Ô-muy-luy gieo đậu mùa lên thành phố. Nhưng, trên cao kia, những kẻ giàu sang đã chủng đậu và Ô-muy-luy là một nữ thần của rừng rậm châu Phi, thần chẳng biết chút gì về những cái gọi là chng đậu đó. Và bệnh đậu mùa ập xuống vùng khu phố những người nghèo, nó nhảy chồm vào họ và quật ngã xuống giường con người đen đầy mụn mủ. Thế là những nhân viên cơ quan y tế xộc đến, họ nhét những người đàn ông ốm vào trong từng chiếc chiếc baoi và đem đến cái khu cách ly xa xôi. Đàn bà chỉ có ở lại nhà mà khóc, và biết rằng không bao giờ những con người ấy trở về nữa.
Ô-muy-luy đã tung bệnh đậu mùa đen lên khu phố cao, Ô-muy-luy là vị nữ thần của rừng rậm châu Phi. Làm sao bà ấy biết được những thứ tiêm chủng và những thứ khoa học? Khốn nỗi bệnh đậu mùa đã được thả ra (lại là cái đậu mùa đen khủng khiếp), Ô-muy-luy đành phải để cho nó tràn xuống phía khu phố những người nghèo. Bây giờ thần đã thả nó ra rồi, muốn hay không cũng phải để cho nó thực hiện các công việc của nó. Nhưng cũng vì Ô-muy-luy đoái thương những a con nghèo của mình, thần rút trở về cái sức tàn phá của đậu mùa đen và chuyển thành thủy đậu chỉ là một thứ đậu mùa trắng và nhẹ, gần như một chứng sởi. Mặc dầu vậy, nhân viên cơ quan y tế vần cứ đến và bắt đem đi những ngườiị bệnh đến khu cách ly. Tại đó, gia đình không thể đến thăm hỏi, họ chẳng có ai bên cạnh, ngoài người thầy thuốc. Họ chết chẳng một ai biết được cái chết đó và khi có một người trong bọn họ may mắn trở về được, mọi người đều coi như là một cái xác chết hồi sinh. Báo chí nói về nạn dịch đậu mùa và về sự cần thiết phải chủng đậu. Trong các ngôi đền của người đen trống nổi lên đêm ngày không dứt, cầu thỉnh lên Ô-muy-luy để làm dịu cơn giận dữ của Ô-muy-luy. Ông “đồng” Panh, người thân cậủa Ô-muy-luy, từ trên cao khu A-ba-ca-xi, thêu một tấm thảm bằng lụa với những vẩy vàng để dâng lên Ô-muy-luy làm mong dịu sự cuồng giận của thần. Nhưng Ô-muy-luy từ chối, Ô-muy-luy đấu tranh chống việc chủng đậu.
Trong nhà kẻ nghèo, đàn bà kêu khóc. Họ sợ bị bệnh thy đậu, họ sợ khu cách ly.
An-mi-rô là đứa đầu tiên trong băng Hảo hán nơi Trảng cát bị bệnh đậu mùa. Một buổi tối thằng bé đen Ba-răng-đão đi tìm nó trong cái xó của nó để làm tình (cái kiểu làm tình Pê-đrô Ba-la đã cấm tiệt trong nhà kho), An-mi-rô bảo nó:
- Tớ bị một cơn nổi ngứa thật là kinh ng…
Nó giơ cánh tay đã mọc đầy mụn đậu cho Ba-răng-đão.
- Có thể nói thêm rằng tớ nóng bỏng lên vì cơn sốt.
Ba-răng-đão là một thằng bé đen can đảm, tất cả bọn đều biết rõ như thế. Nhưng đối với bệnh đậu mùa cái bệnh đu mùa của Ô-muy-luy, Ba-răng-đão mang một nỗi kinh khiếp cuồng điên, một nỗi kinh khiếp từ biết bao nhiêu chủng tộc châu Phi đã dồn đúc vào nó. Và chẳng còn sợ quan hệ dâm đãng với An-mi-rô bị phát hiện, nó chạy ra xa, kêu ầm lên trong những đám đương tụ họp:
- An-mi-rô bị bệnh đậu mùa!... Chúng mày ơ An-mi-rô bị bệnh đậu mùa!
