Hảo Hán Nơi Trảng Cát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv - Ánh Sáng Rạp Đua Ngựa Gỗ

❊ ❊ ❊

Cái “Rạp đua ngựa lớn Nhật Bản” thực ra chỉ là một rạp đua nhỏ nội địa mới đến đây, sau một chuyến chu du thảm hại qua những thành phố im lìm trong miền nội địa, suốt thời gian dài những tháng đông, mưa cứ dầm dề và lễ Nô-en thì còn xa lắm. Quá ư phai nhạt là cái màu sắc - màu sắc trước kia là màu xanh và đỏ. Bây giờ màu xanh đã biến thành một màu trắng bẩn, và màu đỏ chỉ còn là màu hồng nhờn nhợt. Quá nhiều những mảnh gỗ đã khuyết ở một số ngựa gỗ và ở một số ghế dài, đến nỗi tôn ông Nhô-din-hô Frăng- xa phải quyết định dựng rạp ở I-ga-pa-gi-pơ chứ không phải là ở một địa điểm quan trọng của thành phố. Ở đây, các gia đình không phải đã giàu có gì lắm, có nhiều những phố thuần dân thợ thuyền, và những trẻ con nghèo sẽ biết đánh giá cái rạp đua cũ kỹ đã xơ xác. Vải che rạp cũng quá nhiều lỗ thủng, đó là chưa kể một mảng rách to tướng thường bắt cái rạp phải hoạt động tùy theo cơn mưa. Nó cũng đã từng có thời kỳ huy hoàng của nó, nó cũng đã là niềm kiêu hãnh của lũ trẻ ở Ma-xây trong những ngày thịnh vượng. Hồi đó, nó nằm giữa một con đường chơi trượt xe và một con đường hầm ở cố định, và những ngày chủ nhật cùng những ngày lễ, các chú bé giàu có ăn mặc kiểu lính thủy hoặc kiểu huân tước Anh tý hon, các cô bé diện kiểu Hà Lan hoặc những áo dài mỏng dính bằng lụa, đến đó ngồi lên những con ngựa đã chọn, những đứa bé hơn thì ngồi trên ghế dài với chị vú nuôi. Bố mẹ chúng thì đi ra con đường trượt xe, lại có nhiều người thích con đường hầm ở đó họ có thể chen lấn đàn bà, luôn luôn chạm tay vào đùi, vào mông các bà, các cô. Cái khu giải trí của Nhô-đin-hô Frăng-xa hồi đó tạo nên những thú vui tuyệt vời của thành phố. Và còn hơn hẳn điều đó, nó thu về được tiền, do quay vòng không mỏi mệt với những dải ánh sáng đủ màu sắc. Nhô-đin-hô nhận thấy cuộc sống tốt đẹp, đàn bà xinh đẹp, đàn ông đều tốt với ông ta, nhưng ông ta lại nhận thấy rượu, chính là rượu, cũng rất tốt, và nó lại làm cho thấy những người đàn ông còn tốt hơn và những người đàn bà còn đẹp hơnVà cứ thế ông ta uống… tiêu mất cả, thoạt đầu thì con đường hầm, tiếp đến là con đường trượt. Cuối cùng, bởi vì ông ta không muốn xa rời cái rạp vòng đua, đối với nó ông vốn có một sự gắn bó đặc biệt, một đem nọ ông ta tháo rời nó ra, nhờ mấy người bạn thân giúp cho một tay và bắt đầu đi khắp những thành phố ở A-la-gô-át và Xéc-pi-pơ. Trong thời gian đó, các chủ nợ của ông gán cho ông tên tất cả những giống chim chóc mà họ biết. Ông ta cũng đã làm một cuộc hành du dài. Nhô-đin-hô Frăng-xa, cùng với cái rạp đua của ông. Sau khi đã đi khắp các thành phố nhỏ của hai bang kia, sau khi đã say mềm ở tất cả những quán rượu các nơi đó, ông ta tiến vào Ba-hi-a và đã táo bạo tới mức tổ chức một buổi biểu diễn cho toán cướp của Lam-pi-ão. Hồi đó, ông ta đương dừng chân ở một làng nghèo trong nội địa, và đương thiếu tiền không đủ để chi cho việc chuyên chở cái rạp đi, mà còn để trả nợ cho cái quán tồi tàn mà ông trọ, và cũng là quán trọ duy nhất vùng đó, và ông cũng còn thiếu cả tiền để uống một ly rượu mạnh, để uống bia ở đây chẳng bao giờ được ướp lạnh, tuy thế ông vẫn cứ thích cái rạp dựng trên vạt cỏ ở quảng trường La Ma-tri-xơ đã ngừng hoạt động từ một tuần lễ rồi, Nhô-đin-hô Frăng-xa định chờ đến buổi tối thứ bảy và buổi chiều chủ nhật, xem may ra có kiếm được chút ít tiền để dời đi một nơi khác dễ kiếm ăn hơn. Nhưng ngay thứ sáu, Lam-pi-ão đột nhập vào làng cùng với hai mươi hai đồng đảng, và thế là ngay lúc đó, cái rạp đua ngựa gỗ phải đến là vất vả. Chẳng khác gì bọn trẻ con, những căng-ga-xây-rô[1] cao to ấy - những con người đã mang trong lương tâm cái chết của vài ba chục người - nhận thấy cái rạp đua ngựa gỗ quả là hợp lý, họ nhận thấy rằng ngắm những dải ánh sáng quay tròn, nghe tiếng nhạc hết sức xưa cũ của chiếc pi-a-nô máy và cưỡi lên những con ngựa gỗ què kia quả là niềm hạnh phúc lớn nhất. Và cái rạp của Nhô-din-hô Frăng-xa đã cứu được cái làng nhỏ bé thoát khỏi cướp bóc, các cô gái khỏi bị hãm hiếp và những người đàn ông khỏi bị giết hại. Chỉ có hai người lính của cảnh sát Ba-hi-a đương ngồi đánh ng cho bóng trước đồn đã bị các căng-ga-xây-rô bắn chết, và cái việc đó lại cũng xảy ra trước khi toán cướp nhìn thấy cái rạp đua ngựa gỗ dựng ở quảng trường La Ma-tri-xơ. Có thể, chắc hẳn là thế, Lam-pi-ão cũng tha cho cả những người lính của cảnh sát Ba-hi-a trong cái đêm tuyệt đỉnh hoan hỉ ấy dành cho toán căng-ga-xây-rô. Thế là họ làm giống như bọn trẻ con, họ tận hưởng cái hạnh phúc ấy mà không bao giờ họ đã được hưởng trong thời thơ ấu của những con cái nông dân. Họ cưỡi lên và quay vòng trên con ngựa gỗ ở một vòng đua ngựa, có dạo lên tiếng nhạc một chiếc pi-a-n máy có bao nhiêu là ánh sáng đủ các màu sắc: xanh biển, xanh lục, vàng, tím và đỏ như là máu vọt ra từ thân thể những người mà họ đã sát hại.

