Hảo Hán Nơi Trảng Cát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vi - Vụ Ô-gun

❊ ❊ ❊

Vào một buổi tối khác, một buổi tối mùa đông u ám, một buổi tối mà suốt đêm ngư dân không liều lĩnh giong buồm ra khơi, đêm giận dữ của I-ê-măng-gia và của Xăng-gô, trong khi chỉ những ánh chớp là ánh sáng duy nhất trong bầu trời nặng trĩu mây dày và đen, Pê-đrô Ba-la, Cẳng-Nhũn và Giô-ao Gộc ra đi, đưa bà đồng Đôn A-nin-ha trở về nhà bà ở rất xa. Chiều hôm nay, bà đã đến nhà kho để nhờ chúng nó giúp cho một việc và trong khi bà cặn kẽ giãi bày việc đó, đêm đã ập đến kinh hoảng và ghê gớm.

- Ô-gun nổi giận… Bà đồng Đôn A-nin-ha giải thích.

Chính cũng do nguyên nhân đó mà bà đến đây. Trong một cuộc lùng sục của cảnh sát vào một ngôi đền (ngôi đền này, mặc dầu không phải thuộc về bà - bởi vì không một cơ quan cảnh sát nào dám liều lĩnh một cuộc truy tìm vào ngôi đền của bà A-nin-ha vẫn thuộc sự bảo trợ của bà, cảnh sát đã xâm phạm đến Ô-gun lúc đó đương yên nghỉ trên bàn thờ. Đôn A-nin-ha đã dùng đủ mọi uy quyền của mình tác động đến tên cảnh sát để đòi lại tượng thần. Bà cũng đã đến ngay nhà một vị giáo sư trưởng Đại học Y khoa, chỗ thân tình của bà, người đã đến nghiên cứu tôn giáo người đen tại ngôi đền của bà, nhờ ông tìm cách làm cho người ta phải trả lại chúa thần. Vị giáo sư nọ cũng đã thật lòng đến gặp Sở cảnh sát, đòi họ phải đưa lại cho ông pho tượng ấy như là để thêm vào bộ sưu tập các tượng thần của người đen chứ không phải để đưa thần trở lại với cái bàn thờ trong ngôi đền xa xôi kia. Chính từ duyên do đó, cũng vì Ô-gun đương ở trong một phòng giam giữ tội phạm tại đồn cảnh sát mà Xăng-g tối hôm nay, phóng những tia chớp của thần. Cuối cùng, hết cách, Đôn A-nin-ha bèn đến chỗ trú ngụ của các Hảo hán nơi Trảng cát, những bạn thân cố cựu của bà, bởi vì tất cả những người đen và những kẻ nghèo khổ ở Ba-hi-a đều là bạn thân của bà đồng. Đối với mỗi con người đó, bà có một lời thân tình và đượm tình mẫu tử. Bà chữa khỏi bệnh cho người ốm đau, hòa giải những cặp tình nhân và những phép thuật phù thủy của bà giết chết quân ác độc. Bà kể lại câu chuyện đã xảy ra cho Pê-đrô Ba-la nghe. Thủ lĩnh các Hảo hán nơi Trảng cát chẳng hề đặt chân đến các ngôi đền bao giờ, cũng như nó chẳng bao giờ để ý nghe những lời thuyết giảng của linh mục Giô-dê Pê-đrô. Nhưng nó vẫn cứ là bạn thân của vị linh mục cũng như của bà đồng và ở những Hảo hán nơi Trảng cát, khi đã có một người bạn thì hết lòng vì bạn.

 

Bây giờ thì chúng nó đưa A-nin-ha trở về nhà bà. Đêm tối chung quanh họ, gió mưa vật vã và sôi sục điên giận. Mưa dúi họ cúi gập bên dưới cái dù trắng lớn của bà đồng. Trống ở các ngôi đền đều đánh nhịp nhàng để gột rửa điều xúc phạm đối với Ô-gun và rất có thể trong tiếng một chiếc trống nào đó và cũng có thể nhiều chiếc, Ô-gun báo hiệu việc rửa hận của những người nghèo khổ. Đôn A-nin-ha nói với mấy thằng bé, giọng chua chát:

- Chúng nó không để cho những người nghèo khổ được sống. Chúng nó lại cũng không để cho vị Chúa thần của những người nghèo khổ được yên ổn. Nghèo đói thì không thể nhảy múa, không thể hát ca vị Chúa thần của mình…

Giọng bà thật là cay đắng, một giọng nói dường như không còn là của bà đồng Đôn A-nin-ha - chúng nó vẫn chưa bằng lòng chỉ giết chết những người nghèo khổ - và bà giơ cao nắm tay.

Pê-đrô Ba-la cảm thấy một đợt sóng trào cuộn dâng trong nó. Những người nghèo khổ chẳng có được chút gì. Linh mục Giô-dê Pê-đrô có nói rằng: “Những người nghèo khổ, một ngày kia sẽ lên thiên đường, ở đó Chúa trời đối xử với thảy mọi người đều như nhau”. Nhưng cái lý lẽ non nớt của Pê-đrô Ba-la không tìm thấy một chút công bằng nào trong đó. Ở thiên đường, mọi người sẽ được bình đẳng. Nhưng, ngay trên mặt đất, đâu phải họ đã được như vậy! Cán cân, bao giờ cũng thế, vẫn nghiêng về một bên.