Bọn trẻ dần dần đứng lên và sợ sệt lảng xa cái xó An-mi-rô nằm. Thằng bé bắt đầu khóc thút thít. Pê-đrô Ba-la chưa trở về. Giáo-sư, Gã Mèo và Giô-ao Gộc, mấy đứa nữa, cũng đương đi đâu vắng. Như vậy thì Cẳng-Nhũn phải xem xét tình thCẳng-Nhũn, trong những ngày gần đây, càng ngày càng sống tách riêng, hầu như chẳng chuyện trò với ai cả. Nó bầy ra đủ trò giễu cợt quá đáng đối với mỗi đứa, với đứa nào nó cũng gây sự và nó chỉ còn kiêng nể Pê-đrô Ba-la. Mạch-Nha cầu nguyện cho nó nhiều hơn là cho bất cứ đứa nào khác và có lúc ch-Nha đã nghĩ rằng quỷ Sa-tăng đội lốt Cẳng-Nhũn. Linh mục Giô-dê Pê-đrô đã rất kiên nhẫn đối với nó, nhưng ngay đối với linh mục, Cẳng-Nhũn cũng vẫn lánh xa. Nó chẳng muốn biết bất cứ điều gì của bất cứ ai, một câu chuyện có nó dính vào thì thể nào cũng là một câu chuyện chuyển dn thành đánh lộn.
Khi Cẳng-Nhũn đi vào trong các nhóm, bọn trẻ tránh né ra. Chúng nó ghê sợ nó cũng như ghê sợ bệnh đậu mùa. Cẳng-Nhũn mới đem về nuôi mấy hôm nay một con chó và nó tận tình chăm sóc. Những ngày đầu, khi con chó đói meo ở đâu mò đến nhà kho, Cẳng-Nhũn hành hạ con vật không tiếc tay, nhưng cuối cùng nó lại vuốt ve con vật và gắn bói nó. Bây giờ thì dường như nó chỉ sống hoàn toàn vì con chó thôi. Và chính vì thế mà nó quay đi để đem con chó theo nó ra thật xa An-mi-rô. Rồi nó trở lại với bọn trẻ. Bọn này vây quanh An-mi-rô ở ngoài xa. Chúng chỉ cho nhau thấy những nốt mụn nổi lên trên ngực thằng bé. Trước tiên, Cẳng-Nhũn bảo ngay Ba-răng-đão bằng cái giọng mũi của nó:
- Bây giờ thì mày sẽ bị bệnh đậu mùa ở mẩu đuôi mày, cái thằng đen đồ con lừa!
Ba-răng-đão nhìn nó, kinh hãi. Sau đó, Cẳng-Nhũn nói với tất cả, chỉ tay vào An-mi-rô:
- Chẳng ai ở đây lại để cho mắc bệnh đậu mùa vì đôi mắt đẹp của gã đĩ đực này!
Tất cả nhìn nó, đợi nó nói, An-mi-rô nức nở, hai tay úp lên mặt, giật lùi, kinh hoảng, tới sát tường. Cẳng-Nhũn nói:
- Nó phải cút khỏi nơi đây ngay tức khắc. Mày hãy kiếm lấy một xó nào ngoài đường phố mà chui vào cho đến lúc bọn “cũi chó hoang” của y tế đem mày đến khu cách ly.
- Không, không! - An-mi-rô gào lên.
- Cứ! Mày cứ phải đi - Cẳng-Nhũn bảo - Không ai lại đi triệu “cũi chó hoang” đến đây để rồi cảnh sát biết chỗ cánh này nương náu. Mày phải xéo đi, dù hay dù dở cho mày, và mang luôn bọc quần áo của mày. Cút đâu thì cút, đừng có để bọn này phải mang lấy cái bệnh đậu mùa vì mày, vì lòng thân ái với mày, đồ đĩ đực.