Chính là câu chuyện ấy, Nhô-đin-hô đã kể cho Khuỷu-Khô-Khẳng (thằng này bị câu chuyện kích động ám ảnh dữ dội) và Cẳng-Nhũn vào buổi chiều vào buổi chiều ông ta gặp chúng nó ở quán “Cửa Biển” và mời cả hai đứa giúp ông điều khiển bàn đua ngựa gỗ trong những ngày ông dựng rạp ở Ba-hi-a tại I-ta-pa-gi-pơ. Ông không thể nói dứt khoát khoản tiền công nhưng có thể chúng được mỗi đứa khoảng năm ngàn rét mỗi tối. Và khi Khuỷu-Khô-Khẳng trổ tài bắt chước tiếng kêu của các giống vật đủ loại, Nhô-din-hô Frăng-xa hoàn toàn phấn khởi gọi luôn một chai bia nữa và tuyên bố rằng Khuỷu-Khô-Khẳng sẽ đứng ở cửa để chào mời công chúng trong khi đó Cẳng-Nhũn sẽ giúp ông vận hành các máy móc và chiếc đàn máy. Đích thân ông sẽ đứng bán vé vào cửa mỗi khi bàn đua không hoạt động. Khi nó quay thì Khuỷu-Khô-Khẳng sẽ đảm nhận việc đó.

- Và thỉnh thoảng - ông nói và nháy mắt - ta lại ra ngoài uống một cốc, trong khi đó thì chú kia tạm thời mà làm việc cho cả hai.

Khuỷu-Khô-Khẳng và Cẳng-Nhũn chưa bao giờ tiếp nhận một ý kiến mà phấn khởi cao độ đến thế. Chúng cũng đã nhiều lần nhìn thấy bàn đua ngựa gỗ, nhưng hầu như lần nào chúng cũng chỉ được nhìn từ ngoài xa. Biết bao nhiêu bí mật bao phủ chung quanh, và những chiến mã phóng như bay, cưỡi trên lưng là những đứa trẻ con nhà giàu và mau nước mắt. Cẳng-Nhũn đã có lần nhân một ngày nó đi vào một khu giải trí dựng trên ngay khu vực dạo mát công cộng - tìm cách mua được một tấm vé vào cửa cho một đứa trong bọn, nhưng người gác đã đuổi thằng bé ra xa nơi đó bởi vì nó ăn mặc rách rưới. Sau đó, người bán vé không chịu trả lại tiền tấm vé ấy, điều đó khiến Cẳng-Nhũn đã kín đáo đưa tay khoắng luôn vào cái ngăn kéo tủ đựng tiền đương tênh hênh với tất cả tiền bạc thu được, và lại đã biến mất ra khỏi khu vực dạo mát công cộng hết sức lanh lẹ, trong khi khắp trong khu vực ồn ào lên những tiếng kêu “Kẻ cắp! Kẻ cắp!”. Lúc đó lộn xộn ghê gớm, nhưng Cẳng-Nhũn vẫn xuôi đường Gam-boa-đơ xi-ma hết sức bình tĩnh, thủ trong túi ít nhất gấp năm lần số tiền đã bỏ ra mua tấm vé. Nhưng Cẳng-Nhũn vẫn cứ thích, nhất định là thế, được quay vòng trên cái bàn đua, cưỡicon ngựa dị dạng mang đầu con rồng và rõ ràng cái vật kỳ lạ nhất trong sự huyền diệu chính là hiện thân cái bàn đua trước mắt nó. Từ hồi đó, nó càng dồn nhiều căm hờn vào những người lính cảnh sát, và nhiều yêu thích với những cái bàn đua ở xa xa. Và bây giờ, độp một cái ở đâu đến một con người đãi chúng rượu bia và tạo ra điều kì diệu là gọi chúng đến sống dăm ba ngày ngay trên một cái bàn đua thật sự, để chuyển động cùng với nó, để cưỡi lên những con ngựa của nó, để nhìn thật sát nhịp quay của những luồng ánh sáng muôn màu của nó. Và đối với Cẳng-Nhũn, Nhô-din-hô không phải là gã say rượu ngồi trước mặt nó bên cái bàn ọp ẹp ở quán “Cửa Biển”. Dưới mắt nó, nó hình dung ra một nhân vật kì lạ, cái gì đó như là Đức Chúa Trời mà Mạch-Nha cầu nguyện, cái gì đó như là Xăng-gô, vị thánh phù hộ của Giô-ao Gộc và của Cục-cưng-của-Chúa, bởi vì chẳng phải là Cha Giô-dê Pê-đrô, cũng chẳng phải là bà đồng Đôn A-nin-ha có đủ tài ba để thực hiện điều kì diệu ấy. Trong những đêm ấy ở Ba-hi-a, trên một quảng trường tại I-ta-pa-gi-pơ, những dải ánh sáng của rạp vòng đua sẽ quay cuồng điên đảo, do Cẳng-Nhũn vận hành, điều khiển. Thật là như một giấc mơ, một giấc mơ vô cùng khác với những giấc mơ Cẳng-Nhũn đã có cái nếp quen tạo nên cho mình suốt những đêm dài đầy khủng khiếp của nó. Và đây là lần đầu tiên, đôi mắt của nó đẫm lệ, những giọt nước mắt ứa ra không phải do sự đau đớn mà cũng không phải do hận thù. Và đôi mắt ướt của nó ngắm nhìn Nhô-din-hô Frăng-xa chứa chan kính mộ. Vì ông ta, Cẳng-Nhũn có thể không ngại ngần cắt cổ một con người nào đó bằng lưỡi dao cạo mà nó vẫn giắt giữa lửng quần và chiếc áo gi-lê đen cũ tàng nó mặc thay áo ngoài.

- Đúng là một cảnh huy hoàng - Pê-đrô nói trong lúc nhìn cái bàn đua cũ kỹ đã dựng lên.

Và Giô-ao Gộc trợn tròn đôi mắt để nhìn cho rõ hơn những bóng đèn xanh, lục, vàng, tím, đỏ đã được treo lên rồi.

Đúng là nó đã già cỗi và phai phếch đấy, cái bàn đua của Nhô-đin-hô Frăng-xa, nhưng nó vẫn có cái đẹp của nó. Có thể là nó đẹp ở những vệt ánh sáng hoặc ở tiếng nhạc từ chiếc pi-a-nô máy cũ kỹ (những bài van-xơ cổ xưa của những thời đã qua), hay cũng có thể là ở những con ngựa gỗ. Chen vào giữa bầy ngựa có một con vịt để cho những đứa bé hơn có thể cưỡi lên được. Đúng, nó có cái vẻ đẹp của nó, bởi vì ý kiến thống nhất của những Hảo hán nơi Trảng cát đã công nhận nó là tuyệt vời. Nó có cũ kỹ, gãy vỡ và màu sắc phai phếch thì có xá chi cái đó, nếu nó được trẻ con thích.