Hơn cả tiếng trống kèn đương rộn rã gột rửa sự xúc phạm đối với Ô-gun, những lời nguyền của bà đồng vang âm trong đêm tối. Thân hình cao và gầy, Đôn A-nin-ha tiêu biểu cho một hạng thượng lưu trong đám dân đen và bà biết cách mặc những bộ quần áo Ba-hi-a của mình không một người đàn bà đen nào bằng được. Bà có nét mặt vui rạng rỡ, tuy rằng chỉ một cái nhìn của bà cũng đủ gây nên một sự kính trọng tuyệt đối. Về mặt đó, bà cũng giống như l lúc này thì bộ dạng của bà dữ tợn và những lời nguyền của bà đối với bọn nhà giàu và đối với cảnh sát tràn ứ đêm tối Ba-hi-a và trái tim Pê-đrô Ba-la.

Khi chúng nó từ giã bà, lúc đó bà có những cô gái đồng nữ vây quanh và hôn tay bà, Pê-đrô Ba-la hứa:

- Đừng phiền lòng, bà mẹ A-nin-ha. Tôi đây, ngày mai, tôi xin đưa Ô-gun về cho bà.

Bà đưa bàn tay vỗ lên cái đầu tóc vàng hoe của nó và mỉm cười. Giô-ao Gộc và Cẳng-Nhũn hôn bàn tay bà già đen. Chúng xuôi con đường dốc. Trống kèn vang rộn để rửa sạch sự xúc phạm đối với Ô-gun.

Cẳng-Nhũn, thằng này chẳng tin vào gì cả, nhưng nó đã từng mang ơn Đôn A-nin-ha. Nó hỏi:

- Bây giờ bọn ta phải làm gì? Món hàng đó đương ở tại đồn cảnh sát.

Giô-ao Gộc nhổ nước bọt, có phần sợ hãi về một mối lo ngại nào đó:

- Đừng có coi Ô-gun là một đồ hàng, Cẳng-Nhũn ạ!

- Ông ta đương bị giữ, ông ta chẳng làm được gì đâu! - Cẳng-Nhũn chớt nhả.

Giô-ao Gộc lặng im, nó nghĩ rằng quyền Ô-gun là vô kể và ngay từ trong nhà giam, vẫn có thể trừng phạt Cẳng-Nhũn. Pê-đrô Ba-la gãi gãi cằm, xin một điếu thuốc lá.

- Để yên cho mình nghiền ngẫm về cái việc này. Bọn ta có những món nợ phải trả. Đã hứa với A-nin-ha, bây giờ phải làm cho được.

Chúng nó đi xuôi về nhà kho. Mưa tuôn qua những lỗ hở trên mái. Hầu hết bọn trẻ con chen chúc trong những xó còn được che chắn. Giáo-sư đã thử thắp cây nến, nhưng gió cứ như giỡn với nó, chốc chốc lại thổi tắt. Cuối cùng nó đành chịu phải nhịn đọc sách tối hôm nay và nó bị lôi cuốn, nạn nhân của trò bịp, vào một đám đỏ đen do Gã Mèo cầm cái, có Sống-Nhàn giúp sức, trong một góc nhà. Những đồng bạc lăn trên mặt đất, nhưng không có một tiếng động nào có thể làm cho Mạch-Nha phải lơ đãng với những lời cầu nguyện của nó trước Đức Thánh mẫu Đồng trinh và thánh Ăng-toar.

Trong những đêm mưa như thế này, bọn chúng nó không sao ngủ được. Chốc chốc một ánh chớp chiếu lòa nhà kho và thế là có thể nhận rõ nét mặt gầy guộc và lem luốc của các Hảo hán nơi Trảng cát. Rất nhiều đứa trong bọn còn quá bé đến nỗi chúng vẫn còn sợ những con rồng và yêu tinh trong các chuyện xưa. Chúng che bên cạnh những đứa lão làng, chỉ cảm thấy rét và buồn ngủ. Nhiều đứa khác, bọn đen, nghe thấy tiếng của Xăng-gô qua tiếng sấm ì ầm. Đối với cả bọn, những đêm giông tố như thế này quả là khủng khiếp. Ngay cả đối với Gã Mèo, thằng này đã có một người đàn bả để cho nó chúi cái đầu non trẻ của nó lên ngực, những đêm giông bão cũng là những đêm không tốt đẹp gì. Bởi vì những đêm như thế, nhiều người đàn ông trong thành phố không có chỗ để đặt cái đầu hoảng sợ của họ, dù chỉ một cái giường của kẻ độc thân, và đương muốn vùi lấp nỗi sợ hãi vào bộ ngực người đàn bà - những buổi tối đó, có nhiều người đàn ông trả tiền để ngủ với Dan-va và họ trả rất hào phóng. Trong tình trạng như thế, Gã Mèo phải ở lại nhà kho, cầm cái song bạc với cỗ bài bịp bợm, có thêm Sống-Nhàn cũng vào hùa trong cái trò gian lận này. Chúng nó ngồi túm tụm cả với nhau hãi hùng cô độc, cùng cảm thấy có một cái gì đó thiếu cho chúng nó, không chỉ một chiếc giường ấm áp trong một gian phòng kín mà còn là những tiếng trìu mến của một người mẹ hoặc một người chị, những người đó sẽ làm tiêu tan đi sự khiếp đảm của chúng. Chúng nó ngồi đó chen chúc nhau chật chội hết sức và một số đứa run lên vì rét trong những chiếc sơ mi và quần cộc nát bươm như giẻ rách. Một số khác mặc những chiếc áo ngoài lấy cắp được hoặc nhặt được trong thùng rác, những chiếc áo khoác ngoài chúng dùng thay cho áo khoác ba-đờ-xuy. Giá-sư thì lại có hẳn một chiếc ba-đờ-xuy dài rộng quá khổ đến mức cứ quét đất.