An-mi-rô cứ mộtc lắc đầu “không”, “không”, và tiếng khóc nức nở của nó âm vang nhà kho. Thằng bé đen Ba-răng-đão run cầm cập, Mạch-Nha gào to lên rằng đó là một sự trừng phạt của Chúa do những tội lỗi của chúng, những đứa kia thì chẳng biết phải làm thế nào. Cẳng-Nhũn đã sẵn sàng tống khứ thằng ốm bằng sức mạnh, Mạch-Nha nâng một bức tranh Đức mẹ Đồng Trinh lên và bảo:
- Chúng ta hãy cầu nguyện, hãy coi đó chính là một sự trừng phạt vì tất cả những tội lỗi của chúng ta. Bọn ta đã phạm quá nhiều tội lỗi. Chúa trừng phạt chúng ta. Chúng ta hãy cầu xiười tha thứ.
Và tiếng nói của nó nghe như một tiếng gào, cứ vang vọng lên, báo hiệu sự rửa hận.
Một số đứa chắp hai bàn tay và Mạch-Nha đã có thể bắt đầu cầu kinh “Đức Chúa Cha chúng tôi”. Nhưng Cẳng-Nhũn đưa tay gạt nó ra:
- Cút khỏi đây ngồ mê tín ngu muội!
Mạch-Nha vần tiếp tục cầu kinh, giọng nhỏ lại, bây giờ chỉ hướng về với vị thánh. Đúng là một cảnh tượng kỳ lạ: Trong góc tường, An-mi-rô khóc nức nở và một mực nói “không”, Mạch-Nha cầu kinh và bọn trẻ thì dùng dằng không quyế chúng nó chẳng biết là phải làm gì. Cẳng-Nhũn lại lên tiếng:
- Này quân ta, nếu nó không chịu ra khỏi đây, ta sẽ hất nó rơi như một quả bóng xuống dưới kia kìa, bằng những nắm đấm. Nếu không, bọn ta sẽ tiêu ráo vì bệnh đậu mùa, tuốt thuột luột… Chúng mày không thấy t hay sao, đồ khốn. Phải quẳng nó ra ngoài, tới một đường phố mà người ta sẽ đem nó đến khu cách ly.
- Không, không! - An-mi-rô kêu lên - Vì lòng nhân ái của Chúa!
- Điều đó, đó là một sự trừng phạt… Mạch-Nha nói.
- Câm ngay cái họng, đồ thầy dòng ranh.
Cẳng-Nhũn nói tiếp:
- Lôi cổ nó đi thôi, các tướng, nó cứ nằng nặc không chịu đến đó để gặp may…
Thấy bọn kia vẫn cứ dùng dằng, nó tiến lại bên An-mi-rô và giơ cẳng đạp đứ thẳng này một cái.
- Phải như thế này này, mày sẽ đi ra ngoài, đồ đậu mùa!
An-mi-rô càng co dúm lại:>
- Không, mày không làm thế được! Tớ là người trong bọn. Hãy đợi Ba-la trở về.
- Đó là một sự trừng phạt!... Đó là một sự trừng phạt!...
Tiếng nói của Mạch-Nha lại càng cho Cẳng-Nhũn nổi nóng lên hơn và nó đá cho An-mi-rô một cái thực sự.
- Cút đồ đậu mùa! Cút đi, đồ đĩ đực!
Nhưng đúng ngay lúc đó, một bàn tay nắm lấy nó và đẩy nó ra một bên.
Khuỷu-Khô-Khẳng đứng thẳng giữa An-mi-rô và Cẳng-Nhũn. Thằng lai này cầm khẩu súng lục trong tay và đôi mắt nó nẩy lửa.
- Tớ thề rằng súng đã nạp đạn và kẻ đầu tiên đụng đến An-mi-rô…
Và nó nhìn cả bọn với bộ mặt lầm lũi của nó.