Thật là một điều ngạc nhiên khó tin nổi khi mà, ngay tối hôm đó, Cẳng-Nhũn trở về nhà kho báo tin là nó và Khuỷu-Khô-Khẳng sẽ đến làm việc dăm ba ngày trong một rạp đua ngựa gỗ. Rất nhiều đứa không chịu tin, nghĩ rằng lại một trò nhăng cuội mới của Cẳng-Nhũn. Thế là chạy đến Khuỷu-Khô-Khẳng, thằng này theo thói quen đương ẩn trong cái xó của nó, chẳng nói chẳng rằng, ngắm nghía một khẩu súng lục lấy trộm được trong một giá vũ khí. Khuỷu-Khô-Khẳng công nhận điều đó bằng một cái gật đầu, và chốc chốc lại nói:

- Lam-pi-ão đã cưỡi ngựa trên cái bàn đua, Lam-pi-ão là cha đỡ đầu của tớ đấy!

Cẳng-Nhũn mời cả bọn tối hôm sau cùng đến xem cái rạp đua ngựa gỗ, sau khi đã dựng xong đầy đủ. Và nó ra đi để đến gặp Nhô-đin-hô Frăng-xa. Trong lúc đó tất cả những trái tim bé bỏng đang đập trong nhà kho đều thèm muốn cái hạnh phúc tuyệt vời của Cẳng-Nhũn, ngay cả đến Mạch-Nha đã có những tấm ảnh thánh trên tường, cho tới cả Giô-ao Gộc, thằng này tối hôm nay sẽ đi với Cục-cưng-của-Chúa đến đền Căng-đom-blê Prô-cô-pi-cô ở Ma-tuy-tuy, cho tới ngay cả Giáo-Sư cứ vùi đầu vào đọc sách, và biết đâu ngay cả Pê-đrô Ba-la, thằng này lại cũng chẳng thế, mặc dầu nó không bao giờ có chút so đọ đối với bất cứ đứa nào bởi vì nó là thủ lĩnh của chúng, của tất cả bọn chúng. Đúng thế, tất cả đều thèm muốn được như Cẳng-Nhũn, cũng như chúng thèm muốn được như Khuỷu-Khô-Khẳng, trong cái xó của nó, mái tóc xoăn rối bù, đôi mắt lim dim và cái miệng chành ra thành một cái cười nhăn nhó do tức giận, chĩa khẩu súng lục hoặc về phía một thằng bạn nào đó, hoặc vào một con chuột cống chạy qua, hoặc tới những ngôi sao hằng hà sa số trên trời.

Tối hôm sau, tất cả chúng nó cùng đi với Cẳng-Nhũn và Khuỷu-Khô-Khẳng (hai đứa này suốt cả ngày đều không về nhà kho, còn phải giúp Nhô-đin-hô dựng rạp), đến xem cái rạp đã dựng lên xong xuôi. Và chúng đã đứng sững lại trước rạp, nhảy cẫng lên vì thấy nó đẹp quá, miệng há hốc vì ngưỡng mộ. Cẳng-Nhũn giới thiệu cho chúng biết từng chi tiết, Khuỷu-Khô-Khẳng dẫn từng đứa một để đứa nào cũng được đến chiêm ngưỡng con ngựa mà cha đỡ đầu của nó, Viếc-guy-li-nô Fe-rây-ra Lam-pi-ão, đã cưỡi. Có đến gần cả trăm đứa trẻ đương đứng ngắm nhìn cái rạp đua ngựa cũ kỹ của Nhô-đin-hô Frăng-xa, ông này trong lúc đó đương say rượu quên cả trời đất ở quán “Cửa Biển”.

Cẳng-Nhũn giới thiệu cỗ máy (một máy phát điện nhỏ thường xuyên hỏng hóc) với niềm kiêu hãnh của người chủ. Khuỷu-Khô-Khẳng không lúc nào rời con ngựa trên lưng nó chính Lam-pi-ão đã quay vòng. Cẳng-Nhũn hết sức chú ý chăm sóc cái bàn vòng đua và không cho phép bất cứ ai được sờ mó vào, hoặc chuyển dịch bất cứ một chút gì trên đó.

Chợt Giáo-sư hỏi:

- Cậu đã biết làm cho máy chạy rồi chứ?

- Phải đến ngày mai tớ sẽ biết - có chút phật lòng - Ngày mai, ông Nhô-đin-hô sẽ bày vẽ cho tớ.

- Vậy thì, ngày mai, sau khi làm xong công việc của cậu, cậu hãy cho bàn đua quay chỉ riêng cho bọn chúng ta. Cậu sẽ làm tất cả mọi việc để điều khiển cái hệ thống nó quay, và chúng tớ thì chúng tớ sẽ ngồi vào chỗ.

Pê-đrô Ba-la ủng hộ ý kiến đó hết sức nhiệt tình. Những đứa trẻ khác đợi chờ, lo lắng, câu trả lời của Cẳng-Nhũn. Thằng này nhận lời và thế là nhiều đứa vỗ tay, những đứa khác thì gào lên. Đúng vào lúc đó, Khuỷu-Khô-Khẳng rời con ngựa mà Lam-pi-ão đã cưỡi và tiến lại phía chúng:

- Các bạn có muốn thấy cái gì đó thật là đẹp không?

Tất cả đều muốn được biết cái gì đó. Đứa con của Xéc-tao trèo lên bàn vòng đua ngựa, lên dây chiếc đàn pi-a-nô máy và cho nghe những tiếng nhạc một bài van-xơ cổ xưa. Vẻ mặt lầm lũi của Khuỷu-Khô-Khẳng rạng rỡ lên trong một nụ cười mỉm. Nó chăm chú nhìn vào chiếc pi-a-nô máy, nó chú ý quan sát những đứa bạn bàng hoàng và sung sướng. Những đứa này lắng nghe rất kính cẩn tiếng nhạc tuôn ra từ bụng cái bàn vòng đua, trong cái ảo thuật của buổi đêm ở Ba-hi-a, chỉ riêng cho đôi tai phiêu bạt và bất hạnh của những Hảo hán nơi Trảng cát. Tất cả đều nín thinh. Một người thợ đi qua ngoài đường phố, chợt thấy cái đám đông xúm xít trẻ con ấy bèn tiến lại gần. Và chính bác ta cũng đứng im lặng lắng nghe bài nhạc cổ xưa. Thế là, ánh trăng tỏa lên khắp tất cả, sao trên trời sáng tỏ thêm bội phần, mặt biển trở nên hết sức yên lặng (biết đâu I-ê-măng-gia[2], ngay cả vị nữ thần ấy cũng đến nghe âm nhạc) và thành phố chỉ còn là một chiếc bàn đua lớn trong đó các Hảo hán nơi Trảng cát xoay tròn trên những con ngựa vô hình. Trong giờ phút của âm nhạc đó, chúng cảm thấy chính mình là những người chủ của thành phố. Và chúng thương yêu lẫn nhau, tự cảm thấy là anh em bởi vì tất cả bọn chúng đều như nhau, thiếu thốn tình thương mến và chỗ nương tựa, và bây giờ, chúng có được tình thương mến và sự nương tựa ở âm nhạc. Khuỷu-Khô-Khẳng, chắc chắn là thế, không còn nghĩ tới Lam-pi-ão trong lúc này nữa; Pê-đrô Ba-la không còn nghĩ tới cái ngày nó sẽ trở thành thủ lĩnh tất cả những Ma-lăng-đrô[3] trong thành phố; Cẳng-Nhũn cũng không còn nghĩ tới nhảy xuống biển, ở đó mọi giấc mơ đều tốt đẹp. Bởi vì âm nhạc đã tuôn ra từ trong bụng cái bàn đua là chỉ cho riêng chúng và người thợ đã dừng lại đó. Và đó chỉ là một bài van-xơ cổ xưa và buồn bã, một bản nhạc đã bị những con người thành phố lãng quên từ lâu.