Một lần, và đúng là vào mùa hè, có một người mặc chiếc áo ba-đờ-xuy rộng đã dừng lại uống một cốc nước mát tại một tiệm giải khát nào đó trong thành phố. Có thể thấy đó là một người ở xa đến. Lúc ấy, đúng xế chiều, nắng nóng đến rát da thịt. Nhưng người ấy hình như không thấy bức nóng, vẫn xù xù cái áo ba-đờ-xuy mới tinh. Giáo-sư thấy con người ấy ngó cũng ngồ ngộ và cái đầu của ông ta giống như cái đầu một tay giàu sụ. Nó bắt đầu phác một hình vẽ về ông ta với chiếc ba-đờ-xuy kếch xù, to hơn khổ người, cái ba-đờ-xuy ấy, cũng là đúng con người ấy, bằng phần trên hè đường. Và nó cười khoái trá bởi vì chắc người kia sẽ có thể cho nó một đồng hai ngàn rét. Người kia ngồi trên ghế quay trở ra, và nhìn cái hình vẽ đã gần hoàn chỉnh. Giáo-sư vui cười, nó nhận thấy hình vẽ thật là tuyệt vời, với cái áo ba-đờ-xuy lấn cả con người, nổi bật hơn hẳn con người. Nhưng cái con người đó lại không thích thú gì cái thứ đó, tức giận sôi sục, hắn ta đứng lên ra khỏi ghế và đạp luôn cho Giáo-sư hai cái. Một cú đạp trúng thằng bé vào chỗ thắt lung và nó ngã nhào xuống vỉa hè mà rên rỉ. Người kia lại còn dận chân lên mặt nó, bỏ đi và bảo nó, mặt hắn đỏ bừng:

- Đấy, nhận lấy cái đạp, thằng nhóc, để dạy cho mày biết chế giễu một con người.

Và hắn ta bỏ đi, vừa đi vừa xóc xóc mấy đồng tiền cho kêu lên trong tay hắn sau khi đã dí bàn chân xóa hình vẽ mờ hẳn đi. Cô gái hầu bàn chạy ra và giúp Giáo-sư đứng dậy. Cô ta nhìn với vẻ thương hại thằng bé đương nắn vào vùng thắt lưng bị đau, cô ta nhìn cái hình vẽ và nói:

- Đồ súc vật… được cái chân dung giống đấy chứ!... Một thằng ngốc!

Cô gái thò tay vào túi mà cô cất những món tiền Puốc boa[1] lấy ra một đồng nghìn rét, định đưa cho Giáo-sư. Nhưng thằng bé khoát bàn tay từ chối, nó biết đồng tiền ấy sẽ có thể làm cho cô gái thiếu thốn. Nó nhìn một lúc cái hình vẽ đã bị xóa mờ, tiếp tục đi, hai tay vẫn luôn luôn ấn vào chỗ thắt lưng. Nó bước đi hầu như không chút suy nghĩ trong đầu, cổ họng như bị bóp nghẹt. Nó thì muốn làm vui lòng con người ấy, xứng đáng được một đồng tiền ông ta cho. Nó lại được nhận hai cái đạp nên thân và những lời thô bỉ. Nó không sao hiểu nổi. Bởi sao mà bọn chúng nó lại bị khinh rẻ đến thế trong thành phố? Chúng nó là những đứa trẻ nghèo đói không bố, không mẹ. Bởi sao những con người ăn mặc sang trọng kia lại ghét bỏ chúng như thế? Nó bước đi với nỗi đau đớn trong người. Thế nhưng thật là trời xui, trên nẻo đường trở về nhà kho giữa trảng cát mênh mông dưới nắng chang chang, nó lại gặp, một lúc sau đó, con người mang áo ba-đờ-xuy. Hắn ta hình như hướng về một trong những chiếc tàu đang thả neo trong cảng và bay giờ thì hắn ta vắt cái áo ba-đờ-xuy trên cánh tay bởi vì nắng nóng như thiêu. Giáo-sư rút con dao cạo ra (họa hoằn lắm nó mới dùng đến dao) và nó bước lại gần con người đó. Nắng nóng đã xua đi hết, trên trảng cát không một bóng người và thằng cha mang áo ba-đờ-xuy kia thì tắt ngang qua bãi cát để rút ngắn đường tới bến. Giáo-sư luồn lướt lặng lẽ sau hắn, khi nó đến đã sát gần, nó vụt đứng sững trước mặt hắn, dao cầm tay. Chỉ vừa nhìn thấy mặt con người đó, tất cả những xúc cảm lộn xộn trong người nó chuyển thành một xúc cảm duy nhất: rửa hờn. Còn người kia nhìn nó, khiếp đảm. Giáo-sư vụt lớn lên đối mặt với hắn, dao cạo trong tay. Thằng cha càu nhàu rít giữa hai hàm răng:

- Cút đi, đồ vô lại.

Giáo-sư bước tới, dao trong tay, thằng cha tái xanh mặt.