- Vậy chứ mày định giở cái trò gì thế hở, đồ kẻ cướp?
Cẳng-Nhũn muốn lấy lại cái lợi thế.
- Nó không phải là một đứa trong bọn cảnh sát để đến nỗi ta phải đối xử theo kiểu ấy. Nó là trong bọn và nó nói thế là có lý. Chúng mình hãy cứ chờ khi nào Pê-đrô Ba-la đến. Cậu ta sẽ quyết định việc này. Và nếu bây giờ một kẻ nào đụng đến nó, tớ xử ngay, hoàn toàn coi như khốn kiếp cảnh sát.
Và nó xiết chặt khẩu súng lục trong lòng bàn tay.
Bọn kia lảng ra dần dần. Cẳng-Nhũn khạc nhổ:
- Bọn chúng mày tất cả là đồ hèn nhát…
Và nó bỏ đi đến với con chó đương chờ nó. Nó nằm dài xuống bên con chó và những đứa nào đứng không xa nơi đó đều nghe nó lẩm bẩm: “Hèn nhát, hèn nhát!”.
Khuỷu-Khô-Khẳng đứng trước An-mi-rô, súng lục trong tay. An-mi-rô nức nở và càng khóc to, gào to khi nó nhìn vào những mụn mủ mọc đầy dần trên thân thể. Mạch-Nha cầu kinh, nó cầu xin với Chúa hãy trở lại là tuyệt nhân hậu chứải là chí công bằng.
Sau đó Mạch-Nha nhớ tới linh mục Giô-dê Pê-đrô và nó bỏ đi tìm ông. Nó lách ra khỏi cửa lớn nhà kho đi thẳng đến nhà ông linh mục. Nhưng trên đường đi, nó vẫn không ngớt cầu nguyện, đôi mắt mở to vì nỗi lo sợ, nỗi sợ Chúa.
Pê-đrô Ba-la về bất chợt, cùng đi với Giáo-sư và Giô-ao Gộc. Chúng quay trở về sau một vụ làm ăn trôi chảy, và đương bình luận chiến thắng qua những sặc cười to. Gã Mèo đã cùng đi với chúng nhưng không củng trở về, hắn ngủ lại ở nhà Đan-va. Ba đứa kia bước vào trong nhà kho và điều đầu tiên chúng thấy là Khuỷu-Khô-Khẳng với ẩu súng lục trong tay.
- Thế này là thế nào? - Pê-đrô Ba-la hỏi.
Cẳng-Nhũn từ trong cái xó của nó bước ra, con chó theo sau.
- Cái thằng khốn kia đội lốt kẻ cướp không chịu để anh em làm theo tớ quyết định.
Và nó đưa ngón tay chỉ vào An-mi-rô:
- Cái con chuột kia, kia kìa, bị đậu mùa…>
Giô-ao Gộc co dúm lại, Pê-đrô Ba-la nhìn An-mi-rô, Giáo-sư bước lại gần Khuỷu-Khô-Khẳng. Thằng lai vẫn không chịu buông khẩu súng. Thấy thế, Pê-đrô Ba-la hỏi:
- Chuyện đã xảy ra thế nào, Khuỷu-Khô-Khẳng?
- Thằng kia đã mắc phải cái bệnh đáng nguyền rủa…
Nó hng vào thằng bé đen đương khóc nức nở.
- Và cái đồ khí độc kia, lại muốn tống cổ nó ra giữa đường phố để cho cơ quan y tế đem nó đến khu cách ly, cứ như nó là một tên lính của cảnh sát. Tớ, tớ không can thiệp vào chuyện đó. Nhưng thằng bé thì lại không muốn đi ra đó, và tất cả bọn kia kìa, tất cả một bầy - nó khạc nhổ - đã định đánh đập để bắt nó phải cuốn xéo. Chẳng ai động lòng khi nó nói rằng nó là một đứa trong bọn, tất cả hãy nên chờ cậu trở về đã. Tớ nhận thấy nó nói thế là đúng và lúc đó tớới đứng về phía nó. Đâu phải là một tên lính của cảnh sát để mà đối xử với nó cách đó.