Từ tất cả các đường phố, người ta đổ tới rất đông. Đây là tối thứ bảy; ngày mai, đàn ông không đi làm việc. Tối hôm nay, họ có thể la cà trong đường phố. Nhiều người đã chọn những quán rượu - quán “Cửa Biển” khách đầy ứ - nhưng những người có con nhỏ thì lại cùng chúng nó đi đến chỗ quảng trường nhập nhoạng này. Bù lại, ở đây đã có những luồng ánh sáng của rạp đua quay tròn. Bọn trẻ nhìn những ánh sáng ấy và vỗ tay. Ở cửa bán vé, Khuỷu-Khô-Khẳng phát ra tiếng kêu các loài vật gọi mời công chúng. Nó đeo một cái bao đạn cứ như là nó vẫn ở trong xéc-tao. Nhô-đin-hô Frăng-xa nhận thấy như thế sẽ dễ thu hút sự chú ý của đám đông, và Khuỷu-Khô-Khẳng đúng là mang dáng dấp thực sự của một căng-ga-xây-rô với chiếc mũ da và cái bao đeo đạn lủng lẳng qua vai. Và nó bắt chước các tiếng kêu của loài vật cho đến khi trước mặt nó đã xúm đông xúm đỏ đàn ông, đàn bà và trẻ con. Lúc đó, nó đem vé ra và bọn trẻ mua vé. Niềm hân hoan lan tràn khắp quảng trường. Những dải ánh sáng của rạp đua làm mọi người hớn hở. Chính giữa, Cẳng-Nhũn ngồi xổm, giúp Nhô-đin-hô Frăng-xa mở máy cho hoạt động. Và bàn đua quay, mang nặng bọn trẻ nhỏ, chiếc pi-a-nô máy tuôn ra những bài van-xơ cổ xưa. Khuỷu-Khô-Khẳng bán vé.

Trên quảng trường, những cặp tình nhân đi dạo, các bà mẹ mua kem gói và kem que, một nhà thơ ngồi bên bờ biển, sáng tác một ca khúc về những ánh sáng rạp đua và niềm vui của bọn trẻ nhỏ. Rạp đua chiếu sáng toàn bộ quảng trường và tất cả mọi trái tim. Chốc chốc, người ta lại xô tới, đổ tới từ những đường phố và từ những ngõ hẻm. Khuỷu-Khô-Khẳng làm trò bắt chước tiếng súc vật kêu, mặc kiểu căng-ga-xây-rô. Khi bàn quay dừng, bọn trẻ tràn tới, giơ cao những tấm vé vào cửa, và thật là khó mà giữ chúng lại được. Khi một đứa trong bọn chúng không còn tìm ra được chỗ nữa, nó xịu mặt lại vì thất vọng và buồn rầu, nôn nóng đợi đến lượt. Và khi bàn đua dừng quay, nhiều đứa ngồi trên ngựa không chịu nhảy xuống. Và thế là phải có Cẳng-Nhũn đến can thiệp và bảo:

- Ùi, đi xuống thôi! Ùi, xuống đi thôi! Hoặc là phải ra mua một chiếc vé khác.

Đó là cách duy nhất để buộc chúng phải rời bỏ những con ngựa già cốc đế vốn chưa bao giờ mệt mỏi trong cuộc chạy đua cả đời. Nhiều đứa khác trèo lên cưỡi trên lưng ngựa và cuộc chạy đua lại tiếp diễn, những dải ánh sáng quay cuồng, tất cả màu sắc lại hòa vào nhau thành một màu duy nhất và kì lạ, chiếc pi-a-nô máy tuôn ra những giai điệu cổ xưa của nó.

Trên những tấm ghế dài cũng có những cặp tình nhân và trong khi chiếc bàn đua quay, họ thì thào những lời yêu đương. Cũng có cặp đã tranh thủ trao cho nhau một chiếc hôn, nhân lúc máy trục trặc và ánh sáng tắt ngóm. Và tức thì Nhô-đin-hô cúi gập xuống cái máy và xem xét chỗ trục trặc cho tới khi cuộc đua lại tiếp diễn, dẹp yên những tiếng la ó kêu la phản đối của lũ trẻ. Cẳng-Nhũn đã biết được tất cả những bí ẩn của máy phát điện.

Tới một lúc nào đó, Nhô-đin-hô Frăng-xa sai Cẳng-Nhũn ra thay Khuỷu-Khô-Khẳng bán vé vào cửa và ông cho Khuỷu-Khô-Khẳng được cưỡi ngựa gỗ. Thằng bé chọn ngay con ngựa đã phục vụ cho Lam-pi-ão. Và suốt cả cái thời gian mà cuộc đua kéo dài, nó phi - nhảy chồm chồm cứ như là nó phóng một con ngựa thật sự - và nó chĩa ngón tay thẳng tới cứ như là nó sắp sửa bắn vào những kỵ sĩ đương chạy đua phía trước, và trong trí tưởng tượng nó thấy họ ngã nhào xuống trong một vũng máu trúng những phát đạn liên tiếp của nó. Và con ngựa phóng, và mỗi lúc nó lại phóng nhanh hơn, và nó giết sạch những con người đó bởi vì tất cả bọn ấy đều là lính cảnh sát hoặc những chủ trại giàu có, tiếp đó nó chiếm tất cả những cô gái trên các ghế dài, cướp bóc các thôn xóm, các thành phố, các đoàn tàu hỏa, cưỡi trên con ngựa của nó, trang bị bằng khẩu súng của nó.