- Thế này là thế nào? Thế này là thế nào? - Và hắn đưa mắt nhìn khắp xung quanh với hy vọng bỗng nhiên xuất hiện một ai đó. Nhưng mãi tận xa ở chỗ bể bốc dỡ, chỉ ở đó, mới thấp thoáng có bóng người qua lại. Thế là, thằng cha áo ba-đờ-xuy co cẳng chạy vừa lúc Giáo-sư nhảy chồm tới hắn và đưa một nhát dao vào bàn tay hắn. Chiếc ba-đờ-xuy rơi tuột xuống và từ bàn tay hắn máu chảy ròng ròng xuống cátGiáo-sư rẽ ngoặt đi ngược lại, lúng túng một lúc nên làm thế nào. Một viên cảnh sát rất có thể chốc lát mò tới đây, rồi lập tức có nhiều tên khác đến tiếp, hợp sức cùng thằng cha kia săn đuổi nó. Nếu chiếc tàu thằng cha ấy đi mà nhổ neo lên đường ngay, mọi việc sẽ êm đẹp, cuộc săn lùng sẽ chấm dứt nhanh thôi. Nhưng nếu hắn chưa vội đi, thằng cha nhất định sẽ đuổi theo cho đến khi túm được nó và sẽ cho nó vào nhà giam. Vừa lúc đó Giáo-sư nhớ đến cô hầu bàn. Nó tiến về phía quán giải khát, vào khu vườn trước quán, ra hiệu cho cô hầu bàn. Cô ta chạy tới tức khắc và hiểu ngay câu chuyện khi nhận ra thằng bé đến với chiếc ba-đờ-xuy. Giáo-sư báo ngay:

- Hắn ta bị một nhát dao vào bàn tay.

Cô gái cười:

- Mày đã trả thù được, phải không?

Cô gái đem chiếc ba-đờ-xuy vào tiệm giải khát, xếp và cất gọn. Giáo-sư trốn biệt cho đến khi thấy chiếc tàu nhổ neo. Và, đứng ở chỗ nấp trốn, nó theo dõi cuộc săn lùng của bọn cảnh sát qua trảng cát và trong những đường phố quanh đó. Ấy như thế Giáo-sư đã có được cái áo ba-đờ-xuy mà không bao giờ nó nghĩ đến chuyện bán đi. Nó đã thu về được một cái áo ba-đờ-xuy và quá nhiều hận thù. Và nhiều năm về sau, đến khi những bức vẽ thuốc của nó đã làm kinh ngạc cả đất nước (đó là những đề tài về cuộc sống của những đứa trẻ vô thừa nhận, những người hành khất già nua, những người thợ và những người phu khuân vác đương đập phá những nhà tù), mọi người đều ghi nhận rằng những thị dân giàu sụ bao giờ cũng xuất hiện với chiếc áo ba-đờ-xuy to xù đậm đà tính cách hơn cả chính những nhân vật đó.

Pê-đrô Ba-la, Giô-ao Gộc và Cẳng-Nhũn bước vào nhà kho. Chúng tiến vào cái nhóm đương đánh bài quanh Gã Mèo. Khi chúng nó tới, cuộc chơi dừng lại một thoáng, Gã Mèo đưa mắt nhìn nhanh ba đứa và hỏi:

- Các cậu đặt con bẩy rưỡi chứ?

- Phải chăng tớ mang một cái đầu ngu độn? Cẳng-Nhũn đáp.

Giô-ao Gộc ngồi xuống để xem xét. Pê-đrô Ba-la cùng đi với Giáo-sư ra xa, tới một góc. Nó muốn kiếm cho ra một cái mẹo gì để đem bức tưng Ô-gun ra khỏi đồn cảnh sát. Chúng nó bàn bạc với nhau hết một phần buổi tối và vừa đúng mười một giờ thì Pê-đrô Ba-la, trước khi ra đi, nói với tất thảy các Hảo hán nơi Trảng cát:

- Anh em, bây giờ tôi phải đi để làm một công chuyện khá gay go. Sáng sớm mai mà tôi không trở về đây, các bạn biết ngay là tôi đương ở đồn cảnh sát và tôi phải đến Nhà trừng giới để mọt xương ở đó. sẽ chuồn … hoặc rồi đây, các bạn sẽ tháo cho tôi ra khỏi.

Và nó đi ra. Giô-ao Gộc đi với nó cho đến cửa lớn, Giáo-sư quay trở lại với Gã Mèo. Những đứa nhỏ nhất suy nghĩ về chuyện ra đi của thủ lĩnh với ít nhiều lo lắng. Chúng đã đặt vào Pê-đrô Ba-la một lòng tin vững chắc và thiếu nó, nhiều đứa trong bọn chúng không biết xoay xở thế nào.

Mạch-Nha từ trong xó riêng đi ra, cắt quãng buổi nguyện:

- Có chuyện gì thế?

- Pê-đrô đã ra đi để làm một công chuyện khó khăn. Nếu ngày mai nó không trở về, tức là nó đã bị tóm cổ…

- Cánh ta sẽ giải thoát nó - Mạch-Nha đáp lại rất tự nhiên và người ta không thể ngờ rằng, chỉ dăm ba phút trước đó, nó cầu nguyện trước một bức hình Thánh Mẫu Đồng trinh cho sự cứu rỗi của cái linh hồn bé nhỏ của thằng ăn cắp là nó. Và nó quay trở lại với các vị thánh của nó mà cầu nguyện cho Pê-đrô Ba-la.

Ván bài lại tiếp tục. Mưa rơi và chớp giật, sấm rền và mây kéo trong bầu trời. Bên trong nhà kho rét thấu xương. Nước nhỏ giọt trên những đứa trẻ đương chơi bài. Nhưng cuộc chơi bây giờ chẳng còn giữ được sự chú ý của chúng, và ngay cả Gã Mèo cũng không nghĩ đến ăn tiền nữa, trong nhà kho lan tràn một nỗi lo âu. Tình trạng ấy cứ kéo dài cho tới lúc Giáo-sư thốt lên:

- Tớ đi ra xem chuyện gì xảy ra …

Giô-ao Gộc và Gã Mèo cùng đi với nó. Đêm hôm đó, lại là Mạch Nha đến nằm ngủ ở cửa lớn nhà kho, dao găm gối dưới đầu. Và, sát cạnh nó, Khuỷu-Khô-Khẳng nhô bộ mặt lầm lũi thăm dò đêm tối mịt mù. Và nó tự hỏi bây giờ cái toán của Lam-pi-ão có thể ở nơi nào, trong cái đêm bão tố này, xuyên qua khoảng rộng bao la vùng Ca-a-tin-ga. Rất có thể trong cái đêm bão tố này, họ đương đánh nhau với cảnh sát, cũng như là giờ đây Pê-đrô Ba-la sắp hành động. Và Khuỷu-Khô-Khẳng nghĩ rằng đến ngày Pê-đrô Ba-la trở thành người lớn, thằng ấy cũng sẽ can trường như Lam-pi-ão. Lam-pi-ão là chúa tể vùng Xéc-tao, chúa tể vùng những ca-a-tin-ga mênh mông vô biên. Pê-đrô Ba-la sẽ là chủ nhân ông thành phố, các dinh thự, các đường phố, các bến bãi. Và Khuỷu-Khô-Khẳng, nó vốn từ xéc-tao, sẽ có thể chu du khắp qua những ca-a-tin-ga và trong những thành phố, bởi vì Lam-pi-ão là cha đỡ đầu của nó và Pê-đrô Ba-la là bạn thân của nó. Nó bắt chước tiếng gà trống gáy và đó là dấu hiệu chứng tỏ Khuỷu-Khô-Khẳng lúc đó phấn khởi sung sướng.

Trong khi ngược dốc lên Khu Núi, Pê-đrô thầm kiểm lại kế hoạch của nóế hoạch này đã được Giáo-sư giúp đỡ dựng lên và, trong tất cả mọi vụ việc mà nó đã táo bạo ra tay, vụ này đúng là liều lĩnh nhất. Nhưng bà Đôn A-nin-ha thì hết sức xứng đáng để cho người ta xông vào cuộc mạo hiểm này vì bà. Mỗi khi có một đứa trong bọn chúng ốm đau, bà đem ngay đến các thuốc men bằng lá cây, chạy chữa cho và hầu như đều chữa khỏi. Và mỗi khi trên “lãnh thổ” của bà xuất hiện một Hảo hán nơi Trảng cát, bà đối xử với thằng bé ấy như là người lớn, như là Ô-găng của ngôi đền, bà đem cho nó thức ăn ngon nhất, thức uống tốt nhất. Kế hoạch quả là liều lĩnh thật sự, liệu có đưa lại chút kết quả nào không, hay là Pê-đrô Ba-la sau khi nếm mùi nhà đá vài ba ngày, cuối cùng sẽ được gửi đến Nhà trừng giới, ở đó thì đời sống còn khốn nạn hơn đời sống một con chó. Nhưng vẫn cứ có một chút xíu may mắn là việc sẽ trôi chảy và Pê-đrô Ba-la quyết chơi một keo một mất một còn. Với cái tia hy vọng đó, nó đã tới quảng trường nhà hát. Mưa tuôn ào ào và những người cảnh sát kéo mũ mưa trùm kín đầu để che. Nó bắt đầu ngược dốc São Ben-tô, thong thả đi ngang quảng trường Pi-ê-đa-dơ, leo dốc Rô-da-ri-ô, bây giờ thì nó đã đứng ở khu buôn bán, ngay trước bốt cảnh sát trung tâm, quan sát các cửa sổ, lính và thanh tra cảnh sát đi ra đi vào. Cứ mỗi phút một chuyến tàu điện chạy qua, rung cho đường ray nghiến cót két, chiếu cho đường phố đã sáng lại càng sáng thêm. Người cảnh sát quen với Đôn A-nin-ha, đã nói cho biết Ô-gun đang để tại gian phòng những người tạm giam, bị ném lên trên mặt một cái tủ, giữa đủ các thứ linh tinh tịch thu trong những cuộc lùng quét của cảnh sát vào hang ổ bọn trộm cắp. Trong gian phòng ấy, người ta tạm giam những kẻ bị bắt mà tên đã ghi vào sổ trước khi được hỏi cung, hoặc do các vị phái viên, hoặc do các ông câm trực ban và sau đó những kẻ ấy bị tống đi hoặc vào nhà lao, hoặc ra ngoài phố. Ở đó, trong một góc, người ta bỏ những đồ vật không có giá trị tịch thu được trong những chuyến lùng sục của cảnh sát, đầu tiên thì bỏ vào một cái tủ, chẳng mấy chốc tủ đã đầy ắp, thì đặt bên cạnh hoặc trên nóc tủ. Kế hoạch của Pê-đrô Ba-la là tìm cách lọt vào cả đêm hoặc một phần đêm trong gian phòng tạm giam và khi trở ra (nếu nó tìm được cách ra thoát) thì mang theo bức tượng Ô-gun. Về phần mình, nó được một lợi thế lớn. Cảnh sát hoàn toàn không biết nó. Có chăng chỉ rất hiếm vài người cảnh sát hiểu về nó như là một thằng nhóc vô danh ở đường phố, mặc dầu tất cả lính và ngay cả một số viên thanh tra đều sôi sục mong muốn tóm cổ được tay cầm đầu các Hảo hán nơi Trảng cát. Về nó, bọn họ chỉ biết lờ mờ là nó có vết sẹo, ở mặt, và Pê-đrô Ba-la đưa tay lên sờ cái vết sẹo. Nhưng họ tưởng vết sẹo ấy lớn hơn thế này, và hơn nữa họ hoàn toàn yên trí Pê-đrô Ba-la phải là dân lai và lớn tuổi hơn. Nếu họ có cách nào đó phát hiện ra được nó đúng là tay cầm đầu bọn Hảo hán nơi Trảng cát, rất có thể họ cũng chẳng cần tính đến việc chuyển nó đến Nhà trừng giới. Hầu như chắc chắn nó sẽ tiến thẳng tới nhà ngục khổ sai, bởi vì ở Nhà trừng giới còn có thể bỏ trốn được, chứ tại nhà ngục khổ sai thì đâu có. Cuối cùng thì… và Pê-đrô Ba-la đi cho tới Căng-pôx-Lớn[2]. Nhưng từ trước đó nó đã không còn giữ cái kiểu những bước đi vội vã của dân vô lại trong đường phố thành phố. Lúc này thì bước đi của nó lại chếnh choáng như kiểu đứa con trai của một thủy thủ, mũ cát-két kéo sụp xuống vì trời mưa, cổ áo ngoài màu đen (áo này chắc hẳn trước kia là của một người vóc dáng cao to) bẻ lật lên.