Pê-đrô Ba-la vỗ lên vai thằng lai. Sau đó, nhìn An-mi-rô.
- Đúng là mày mắc phải bệnh ấy chứ?
Thằng bé cúi đầu, rồi bật khóc nức nở. Cẳng-Nhũn la lên:
- Không có cách nào khác là cứ làm theo như tớ đã nói. Hẳn là không ai có thể đi gọi cơ quan y tế đến đây để rồi tất cả mọi người đều biết rõ nơi chúng ta trú ngụ. Chỉ còn mỗi cách là đem nó đặt ra ngoài một đường phố nào đó có người qua lại. Nhất định ta sẽ làm như thế, dù mày muốn hốn…
Pê-đrô Ba-la hét lên:
- Ở đây ai là chỉ huy, mày hay tao? Mày có muốn tao đập vỡ mặt không?
Cẳng-Nhũn lảng ra xa, vừa đi vừa lẩm bẩm. Con chó chạy theo liếm vào chân nó, nhưng bị nó đá cho một cái. Thế rồi ngay lập tức nó hối lại và vuốt ve con chó, trong khi nó liếc mắt m theo dõi theo xem bọn kia.
Pê-đrô Ba-la tiến lại bên An-mi-rô, Giô-ao Gộc cố gắng hết sức dẹp nỗi sợ hãi xuống để nó cũng vậy, tiến lại gần bên An-mi-rô. Nhưng sự sợ hãi bệnh đậu mùa đã quá mạnh ở nó, hầu như vượt hẳn lòng nhân bản của nó. Ch mỗi Giáo-sư là có mặt cạnh Pê-đrô Ba-la. Pê-đrô bảo An-mi-rô:
- Để tớ xem nào…
An-mi-rô giơ cho nó xem hai cánh tay mọc đầy những mụn. Giáo-sư nói:
- Đây là đậu mùa trắng. Đậu mùa đen thì nó đen lại ngay lập tức…
Pê-đrô Ba-la đứng yên, tư lự. Một sự yên lặng lan khắp trong nhà kho. Giô-ao Gộc đã thắng được sợ hãi và bước lại gần. Nhưng nó bước đi có vẻ rụt rè và hình như nó phải chủ động dữ dội để có thể đi tới được bên An-mi-rô. Ngay lúc đó, Mạch-Nha bước vào, theo sau là linh mục Giô-dê Pê-đrô. Vị linh mục cất tiếng chào chúng nó và hỏi xem đứa nào bịốm. Mạch-Nha chỉ vào An-mi-rô. Ông linh mục bước tới phía thằng ốm, lại gần nó, cầm lấy cánh tay nó, xem xét. Sau đó, ông nói với Pê-đrô Ba-la.
- Phải tìm cách cho cơ quan y tế đưa nó đi…
- Đến khu cách ly?
- Phải!
- Không, nó sẽ không đến đó, không! - Pê-đrô Ba-la nói thẳng.
Cẳng-Nhũn đứng lên và mt lần nữa lại đến gần họ.
- Tôi đã nói thế từ đầu. Nhất định nó phải đến khu cách ly.
- Nó sẽ không đến đó - Pê-đrô Ba-la nhắc lại.
- Vì sao? Hở con? - Linh mục Giô-dê Pê-đrô hỏi.
- Cha biết quá rõ, thưa cha, chẳng một ai từ khu cách ly quaề cả. Chẳng một ai trở về. Và nó, nó là một đứa trong chúng tôi, một đứa trong bọn. Không thể để như thế được…
- Nhưng đó là luật pháp, con ạ!
- Để chết?
Ông linh mục đăm đăm nhìn Pê-đrô Ba-la, đôi mắt mở to. Những đứa trẻ này chống để làm cho ông kinh ngạc, luôn luôn vươn lên hơn về trí lực mà ông không thể tưởng tượng. Và, từ trong thâm tâm chính ông, vị linh mục biết rất rõ rằng chúng nó có lý.