Sau đó, đến lượt Cẳng-Nhũn. Thằng bé bước tới, lặng lẽ; một xúc động kỳ lạ xâm chiếm tâm hồn nó. Nó tiến tới như một tín đồ đi đến nơi cầu nguyện, như người yêu tiến tới bộ ngực người đàn bà mình yêu, như kẻ tuyệt vọng đến với cái chết. Nó bước, mặt xám xanh và chân tập tễnh. Nó cưỡi lên con ngựa màu xanh có ba ngôi sao trên cái vai bằng gỗ. Môi nó mím chặt, tai nó không nghe thấy tiếng nhạc của chiếc đàn pi-a-nô máy. Duy nhất, nó chỉ thấy những luồng ánh sáng đương quay cùng với nó và nó bám chắc vào niềm tin là thực sự nó đương ở trên một cái bàn đua, quay vòng trên một con ngựa, cũng như tất cả những đứa nhỏ kia, chúng nó có bố, có mẹ, và một ngôi nhà và những con người hôn hít chúng, và những con người yêu mến chúng. Tự nó, nó tin rằng nó là một trong những đứa trẻ ấy và nó nhắm mắt lại để giữ cho chặt thêm cái điều tin chắc ấy. Nó không còn thấy lại những người lính đã đánh đập nó, không còn gã mặc áo gi-lê đương cười. Khuỷu-Khô-Khẳng đã giết tất cả chúng nó trong cuộc phóng ngựa của mình. Cẳng-Nhũn phóng tới trang nghiêm trên con ngựa của nó. Thì cũng như là nó phóng ngựa trên mặt biển, tới những ngôi sao, trong một cuộc hành du kỳ diệu nhất trần đời. Một chuyến đi mà chưa bao giờ Giáo-sư được đọc thấy hoặc có thể bịa ra được. Tim nó đập mạnh, mạnh quá, mạnh đến nỗi nó phải đưa bàn tay nén chặt.

Đêm hôm ấy, các Hảo hán nơi Trảng cát không đến. Không chỉ vì sự hoạt động của bàn đua trên quảng trường kết thúc quá muộn (cho tới hai giờ sáng vẫn còn những người lớn quay vòng) mà còn vì nhiều đứa trong bọn, kể cả Pê-đrô Ba-la, Sống-Nhàn, Ba-răng-đao và Giáo-sư đều đương bận vào các công việc đủ loại. Chúng bàn và đồng ý với nhau chuyển qua hôm sau, vào quãng ba hoặc bốn giờ sáng. Pê-đrô Ba-la hỏi Cẳng-Nhũn liệu thằng này đã thạo điều khiển cáy chưa.

- Chẳng vui thú gì nếu lại làm thiệt cho ông chủ mày. Nó giải thích.

- Tớ đã hiểu đến nơi đến chốn và làu làu tất cả mọi điều. Đó chỉ là kiểu làm ăn è cổ kéo cày là được.

Giáo-sư đương chơi cờ với Giô-ao Gộc, hỏi:

- Mày có thấy thú vị nếu chiều hôm nay, ta đảo qua quảng trường một chặp không? Biết đâu lại chẳng bõ công bõ sức!

- Tớ, tớ sẽ đi. Pê-đrô Ba-la nói. - Nhưng tớ nghĩ rằng chúng ta không nên đến đó đông quá. Người ta có thể nghi ngờ nếu thấy nhiều đứa một lúc.

Gã Mèo báo rằng chiều thì nó không đi. Nó có việc bận, mà ban đêm thì nó sẽ đến rạp đua.

Cẳng-Nhũn giễu:

- Mày không thể bỏ qua một hôm không cặp kè đùi với con sếu đó hay sao? Cuối cùng thì mày đến lú lẫn mất thôi!

Gã Mèo không trả lời Giô-ao Gộc nữa, chiều nay nó cũng không đi. Nó còn phải đi tìm anh Cục-cưng-của-Chúa để cùng nhau đến ăn một chầu Fây-gioa-da[4] lại nhà bà đồng Đôn A-nin-ha. Cuối cùng, chúng quyết định chỉ một nhóm nhỏ đến quảng trường, những đứa khác đi đâu tùy ý thích. Chỉ đến tối mới họp mặt tất cả để cùng đến thi ngựa trên bàn đua. Cẳng-Nhũn báo trước:

- Phải đem dầu xăng đến, các cậu ạ, để chạy máy.

Giáo-sư (nó đã thắng Giô-ao Gộc ba ván) kêu gọi một cuộc quyên góp để mua hai lít dầu xăng.

- Tớ sẽ đưa tới.

Nhưng chiều hôm chủ nhật thì linh mục Giô-dê Pê-đrô đến: do là một trong số rất hiếm những người đã được biết nơi đâu là chỗ trú ngụ thường xuyên nhất của các Hảo hán nơi Trảng cát. Linh mục Giô-dê Pê-đrô đã đánh bạn với chúng từ khá lâu. Quan hệ đó đã được nối liền hai bên qua môi giới của Sống-Nhàn. Thằng bé này, một ngày nào đó, sau lễ cầu kinh, đã bước vào trong kho đồ thánh ở ngôi nhà thờ mà cha Giô-dê Pê-đrô hành lễ. Nó vào trong đó trước hết chỉ là do tò mò hơn là có mưu toan bất cứ gì khác. Sống-Nhàn không thuộc hạng người tất bật trong cuộc sống. Nó thích để cho thời gian cứ trôi đi, không bận tâm đến mấy chút. Chính nó thường là đứa ăn bám của băng. Thỉnh thoảng một đôi ngày, khi nổi hứng lên thì nó cũng lọt được vào một nhà nào đó và đem về được một vật gì quý giá hoặc nẫng được một chiếc đồng hồ của một bà nào đó. Hầu như không bao giờ nó giao cho những tay oa trữ. Nó đem về và nộp thẳng cho Pê-đrô Ba-la, coi như phần đóng góp của nó vào cuộc sống chung cả băng. Nó có rất nhiều người quen trong các công nhân bốc vác, trong các gia đình nghèo đây đó ở khu “nhà tranh vách đất” tại nhiều nơi trong Ba-hi-a. Nó ăn, khi với người này, khi với người khác. Nhìn chung mà là xét, nó chẳng gây phiền cho ai. Nó cũng bằng lòng với những ả con gái Gã Mèo thải ra, và hơn bất cứ lúc nào, nó biết rõ thành phố, những đường phố, những ngóc ngách kỳ quặc nhất, mỗi điểm hội hè có thể kéo đến uống rượu và nhảy múa. Thảng hoặc có dạo nào đó không thể đóng góp được vào tổ chức kinh tế của băng bằng một vật gì quý giá, nó mới cố gắng kiếm một việc làm bất kỳ, miễn là kiếm ra tiền và nó đem về nộp cho Pê-đrô Ba-la món tiền đó. Nhưng thực mà nói, nó chẳng thích thú bất cứ một loại công việc nào, dù lương thiện hay bất lương. Cái điều mà nó thích thú, đó là nằm dài trên bãi cát ở các bến, hàng giờ và hàng giờ, đó là rình dõi những chiếc tàu, đó là ngồi xổm suốt cả những buổi chiều bên cửa lớn các nhà hàng tạp hóa, nghe kể những tích chuyện hừng tráng. Nó ăn mặc rách rưới, bởi vì nó chỉ đáp ứng cho nhu cầu mặc khi nào bộ quần áo của nó đã tã thành những mảnh giẻ rách. Nó thích lang thang trên những đường phố ở thành phố, lẩn trong các công viên để hút một điếu thuốc lá, vào các nhà thờ để được ngắm nghía vẻ đẹp của vàng bạc ngày xưa, phất phơ qua những dãy phố lát những tảng đá đen lớn.