Người cảnh sát đứng tránh mưa dưới một cây to, Pê-đrô bước ngập ngừng như một người có gì sợ. Và khi nó nói với người cảnh sát thì giọng của nó là giọng một đứa trẻ đương sợ hãi cái buổi tối đông đảo ở thành phố.

- Thưa ông cảnh sát…

Người cảnh sát nhìn nó:

- Có chuyện gì đó, thằng nhãi?

- Tôi, tôi không phải là dân ở đây. Tôi ở bên kia Biển Lớn, tôi mới theo bố tôi đến đây, ngày hôm nay…

Người cảnh sát không để cho nó nói nốt.

- Và thế thì đến đây gặp tao có việc gì, hở?

- Tôi chẳng biết ngủ vào đâu! Tôi muốn xin ông cho tôi được vào ngủ trong sở cảnh sát.

- Sở cảnh sát không phải là một khách sạn, đồ vô lại. Đi đi, cút đi, cút đi… - Và anh ta ra hiệu cho Pê-đrô phải đi ra xa.

Ngay đó Pê-đrô lại cố gắng nối lại câu chuyện, nhưng người cảnh sát đã giơ dùi cui đe nó:

- Đi tìm một khu vườn mà ngủ! Cút đi!

Pê-đrô bỏ đi, nét mặt rầu rầu. Người cảnh sát đứng đó canh chừng dõi theo thằng bé. Pê-đrô dừng lại ở trạm tàu điện, đứng chờ. Chuyến thứ nhất đi qua, không có khách xuống, nhưng ở chuyến thứ hai thì có một cặp bước xuống. Pê-đrô nhảy chồm vào người đàn bà, người đàn ông thấy rõ nó muốn cướp cái túi xách tay của cô kia, và nắm chặt lấy Pê-đrô vào cánh tay. Sự việc xảy ra quá ư vụng về đến mức nếu một Hảo hán nơi Trảng cát có mặt ở đó, chắc chắn không thể nào nhận ra đó là thủ lĩnh của mình. Người cảnh sát theo dõi diễn biến vụ đó từ đầu bây giờ đã bước tới.

- À, thếy không phải dân ở đây là theo kiểu ấy. Một tên vô lại ăn cắp.

Anh ta bước đi, nắm chặt cánh tay Pê-đrô dắt theo. Thằng bé bước theo, vẻ mặt nửa sợ hãi, nửa hài lòng.

- Tôi làm như thế chỉ cốt để cho ông bắt tôi thôi…

- Thế nào?

- Tất cả những gì tôi đã nói, đó là sự thật. Bố tôi là thủy thủ, ông ấy có một chiếc thuyền ở Biển Lớn. Hôm nay, ông ấy để tôi lại đây rồi ông ấy không quay trở lại được, bởi vì có bão. Và tôi thì chẳng biết là ngủ ở đâu. Tôi xin được vào ngủ ở đồn. Ông không đồng ý, thế là tôi đã làm như là tôi có ý định ăn cắp của người đàn bà, chỉ cốt để ông đến bắt. Bây giờ thì tôi đã có chỗ ngủ rồi.

- Và lâu dài đấy!

Đó là câu trả lời duy nhất của người cảnh sát. Họ cùng đi vào trong bốt chính. Người cảnh sát đi dọc một hành lang, để Pê-đrô Ba-la lại trong gian phòng tạm giam. Ở đó đã có năm hoặc sáu người. Người cảnh sát nói và cười gằn:

- Bây giờ thì mày được ngủ đây, thằng quý tử của con mẹ mày! Và rồi khi quan cẩm đến đây, chúng ta sẽ xem mày được nghỉ lại đây trong nhiêu lâu.

Pê-đrô cứ im lặng. Những người bị giam kia chẳng một ai thèm để ý đến nó, bọn họ mải mê xoay vào chế giễu một tay “đồng dâm” đã bị bắt quả tang và xưng tên là “Ma-ri-nét-tơ”. Trong một góc, Pê-đrô Ba-la nhìn thấy cái tủ. Pho tượng Ô-gun đặt cạnh một cái rổ đựng giấy. Và trong khi những người kia say chuyện, nó cuộn Ô-gun (cũng không lớn, có nhiều những bức tượng khác lớn hơn nhiều) vào trong cái áo ngoài của nó rồi nằm dài xuống nền nhà. Nó gối đầu lên cái gối và giả vờ ngủ.

Những người bị tạm giam tối hôm đó vẫn tiếp tục cười cợt về tay “đồng dâm”, trừ một ông già cứ run cầm cập trong một xó, Pê-đrô không biết là do rét hay do sợ. Nhưng nó nghe tiếng một thanh niên đen đương hỏi Ma-ri-nét-tơ:

- Đứa nào đã phá trinh mày?

- Ồ, để yên cho tôi… - tay “đồng dâm” đáp lại, vừa cười.