- Không, nó sẽ không đến đó, thưa Cha - Pê-đrô Ba-la dứt khoát.
- Vậy thì, con sẽ làm được gì, hở con?
- Chạy chữa cho nó ở đây…
- Nhưng mà làm thế nào…
- Tôi sẽ mời bà Đôn A-nin-ha…
- Nhưng mà bà ấy không được thừa nhận làm cái việc này…
Pê-đrô Ba-la đứng im ngỡ ngàng. Một lúc sau, nó nói:
- Thà nó chết ở đây còn hơn là ở khu cách ly.
Cẳng-Nhũn lại một lần nữa chõ v:
- Tất cả mọi người sẽ mắc đậu mùa…
Và nó quay về những đứa khác:
- Tất cả mọi người đều sẽ mắc đậu mùa. Không thể để cho làm như thế.
- Câm cái mõm, đồ mạt kiếp, không tao dần cho bây giờ! Pê-đrôảo.
Nhưng ông linh mục can thiệp:
- Nó nói có lý đấy, Ba-la!
- Nó sẽ không đi đến khu cách ly, thưa Cha. Cha vốn nhân hậu và Cha cũng biết quá rõ rằng nó không thể nào đến đó được. Nơi đó quả là một cảnh cơ cực thật sự, mọi người chỉ có chết.
Ông linh mục hiểu rằng cái đó quả là sự thật, ông lặng im.
Đúng lúc đó, Giô-ao Gộc cất tiếng hỏi:
- Thế nó không có nhà hay sao?
- Ai?
- An-mi-rô. Đúng, nó có nhà đấy!
- Tôi không muốn quay trở về đó. Tôi đã bỏ trốn…
Pê-đrô Ba-la lại bên An-mi-rô và nói với nó bằng giọngất dịu hiền:
- Cứ thế đã, An-mi-rô. Tớ sẽ đến đó trước. Tớ sẽ nói chuyện với mẹ mày. Sau đó, anh em sẽ đem mày về đó. Ở nhà, mày sẽ được chữa khỏi, mày sẽ chẳng phải đến khu cách ly. Và ông linh mục sẽ tìm một ông thầy thuốc chữa chạy cho mày. Cha sẽ tìm chứ, phải không, thưa Cha?
- Ta sẽ đưa thầy thuốc đến, được - linh mục Giô-dê Pê-đrô hứa.
Vốn có một điều luật bắt buộc cư dân trong thành phố phải báo cho cơ quan y tế những trường hợp đậu mùa mà họ biết ể tổ chức y tế tiến hành việc “bốc” lập tức bệnh nhân đem đến khu cách ly. Linh mục Giô-dê Pê-đrô biết rõ điều luật ấy, nhưng lại một lần nữa, ông đứng về phía các Hảo hán nơi Trảng cát chống lại luật pháp.
Pê-đrô Ba-la đến nhà An-mi-rô, bà mẹằng bé gần như phát điên vì câu chuyện ấy, đó là một bà thợ giặt đã xây dựng gia đình với một chủ trại nhỏ ở xa bên ngoài thành phố Rơm Rạ. Họ nhận An-mi-rô về và ông linh mục đến thăm nó, sau đó ông trở lại với một thầy thuốc. Nhưng rủi sao, cái ngườầy thuốc này lại đương cầu mong một chân làm việc ở cơ quan y tế và hắn tố giác ngay cái trường hợp đậu mùa này. Thế là, muốn sao thì muốn, An-mi-rô vẫn bị đem đến khu cách ly và ông linh mục bị xúi quẩy, bởi vì người thầy thuốc (tay này vẫn tự xưng là tự dư tưởng, nhưng hắn ta thật ra, theo giáo phái Giáng thần) cũng tố cáo luôn ông linh mục như tòng phạm. Nhà chức trách không đụng chạm tới ông linh mục, nhưng họ lại đến than phiền với tòa Tổng Giám mục. Và linh mục Giô-dê Pê-đrô được triệu tập đến gặp ngài tu sĩ bí thư của tòa Tổng Giám mục. Ông như bị sét đánh ngang tai.