Vào buổi sáng ấy, khi nó thấy đám con chiên đông đảo trở ra sau buổi cầu nguyện, nó bước vào nhà thờ chẳng một chút thích thú và rẽ trong đám đông một lối vào tới tận kho đồ thánh. Nó dòm ngó kỹ lưỡng tất cả mọi thứ, những bàn thờ, các vị thánh, chế giễu một tượng thánh Bơ-noa quá đen. Kho đồ thánh vắng tanh, và nó chợt thấy một đồ vật bằng vàng có thể được khối tiền. Nó đảo mắt một lần cuối chung quanh, chẳng thấy một ai cả. Nó đưa tay tới, nhưng đã có người nào đó đặt tay lên vai nó: linh mục Giô-dê Pê-đrô vừa vặn bước vào.

- Sao lại làm thế hở con? - Linh mục hỏi với một nụ cười mỉm trong khi ông đưa tay lấy lại từ tay Sống-Nhàn cái hộp thờ bằng vàng.

- Tôi chỉ chùi cho sáng lên thôi, vâng chỉ thế thôi, thưa cha. Nó hoen ố... - Sống-Nhàn trả lời có chút sợ sệt. Tất cả những chỗ hoen ố của nó. Nhưng xin đừng có tưởng rằng tôi sẽ nẫng nó đi. Tôi sẽ lại để nó ở đây, như thế này, đúng như nó trước. Tôi là con nhà tử tế.

Linh mục Giô-dê Pê-đrô đưa mắt nhìn vào quần áo rách rưới của Sống-Nhàn và bật cười lên. Sống-Nhàn, nó cũng nhìn vào mớ giẻ rách che thân của nó.

- Chính là vì bố tôi đã chết, ông có biết không? Nhưng mà trước đây tôi đã lên tới trường trung học... Tôi nói thật đấy! Vậy thì việc gì mà tôi lại đi lấy cắp cái của này.

Và nó chỉ vào chiếc hộp đựng đồ thờ.

- Hơn nữa lại là trong một nhà thờ. Tôi không phải là một kẻ ngoại đạo.

Linh mục Giô-dê Pê-đrô lại mỉm cười. Ông ta biết quá rõ Sống-Nhàn nói láo. Đã từ lâu, ông ta vẫn chờ đợi một dịp có thể làm quen với những đứa trẻ vô thừa nhận trong thành phố. Ông tin rằng việc đó là nhiệm vụ dành cho mình. Trước đây, ông cũng đã có những lần đến thăm Nhà trừng giới, nhưng tại đó ông đã bị người ta gây cho đủ thứ khó khăn bởi vì ông không tán thành ý kiến của viên giám đốc, ông này cho rằng cứ phải đánh không nương tay một đứa trẻ để sửa cho nó một tội lỗi. Và hơn nữa, cái ông giám đốc này còn có những suy nghĩ kì quặc về những tội lỗi ấy. Cũng đã lâu rồi, linh mục Giô-dê Pê-đrô có nghe nói đến những Hảo hán nơi Trảng cát và mong có dịp làm quen với chúng nó, có thể đưa tất cả những tâm hồn ấy về với Chúa, ông đã có một khát vọng vô biên được cùng sinh hoạt với những đứa trẻ ấy, được giúp đỡ cho chúng trở nên tốt. Bởi lẽ đó, ông đối xử với Sống-Nhàn tốt tới mức ông có thể làm được. Biết đâu rồi nhờ vai trò trung gian của nó, ông lại chẳng tìm được cách đến với những Hảo hán nơi Trảng cát. Và ông đã làm được như thế.