- Không! Phải kể lại đi! Kể lại đi - Những người kia cùng nói.

- À! Vậy thì đó là thằng Lê-ô-pôn…

Ông già vẫn cứ run cầm cập. Một tên vô lại mặt hóp vì ho lao hướng vào ông già ngồi trong xó.

- Tại sao mày lại không dính với cái lão già bé nhỏ này?

Hắn ta hỏi Ma-ri-nét-tơ làm thằng này bực bội:

- Mày có thấy sờ sờ là tao không có chạy theo các cụ già hay sao? Và này, thế là đủ rồi, câm đi cho được việc.

Lúc này có một người lính gác phất phơ ở cửa ra vào và thằng cha có bộ mặt hốc hác quay sang phía ông già đương cúi gập người xuống.

- Nhưng mà ông, chắc ông cũng muốn hôm nay cho nó dính chứ, đúng không ông già?

- Tôi, tôi là một lão già. Tôi chẳng làm điều gì cả… ông già lẩm bẩm chứ không hẳn là nói ra - Tôi chẳng làm điều gì, con gái tôi đương đợi tôi…

Pê-đrô, mắt nhắm nghiền, đoán là ông già khóc, nhưng nó vẫn cứ tiếp tục giả vờ ngủ. Ô-gun cộm lên làm đau đầu. Những người bị tạm giam lại tiếp tục đùa cợt về cái anh chàng “đồng dâm” về ông già cho tới lúc một người lính khác đến bảo ông già:

- Mày, thằng già. Đi mau lên…

- Tôi chẳng làm điều gì cả… ông già còn nói nữa - Con gái tôi nó đang đợi tôi… - ông nói với tất cả, lính gác lẫn người bị tạm giam. Và ông ta run lẩy bẩy đến nỗi ai nấy đều cảm thấy thương hại ông ta và ngay cả đến tay vô lại mặt hốc hác cũng cúi đầu xuống. Duy nhất chỉ có tay “ đồng dâm” cười mỉm.

Ông già không trở lại. Sau đó đến lượt tay “ đồng đâm”. Nó vắng rất lâu. Gã có bộ mặt hốc hác kể rằng Ma-ri-nét-tơ là con nhà tử tế. Tất nhiên người ta sẽ gọi điện cho gia đình nó biết, yêu cầu đến nhận nó và đưa nó về, để khỏi lại phải bắt nó đến đây một lần nữa trong đêm nay. Chẳng cứ lúc nào, mỗi khi nó dùng ma túy quá nhiều, nó lại làm chuyện bậy bạ ngoài phố và cảnh sát lại tóm cổ nó đưa về… Khi Ma-ri-nét-tơ trở lại, thì chỉ là để lấy cái mũ nó còn để đó. Vừa hay nó nhìn thấy Pê-đrô Ba-la nằm đó và nó nói:

- Cái cậu này, sao non tơ thế! Nhưng quả là một mảnh tình con…

Pê-đrô nhổ nước bọt, mắt vẫn nhắm:

- Xéo ngay, đồ đĩ đực, không tao đập vỡ mồm bây giờ…

Những người kia cười và thế là, chỉ đến lúc này, họ xoay vào Pê-đrô.

- Vậy chứ chú mày làm cái trò gì ở đây, chuột nhà hở?

- Cái trò không dính dáng gì đến mày, đồ con kheẹc! Ba-la đáp lại gã mặt hốc hác.

Chính người lính gác cũng bật cười và anh ta kể cho những người kia câu chuyện của Pê-đrô. Nhưng anh thanh niên đen đã được gọi đi và mọi người lại im phăng phắc. Họ biết rằng anh chàng đen này đã xĩa một nhát dao vào một người khác trong một buổi hội nhảy múa blê-fo-rê. Khi anh ta quay trở lại thì hai bàn tay sưng lên vì những ngón đòn đánh vào đó. Anh ta nói rõ đầu đuôi:

- Họ bảo rằng tôi sẽ bị xử án vì những vết thương nhẹ… Và họ, họ đã giã cho tôi đến hai tá…

Anh ta nín bặt, tìm một xó và nằm vật xuống. Những người kia cũng im lặng. Và họ đi, từng người một, đến để được ông cẩm hỏi cung. Có những người được tha bổng, những người khác bị đưa đến hầm giam, những người khác nữa quay trở lại sau trận đòn. Bão đã tan và trời bắt đầu tờ mờ. Pê-đrô là kẻ cuối cùng được gọi đi. Nó để lại cái áo ngoài trong đó nó giấu Ô-gun.

Ổng cẩm là một trạng sư trẻ, trên ngón tay lấp lánh một viên hồng ngọc và ông đương hút một điếu xì gà. Khi Pê-đrô theo người lính gác bước vào cũng là lúc ông ta bảo đưa cà phê tới. Pê-đrô đứng trước cái bàn giấy, không động đậy. Người lính gác báo cáo:

- Tên này, đó là cái thằng bé trong vụ cướp giật ở Căng-pôx Lớn.

Ông cẩm khoát tay:

- Anh ra xem cà phê đã đem đến hay chưa…

Người lính gác rút lui. Ông cẩm đọc tờ báo cáo của cảnh sát đã bắt Pê-đrô Ba-la, đưa mắt nhìn thằng bé.