Những tấm diềm che cửa nặng nề, những chiếc ghế có lưng dựa cao, một bức chân dung thánh I-nhát-xơ trên một bức tường. Phía tường bên kia, một cây thánh giá. Một cái bàn lớn, những tấm thảm đắt tiền. Linh mục Giô-dê Pê-đrô bc vào trong phòng, tim đập thành tiếng dồn dập. Ông không biết đầy đủ cái duyên cớ đã dẫn đến sự kiện ông được vị tu sĩ bí thư tòa Tổng Giám mục mời đến lâu đài Đức Tổng Giám mục. Mới thoạt biết, ông nghĩ ngay đến cái giáo phận đã trông mong mỏi mắt từ hai năm nay. Liệu có i là về việc cái giáo phận ấy không? Ông mỉm cười vẻ hoan hỉ! Như vậy thì, đúng, ông sắp sửa trở thành một vị linh mục thật sự. Sẽ có những tấm linh hồn được giao phó cho ông, ông sẽ có nhiệm vụ về linh hồn. Ông sẽ được phụng sự Chúa. ưng cũng có một nỗi buồn nào đó lấn vào tâm hồn ông và những đứa con của ông, những đứa con bị bỏ rơi trong các đường phố Ba-hi-a, nhất là những Hảo hán nơi Trảng cát, chúng nó sẽ xoay sở ra sao trong việc này? Ông là một trong những người bạn hiếm hoi của chúng. Không hềị linh mục nào khác chịu cúi xuống với những đứa trẻ ấy. Họ thì bằng lòng với việc tổ chức lúc này lúc khác một buổi cầu nguyện ở Nhà trừng giới, cái việc đó chỉ đẩy họ gây ác cảm nhiều thêm với bọn trẻ con mà họ đã làm chm thêm giờ uống cà-phê xái loãng. Linh mục Giô-dê Pê-đrô, mặc dầu ông trông mong cái giáo phận của mình, vẫn hết lòng với lũ trẻ bị bỏ rơi. Ông không thể nói rằng ông đã đạt được những kết quả to tát. Nhưng cần thiết phải hiểu rằng ông hiện đương tiến hành một cuc thí nghiệm đã nhiều phen ông phải lùi bước. Cũng chỉ là gần đây thôi, ông linh mục mới thu hút được đầy đủ lòng tin cậy của bọn trẻ con. Bây giờ thì những đứa trẻ ấy coi ông là bạn, ngay cả khi không nghiêm chỉnh đặt ông vào vị trí linh mục. Ông linh mục đã phải bước qua biết bao điềếng để có được lòng tin cậy của những Hảo hán nơi Trảng cát. Nhưng Giô-dê Pê-đrô thừa nhận rằng chỉ riêng với thằng bé này thôi, Mạch-Nha và thiên hướng của nó, cũng đã đủ bù đắp lại nỗi vất vả của ông rồi. Ông linh mục đã phải nhiều phen vi phạm biết bao ều quy định người ta đã dạy cho ông. Ông lại còn phụ họa ngay cả với những điều mà Nhà thờ sẽ kết tội. Nhưng những cái đó chính là phương tiện duy nhất… tới đây, ông linh mục lại chợt nghĩ rằng rất có thể do cái việc ấy mà người ta triệu tậến. Chắc hẳn là do cái chuyện ấy thôi. Đã có vô khối các bà si đạo cứ ca cẩm về những quan hệ của ông với bọn trẻ con chuyên kiếm sống bằng trộm cắp. Và thế rồi lại còn trường hợp An-mi-rô. Cũng lại chắc hẳn là do cái khoản này thôi.