Trong giáo hội, linh mục Giô-dê Pê-đrô không được nhìn nhận như là một trí tuệ cao. Đã thế, ông lại còn là một trong số những người hèn mọn nhất trong cái đội quân những cha cố ở Ba-hi-a. Thực ra, trước khi vào chủng viện, ông đã là một người thợ trong năm năm ở một xưởng dệt. Nhân một lần Đức Giám mục đến thăm xưởng, ông chủ xưởng đã quyết định đưa ra một bằng chứng cho sự hào phóng của mình và tuyên bố rằng: “bởi vì Đức ông có than phiền về tình trạng thiếu những thiên khiếu giáo phẩm, ông ta sẵn sàng, chính thế bỏ tiền đài thọ cho một học viên chủng viện hoặc cho một người nào đó muốn được học để trở thành linh mục”. Nghe thế, Giô-dê Pê-đrô lúc đó đương đứng bên khung cửi của mình bèn tiến lại gần và nói rằng anh ta muốn trở thành linh mục. Điều đó, đối với ông chủ xưởng cũng như đối với Đức Giám mục, quả là một điều bất ngờ. Giô-dê Pê-đrô không còn trẻ nữa và ít học thức. Nhưng ông chủ xưởng, trước Đức Giám mục, không muốn rút lui lời nói của mình. Và Giô-dê Pê-đrô đến học ở chủng viện. Những học viên khác coi anh là cái đích cho mọi chế giễu. Chưa bao giờ anh đạt tới mức học trò giỏi. Ăn mặc đi đứng chỉnh tề, đúng thế, anh là như thế cũng là trong những người sùng tín nhất, những người đi lễ nhà thờ nhiều nhất. Tuy nhiên, anh đã tỏ ra không đồng tình đối với rất nhiều chuyện thường xảy ra đến ở chủng viện, và chính do đó mà những học viên khác làm tình làm tội anh. Anh không thể nào thâm nhập được vào những bí ẩn của triết học, của thần học và của tiếng la-tinh. Nhưng anh rất mộ đạo và ước vọng của anh là giảng giải giáo lí cho bọn trẻ con hoặc cho những người Anh-điêng. Anh khốn đốn vô cùng, nhất là sau hai năm, ông chủ xưởng dệt cắt đứt khoản đài thọ cho anh khiến anh phải xin làm lao công ở chủng viện để có thể tiếp tục học. Nhưng rồi anh cũng đạt được kết quả để được thụ phong và được tạm xếp vào một nhà thờ ở thủ đô trong khi chờ đợi một giáo phận. Tuy nhiên, ước vọng lớn lao nhất của linh mục là có thể truyền giáo cho bọn trẻ con vô thừa nhận của thành phố, những thằng bé không cha không mẹ, đã phải sống nhờ vào trộm cắp, dấn thân vào tất cả mọi nết hư tật xấu. Linh mục Giô-dê Pê-đrô cứ muốn dẫn tất cả những tâm hồn đó đến với Chúa. Bởi thế, ông đã hằng đến thăm Nhà trừng giới, ở đó buổi đầu ông giám đốc đã đón tiếp ông vô cùng niềm nở. Nhưng đến khi ông tuyên bố chống lại sự trừng phạt đánh đập thân thể, chống lại cái việc bỏ mặc lũ trẻ bị đói suốt hàng mấy ngày, thế là mọi việc chuyển luôn sang dạng khác. Một hôm vừa tiện dịp, ông đã phải viết một bức thư cho bộ biên tập một tờ báo về vấn đề đó. Từ đó Nhà trừng giới cấm cửa ông, và lại có cả một bản khiếu nại chống lại ông gửi đến tòa Tổng giáo mục địa phận. Do tất cả những điều đó, trước mắt, ông chưa có ngay khách mời. Tuy vậy, ước vọng lớn nhất của ông vẫn cứ là tìm cho biết được những Hảo hán nơi Trảng cát. Cái vấn đề những trẻ vị thành niên bị bỏ rơi và phạm pháp hầu như trong thành phố chẳng mấy ai để ý đến lại là điều lo lắng nhất của linh mục Giô-dê Pê-đrô. Ông muốn đến với những đứa trẻ ấy không những chỉ để dẫn dắt chúng đến với Chúa mà cũng còn để xem ông có thể có một cách nào đó nâng cao số phận chúng. Linh mục Giô-dê Pê-đrô không có bao nhiêu ảnh hưởng tới chung quanh. Có thể nói là ông chẳng có chút ảnh hưởng nào cả và cũng lại chẳng biết gì hơn về cái cách làm thế nào để chinh phục được lòng tin cậy của những tay trộm cắp lỏi con ấy. Nhưng ông biết rõ rằng cuộc sống của chúng trơ trụi không chút tiện nghi, không chút vuốt ve một cuộc sống đói rét và bị bỏ rơi. Và nếu linh mục Giô-dê Pê-đrô không có được giường, lương ăn và quần áo đem đến cho chúng, ít nhất ông cũng có được lời nói thân thương, và không một chút nghi ngờ, rất nhiều tình thương dành cho chúng trong tim. Lúc đầu, ông đã tính sai ở một điểm, ông linh mục Giô-dê Pe-đrô: đó là ông muốn đưa đến cho chúng một sự đánh đổi, từ bỏ cái cuộc sống tự do mà chúng tận hưởng, thả rông ngoài đường phố, để nhận một khả năng được sống đầy đủ hơn. Linh mục Giô-dê Pê-đrô thừa hiểu rằng ông không thể hướng những đứa trẻ ấy về phía Nhà trừng giới. Ông biết quá rõ những luật lệ của Nhà trừng giới, những luật lệ được viết để niêm yết và những luật lệ mà người ta thực hiện ở đó. Và ông cũng hiểu rất rõ rằng ở đó không thể có một điều kiện nào cho một đứa trẻ trở nên tốt và chăm chỉ tại chỗ. Nhưng linh mục Giô-dê Pê-đrô nghĩ đến một số những bà quen biết của ông: những bà già sùng tín. Họ chắc có thể đảm nhận được nhiều những Hảo hán nơi Trảng cát, lo việc dạy bảo chúng và nuôi chúng. Nhưng như thế tức là tất cả những gì lớn mà cuộc sống của chúng đã được bao phủ chất phiêu lưu của tự do trong những đường phố của cái thành phố bí ẩn vẻ đẹp nhất thế giới: trong những đường phố ở Ba-hi-a của tất cả các vị thánh. Và ngay khi, do sự trung gian của Sống-Nhàn, linh mục Giô-dê Pê-đrô đã bắt quen được những Hảo hán nơi Trảng cát, ông cảm thấy ngay rằng nếu đưa cái dự kiến ấy ra nói với chúng, ông sẽ tức khắc mất hẳn niềm tin mà chúng đã bắt đầu đặt vào ông, chúng sẽ chuyển đến một nhà kho khác và rồi sẽ không còn bao giờ ông lại được nhìn thấy chúng. Thực tình mà nói, ông linh mục cũng không phải đã tin cậy tuyệt đối vào những bà già cằn cỗi khô đét suốt đời chỉ có chui rúc trong nhà thờ và lợi dụng những giờ nghỉ giữa các buổi lễ để bàn tán về đời sống người khác. Ông vẫn còn nhớ trong buổi đầu ông đã làm phật lòng họ vào cuối lễ mi-xa thứ nhất mà ông hành lễ ở nhà thờ này, một nhóm những bà si đạo đã sán lại bên ông với ý đồ rất rõ là để giúp ông cởi bộ áo lễ phục. Và khắp quanh ông, rền vang những tiếng tán tụng êm ái:

- Ngài Đức Cha bé nhỏ thân mến... Thiên thần Ga-bri-en.

Một bà già, gầy khô đét, chắp hai tay với dấu hiệu tôn sùng:

- Chúa Giê-su Ki-tô bé bỏng quý mến của tôi...

Họ tỏ vẻ tôn sùng ông và Giô-dê Pê-đrô không chịu nổi. Nói cho đúng, ông hiểu rõ rằng hầu hết các vị linh mục không hề nổi nóng như thế và lại biết rút ra từ đó những quà cáp hậu hỉ chắc chắn nào gà giò, gà Tây, nào khăn tay thêu và đôi lúc đến cả những chiếc đồng hồ vàng gia bảo cổ xưa. Nhưng linh mục Giô-dê Pê-đrô thì lại có một cách nghĩ khác về nhiệm vụ của mình. Ông nghĩ rằng những bà già kia đã sa vào nhầm lẫn và thế là, bừng bừng giận dữ đáng kính, ông bảo cho họ biết:

- Này các bà, các bà không có việc gì mà làm nữa hay sao? - Các bà không có một ngôi nhà để trông nom ư? Tôi đây đâu có phải đức chúa Giê-su Ki-tô bé bỏng quý mến của các bà, cũng chẳng phải là thiên thần Ga-bri-en. Xin các bà hãy quay trở về làm việc ở nhà các bà, làm cơm, may vá...

Những “con ếch ở bình nước thánh” nhìn ông, kinh hoảng. Dường như ông ta đã chính danh là kẻ phản bội Chúa Ki-tô. Ông linh mục kết thúc:

- Cứ làm việc cho tốtở nhà, thế là các bà phụng sự tốt Chúa Trời của chúng ta, hơn là đến đây mà hít ngửi mùi chiếc áo thụng của chúng tôi... Thôi, đi đi cho,... đi đi cho.

Và trong khi các mụ đi ra, kinh hoảng, ông nhắc lại, cay đắng nhiều hơn là tức giận:

- Đức chúa Giê-su Ki-tô bé bỏng yêu mến của tôi... Cái tên của Đấng Cao cả thật là vô tác dụng.

Mấy bà già si đạo kéo nhau tới thẳng chỗ Cha Clô-vít, một người to béo, hói và tính tình cởi mở. Cha xưng tội của các bà ấy. Chen những tiếng than phiền, các bà kể lại cho Cha biết việc mới xảy ra đó. Cha Clô-vít nhìn các bà già si đạo với con mắt dịu hiền và an ủi họ:

- Rồi sẽ qua đi thôi! Ông ta vừa mới đến! Rồi đây ông ta sẽ thấy các bà quả là những thánh nữ, những người con gái thực sự của Chúa. Các bà hãy về đọc kinh Pa-ta-nô-xte và xin đừng quên ngày hôm nay là ngày Chúc phúc.