- Nào, mày có gì muốn nói nào? Và đừng có nói dối…

Pê-đrô kể lại với giọng sợ sệt một câu chuyện dài: rằng bố nó là ngư dân ở Biển Lớn và chính ngay hôm nay đây, vào buổi sáng ông ta đã dong thuyền đến đây và đưa nó theo. Nhưng sau đó, ông ta quay trở về để chở tiếp một chuyến nữa và để nó lại trong thành phố mà đi chơi rong bởi vì ông sẽ trở lại vào buổi chiều và bấy giờ nó sẽ trở về nhà cùng với bố nó. Nhưng giông bão đã cản trở không cho bố nó quay trở lại và nó chẳng quen biết ai, đành phải chịu bơ vơ dưới mưa, không biết tìm nơi đâu mà ngủ. Nó hỏi thăm một ông trong đường phố xem có thể ngủ nhờ được ở đâu, ông ta đã trả lời “ở đồn cảnh sát”. Vậy là nó đến xin với người cảnh sát cho nó về theo, nhưng người cảnh sát đã từ chối, nó đã phải làm bộ cướp giật của một người đàn bà hoàn toàn chỉ để được đưa về đồn cảnh sát, để được ngủ dưới một mái nhà.

- “… Rất đúng như thế và rõ ràng là tôi đã chẳng hề lấy cắp, chẳng hề bỏ chạy…” - Nó kết thúc như vậy.

Người hỏi cung, đương nhấm nháp từng ngụm cà-phê tự nói với mình:

- Không thể nào một đứa trẻ cỡ tuổi này lại bịa ra được một câu chuyện như thế - Thế rồi, bởi vì ông ta cũng có ít máu văn chương, ông lẩm bẩm: “ Sẽ là một thiên truyện ngắn tầm cỡ đây” - và ông mỉm cười nói:

- Bố mày tên là gì? - Ông ta hỏi Pê-đrô.

- Âu-guy-xtô Xăng-tốx - thằng bé đáp lại, dẫn tên một ngư dân ở Biển Lớn.

- Nếu mày nói đúng sự thật, tao sẽ tha mày ra! Nhưng nếu mày lại muốn đánh lừa tao với câu chuyện ấy, mày sẽ biết…

Ông ta bấm chuông, gọi người lính gác, Pê-đrô cảm thấy tất thẩy các dây thần kinh căng lên. Người lính gác bước vào, ông cẩm hỏi anh ta rằng liệu sở cảnh sát có giữ một quyển sổ ghi tên những ngư dân ở Biển Lớn đến thả neo ở bến bãi vùng chợ không?

- Vâng, thưa ông có quyển sổ ấy đấy ạ.

- Vậy anh hãy tìm xem có tên một người là Âu-guy-xtô Xăng-tốx ghi trong sổ không, rồi quay lại nói cho tôi biết ngay. Và nhanh chân lên, gần đến giờ nghỉ của tôi rồi…

Pê-đrô Ba-la ngước nhìn chiếc đồng hồ trên tường: kim đã chỉ năm giờ rưỡi sáng. Người lính gác đi khỏi chừng dăm phút, ông cẩm không còn để ý đến Pê-đrô vẫn cứ đứng yên, trước bàn giấy của ông. Và chỉ đến khi người lính gác quay trở vào và báo cáo:

- Có tên người đó. Vâng, thưa ông. Ngay ngày hôm nay, người ấy đã có mặt ở bến nhưng lại trở về ngay…

Ông cẩm phẩy tay bảo người lí

- Thả cái thằng ăn hại này ra…

Pê-đrô xin phép đi lấy cái áo ngoài. Nó cắp cái áo dưới cánh tay và không ai có thể ngờ rằng nó mang theo bức tượng Ô-gun ngay giữa những nếp áo gấp. Lại đi dọc hành lang rồi người lính thả nó tự do trước cửa lớn. Pê-đrô đi theo hướng quảng trường A-pơ-li-giê, vòng sau trại lính cũ, lần tới trên Gam-boa đơ-xi-ma. Bây giờ thì nó đi như là chạy. Chợt nó nghe có tiếng bước phía sau. Hình như có ai đuổi theo nó. Nó nhìn lại. Giáo-sư, Giô-ao Gộc, Gã Mèo đương chạy theo sau. Nó dừng lại chờ cho bọn kia đuổi kịp và hỏi, tò mò:

- Vậy chứ chúng mày làm cái trò gì ở vùng này?

Giáo-sư đưa tay lên gãi đầu:

- Mày không thấy anh em đi ra ngoài rất sớm đó sao? Và anh em đi qua đi lại ở nơi này, đi chẳng để làm gì cả. Đúng lúc đó thì bọn tớ vừa “chộp” được mày đương co giò chạy thục mạng…

Pê-đrô mở cái áo ra, chìa cho thấy pho tượng Ô-gun. Giô-ao Gộc nở một nụ cười hài lòng.

- Mày đã làm thế nào để đưa bọn chúng vào xiếc?

Chúng nó xuôi con đường dốc trơn vì nước mưa đêm qua. Và Pê-đrô vừa đi vừa kể lại những chuyện “mạo hiểm” trong đêm đó. Gã Mèo hỏi:

- Mày không lúc nào mảy may run sợ ư?

Thoạt đầu, Pê-đrô Ba-la đã muốn nói là không, sau đó thì nó thú thật:

- Nói cho thật thì tớ cũng đã hơn một phen hoảng vía…

Và nó cười cái vẻ thộn trên mặt Giô-ao Gộc tự tạo nên. Bầu trời giờ đây xanh biếc, không chút mây, mặt trời chiếu sáng và ở ngoài kia, từ trên dốc cao, chúng nó thấy những chiếc thuyền rời bến khu Chợ…

❀ ❀ ❀

[1] Puốc boa (pour boire) tiền khách ăn uống cho thêm người hầu bàn, ngoài số tiền trả cho nhà hàng.

[2] Căng-pox (campos) vùng cỏ cao nguyên ở Bra-din

ães da Areia (Captains of the Sand, 1937) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hà Nội 1986
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.