Phát hiện ra cái uyên cớ ấy của sự triệu tập, cảm giác đầu tiên của ông là một nỗi kinh hoàng khôn lường. Ông sẽ bị trừng phạt, chắc chắn quá đi rồi, ông sẽ mất sạch hy vọng về cái giáo phận. Ông là trụ cột đỡ đần cho một bà mẹ già, một cô em gái hc ở trường Sư phạm. Thế rồi ngay lập tức sau đó, ông lại nghĩ rằng, rất có thể là như thế, tất cả những điều ông đã làm đó cũng chỉ là lỗi lầm, sẽ không được bề trên chấp nhận. Vậy đấy ở chủng viện, người tạy cho ông biết phải tuân thủ. Nhưng mà ông lại hướng về với lũ trẻ con. Trong ký ức ông lần lượt lướt qua những khuôn mặt của Mạch-Nha, Pê-đrô Ba-la, Giáo-sư, Cẳng-Nhũn, Sống-Nhàn, Gã Mèo. Thật là cần thiết phải cứu giúp những đứa nhỏ ấy. Trẻ con, đó chính là ướện lớn nhất của Chúa Ki-tô. Người ta phải làm tất cả để cứu giúp những đứa trẻ đó. Đâu phải lỗi của chúng nếu chúng hư hỏng…
Ngài tu sĩ cẩn thận bước vào. Tập trung vào những suy nghĩ của mình, ông linh mục đã không nhận ra là chỉ có chờ đợi vịấy, biết bao nhiêu giờ phút đã trôi qua. Hơn thế nữa, ông không trông thấy tu sĩ đi vào, bước nhẹ nhàng. Ông này người cao, rất gầy, gân guốc, chiếc áo thụng của ông ta rất sạch sẽ, mấy sợi tóc còn lại lơ thơ trên đầu được chải rất cẩn thận, Đôi môi ông vạch một nét cứng. Một dây tràng hạt vòng trên cổ ông. Và cho dầu bộ mặt của ông phảng phất một vẻ tinh khiết, cái vẻ tinh khiết đó chẳng làm dịu chút nào những nét riêng của ông, ở những nét riêng đó không ai nhận thấy được một chút thiện cảm nhân tính nào ở khuôn mặt ông ta, ở những nét riêng cứngắn trên đó. Cứ như sự tinh khiết đó là một tấm áo giáp ngăn cách ông với mọi người. Người ta kháo nhau rằng ông ta hết mực thông minh, nhà hùng biện tôn giáo lớn, nổi tiếng ở sự mực thước trong phong cách sống của ông. Lúc này, ông ta đứng yên lặng trước linh mục Giô-dê Pê-đrô, nhìn bằng con mắt xét nét khuôn mặt tm thường của vị linh mục, cái áo thụng bẩn và đã vá hai chỗ của ông này, vẻ kinh hoàng và sự kém cỏi về thông minh, hòa lẫn với lòng nhân hậu, đương ánh lên trên khuôn mặt linh mục. Ông ta xem xét người linh mục trong vài phút vừa đủ để đi sâu vào tận cũng tâm hồn thật thà bình dị của Giô-dê Pê-đrô. Ông ta ho. Ông linh mục nhìn thấy ông ta, ng lên, rụt rè hôn bàn tay ông ta:
- Xin kính chào ngài tu sĩ…
- Xin mời Cha ngồi xuống. Chúng ta có chuyện nói với nhau - Ông ta nhìn ông linh mục bằng con mắt hờ hững. Ông ta ngồi đó, khoanh tay một cách cẩn trọng, giữ cho xa cái áo thụng bóng loáng của ông với cái áo thụng bẩn thỉu của linh mục Giô-dê Pê-đrô. Giọng nói lúc này của ông ta trái ngược với ọng của chính con người ông. Có thể nói rằng đó là một giọng nói êm ái, gần như của phụ nữ, họa hoằn thoảng một nét cương nghị, đôi lúc đột nhiên nổi rõ giữa cái giọng đó. Linh mục Giô-dê Pê-đrô cúi đầu và đợi cho ngài tu sĩ lên tiếng. Ông này mở đầu: