xứ Connaught trong suốt bốn mươi năm nay vẫn chưa thể gột rửa phần gốc gác Celt trong dòng máu, hay niềm tin vào thần tiên trong tâm hồn ông. Bản chất người Celt là thứ phẩm màu bền chặt, và bản chất của ông Button dẫu có bị lừa ép lên tàu bởi Larry Marr ở San Francisco, dẫu có từng say mèm ở hầu hết các cảng trên thế giới, dẫu có từng đi chung với các thuyền trưởng người Yankee và bị các phó thuyền trưởng người Yankee hành hạ, ông vẫn mang theo những nàng tiên bên mình — họ, cùng với một kho tàng ngây thơ nguyên thủy rất lớn.

Ngay phía trên đầu người nhạc sĩ là chiếc võng đung đưa thõng xuống một cái chân; những chiếc võng khác treo trong không gian mờ ảo gợi liên tưởng đến loài vượn cáo và dơi sống trên cây. Ngọn đèn dầu hỏa đung đưa chiếu ánh sáng về phía trước, qua gót cột buồm dọc đến tận ụ neo, soi rọi chỗ này là một bàn chân trần thõng xuống bên thành giường, chỗ kia là cái mặt ngậm chiếc tẩu thuốc, chỗ nọ là bộ ngực phủ đầy lông đen rậm rạp, chỗ kia nữa là cánh tay xăm trổ.

Đó là thời điểm trước khi các xà ngang buồm đỉnh kép làm giảm số lượng thủy thủ đoàn, và khu yết xá trên chiến thuyền Northumberland có đầy đủ một cơ ngơi: một đám thủy thủ chuyên chạy tuyến tàu thư tín thường thấy trên những con tàu vòng qua mũi Horn, những gã người Mỹ đến từ xứ “Hà Lan” — những kẻ ba tháng trước còn làm ruộng và chăn heo ở Ohio, những thủy thủ già dặn gió sương như lão Paddy Button — một sự pha trộn giữa điều tồi tệ nhất và tuyệt vời nhất trên đời, mà chẳng nơi nào khác bạn có thể tìm thấy trong một không gian nhỏ hẹp như khu yết xá của một con tàu.

Con tàu Northumberland đã trải qua một trận vượt mũi Horn vô cùng khủng khiếp. Khởi hành từ New Orleans đi San Francisco, nó đã mất ba mươi ngày chiến đấu với gió ngược và bão tố — ở dưới đó, nơi biển cả mênh mông đến mức ba ngọn sóng với chiều dài của chúng có thể che phủ hơn một dặm mặt biển; ba mươi ngày nó quần thảo ngoài khơi mũi Stiff, và giờ đây, vào khoảnh khắc của câu chuyện này, nó đang mắc kẹt trong vùng lặng gió phía nam đường xích đạo.

Ông Button kết thúc khúc nhạc bằng một đường vĩ mạnh mẽ, rồi dùng tay áo khoác bên phải lau trán. Sau đó, ông lấy ra một chiếc tẩu nhọ nồi, nhồi thuốc lá vào và châm lửa.

“Pawthrick,” từ chiếc võng phía trên có cái chân thõng xuống, một giọng cất lên kéo dài, “cái câu chuyện tối nay chú mày đang tính kể về con yêu tinh là thế nào thế?”

“Con gì cơ?” ông Button hỏi, ngước mắt nhìn lên đáy võng trong lúc châm lửa vào tẩu.

“Thì chuyện về một thứ màu xanh ấy mà,” một giọng người Hà Lan ngái ngủ cất lên từ chiếc giường tầng.

“Ồ, ý cậu là một con Leprachaun chứ gì. Chứ sao nữa, dì ruột tôi từng nuôi một con ở dưới Connaught đấy.”

“Trông nó thế nào?” giọng người Hà Lan mơ màng hỏi — một thứ giọng dường như bị nhiễm vẻ tĩnh lặng đã biến mặt biển thành chiếc gương phẳng lì suốt ba ngày qua, khiến toàn bộ thủy thủ đoàn trong lúc đó trở nên lười nhác chẳng khác gì lũ phế nhân.

“Thế nào ư? Chứ nó phải trông giống một con Leprachaun chứ còn giống cái gì nữa?”

“Giống cái gì cơ chứ?” giọng nói vẫn gặng hỏi.

“Nó giống như một thằng đàn ông nhỏ xíu chẳng lớn hơn củ cải chẻ đôi là bao, và xanh lè như cái bắp cải. Dì tôi từng có một con trong nhà ở xứ Connaught ngày xửa ngày xưa. Ồ chao ôi! chao ôi! những ngày xưa cũ ơi! Giờ thì các cậu muốn tin hay không mặc ý, chứ nhét nó vào túi áo thì cái đầu xanh rì của nó cũng vừa vặn thò lên trên miệng túi mà thôi. Dì tôi nhốt nó trong cái chạn bát, thế mà hễ chạn hé mở một chút là nó tót ra, hoặc là lao vào các thau sữa, hay chui xuống gầm giường, hoặc giật cái ghế đẩu ngay dưới mông người ta, không thì cũng bày trò quái quỷ gì khác. Nó đuổi theo con heo — khốn khổ cái thân con vật! — khiến con heo sợ hãi ré lên trơ cả xương sườn trông như cái ô rách, và gầy giơ xương như con chó săn vì chạy trốn suốt từ sáng; nó làm trứng ung khiến gà trống gà mái chẳng biết đằng nào mà lần khi đám gà con nở ra có tới hai cái đầu và hai mươi bảy cái chân trước sau. Và khi cậu chớp nhoáng đuổi theo nó, thì hễ vừa hô ‘kéo buồm chính’ một cái là nó biến mất, cậu cắm cổ chạy theo sau cho đến khi ngã lộn nhào chúi mũi xuống mương, còn nó thì đã quay về chạn từ đời nào rồi.”

“Đó là một con Troll,” giọng người Hà Lan lẩm bẩm.

“Tôi đang bảo đó là con Leprachaun cơ mà, và chẳng thể nào lường trước được những trò ma quỷ mà nó có thể giở ra đâu. Có khi nó nhấc bổng cái bắp cải đang sôi sùng sục trong nồi trên bếp ngay trước mắt cậu, rồi giã thẳng vào mặt cậu; và rồi, có lẽ khi cậu chìa nắm đấm ra với nó, nó sẽ nhét vào tay cậu một đồng sovrin bằng vàng.”

“Ước gì nó ở đây!” một giọng nói từ chiếc giường gần ụ neo lẩm bẩm.

“Pawthrick,” giọng từ chiếc võng phía trên kéo dài, “việc đầu tiên chú mày làm là gì nếu vớ được hai mươi bảng trong túi?”

“Hỏi tôi làm gì cơ chứ?” ông Button đáp. “Hai mươi bảng có tích sự gì đối với một tên thủy thủ lênh đênh trên biển, nơi rượu rum thì toàn nước lã còn thịt bò thì dai như thịt ngựa? Phải đưa tôi lên bờ cơ, thì các cậu mới thấy tôi làm gì với số tiền đó!”

“Tôi cá là gã chủ quán rượu gần nhất chưa kịp thấy bóng dáng chú mày đâu,” một giọng từ Ohio nói.

“Chứ còn gì nữa,” ông Button nói; “mà chú mày cũng chẳng đuổi theo kịp tôi đâu. Cả đám rượu rum lẫn lũ bán rượu chết tiệt ấy chứ!”

“Nói thì dễ lắm,” gã người Ohio bảo. “Lúc ở trên biển không kiếm được thì chú mày chửi rủa rượu rum; cứ đặt chân lên bờ xem, chú mày lại chả nốc cho bét nhè.”

“Tôi thích uống say, tôi xin nhận; và tôi là hiện thân của quỷ khi hơi men đã ngấm vào người, rồi thể nào nó cũng tước đoạt mạng sống tôi cho mà xem, bằng không thì mẹ già tôi đã nói dối. ‘Pat này,’ bà bảo thế, ngay lần đầu tiên tôi say khướt từ biển trở về, ‘bão tố con có thể thoát, đàn bà con có thể thoát, nhưng cái vò potheen thì thế nào cũng tóm được con.’ Bốn mươi năm trước — bốn mươi năm trước rồi đấy!”

“Thế mà,” gã người Ohio nói, “nó vẫn chưa tóm được chú mày đấy thôi.”

“Chưa,” ông Button đáp, “nhưng rồi sẽ có ngày nó tóm được thôi.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.