Ông ta phá lên cười khi các bà già đã đi khuất. Và ông lẩm bẩm một mình: “Mấy cái anh linh mục mới ra lò chỉ có làm hỏng cuộc sống người ta”.

Về sau, những bà già si đạo, lại tìm cách, từng tí một, đến gần linh mục Giô-dê Pê-đrô. Nói cho đúng, họ chẳng bao giờ đến được với ông trong một quan hệ mật thiết hoàn mỹ. Cái tư thế nghiêm nghị, tấm lòng tốt chỉ đưa ra có mức độ trong những hoàn cảnh cần thiết phải có sự kinh tởm những trò lố lăng vụn vặt kiểu nhà thờ khiến họ phải kính nể ông hơn là yêu quý ông. Tuy vậy cũng có một vài bà, thường thường là các bà góa hoặc là bà vợ những ông chồng không tốt, đã trở thành bạn thân của ông, ít nhiều, ở mức độ khác nhau. Một lý do khác cũng khiến những bà già si đạo ít đến với ông: ông là sự trái ngược của nhà truyền giáo. Chưa bao giờ ông đã thành công trong việc mô tả địa ngục với đầy sức thuyết phục như Cha Clô-vít. Hiểu biết của ông đã nghèo lại thường bị thiếu hụt. Tuy thế, ông có lòng tin, ông là một tín đồ. Và người ta cũng khẳng định được một cách khó khăn rằng linh mục Giô-dê Pê-đrô ít nhất cũng có tin vào địa ngục.

Thoạt tiên, linh mục Giô-dê Pê-đrô đã có ý định đưa những Hảo hán nơi Trảng cát đến với các bà già si đạo. Ông nghĩ rằng làm như thế, ông có thể không chỉ cứu đỡ lũ trẻ con khỏi cuộc sống khốn cực, mà ông lại cũng có thể cứu rỗi được các bà già si đạo khỏi cuộc sống vô bổ nguy hiểm. Ông hy vọng họ sẽ đồng ý chấp nhận dành tâm sức cho lũ trẻ cũng hỷ hả say sưa như họ đã dành cho các nhà thờ, cho các vị linh mục béo núc ních. Linh mục Giô-dê Pê-đrô đoán rằng (hơn là ông có thể biết được) những chuỗi ngày của họ trôi đi bằng chuyện trò vô bổ trong các nhà thờ, hoặc bằng việc thêu những chiếc khăn tay cho linh mục Clô-vít, sở dĩ như vậy là bởi vì, do phần thiếu sót trong cuộc sống không trọn vẹn của họ, những cô gái già ấy không bao giờ được đứa con trai, một người chồng để dồn vào đó thì giờ và tình cảm của họ. Bây giờ ông ta đưa đến cho họ những đứa con trai. Đã lâu, Giô-dê Pê-đrô ôm ấp ý đồ ấy. Đã có lần ông dẫn đến cho một bà một thằng bé đã bỏ trốn khỏi Nhà trừng giới - lâu rồi, trước ngày biết những Hảo hán nơi Trảng cát khi đó ông chỉ mới thoáng nghe lờ mờ nói đến thôi - Cuộc thử nghiệm ấy đã mang kết quả xấu: thằng bé bỏ trốn khỏi nhà bà già, cuỗm theo nhiều đồ vật bằng bạc; nó đã gạt bỏ những bộ quần áo tốt lành và bữa ăn sẵn có với nhiệm vụ đọc thuộc lòng bài kinh thật cao giọng, đi dự mọi buổi lễ và cầu phúc hàng ngày - để chọn lấy cái tự do của đường phố, cho dầu mặc rách, cho dầu là được bữa hôm lo bữa mai. Sau đó, linh mục Giô-dê Pê-đrô lại hiểu rõ rằng cuộc thử nghiệm đã hỏng, phần lớn do lỗi ở bà già hơn là do lỗi ở đứa trẻ. Bởi vì, nhất định là như thế, linh mục Giô-dê Pê-đrô suy nghĩ, không thể nào chuyển đổi một đứa trẻ vô thừa nhận và lưu manh thành một con chiên ngoan đạo; nhưng hoàn toàn có thể chuyển hóa nó thành con người siêng năng... Và sau khi đã được biết những Hảo hán nơi Trảng cát, ông hy vọng thực hiện được một sự thỏa thuận giữa một vài đứa trong bọn chúng và những bà si đạo, để thử nghiệm một đợt mới, lần này thì được hướng dẫn hẳn hoi. Nhưng đến khi Sống-Nhàn đưa ông đến giới thiệu với cả bọn, khi mà cứ từng chút từng chút, ông đã dần dần tranh thủ được lòng tin cậy của số đông trong bọn chúng, ông thấy thật là hết sức vô ích mà ôm ấp cái ý đồ kia. Quả là hồ đồ, bởi vì lòng yêu tự do là cái tình cảm gắn sâu cội rễ nhất vào trái tim những hảo hán nơi trảng cát và nhất định là phải dùng những cách khác.

Trong những ngày đầu, lũ trẻ chú ý đến ông một cách ngờ vực. Đã biết bao lần trong đường phố, chúng nghe nói rằng các cha cố đem sự không may đến cho ta và công việc của các linh mục chỉ có thể tốt cho đàn bà. Nhưng linh mục Giô-dê Pê-đrô đã từng là một người thợ và ông hiểu phải đối xử với trẻ con như thế nào. Ông coi chúng như những người lớn, như những người bạn cùng mâm cùng chiếu. Và cứ như thế, dần dần ông đã thu được lòng tin của chúng, trở thành người bạn thân của tất cả, ngay cả những đứa, như Pê-đrô Ba-la và Giáo-sư, vốn không thích cầu nguyện. Nếu có khó khăn lớn, thì đó là trong quan hệ với Cẳng-Nhũn. Trong Giáo-sư, Pê-đrô Ba-la, Gã Mèo, cứ thờ ơ với những lời lẽ của linh mục (Giáo-sư, tuy vậy, vẫn quý mến ông vô cùng bởi vì ông thường đem sách đến cho nó), Mạch-Nha, Khuỷu-Khô-Khẳng và Giô-ao Gộc, nhất là Mạch-Nha, hết sức chăm chú lắng nghe những gì ông nói, thì Cẳng-Nhũn, thằng này lại tỏ một sự căm ghét mà ngay buổi đầu đã thấy được là vô cùng dai dẳng. Tuy nhiên, Giô-dê Pê-đrô cuối cùng cũng đã chiếm được lòng tin của tất cả. Và ông cũng đã, ít nhất phát hiện ra ở Mạch-Nha là một thiên hướng tu hà

Nhưng chiều hôm nay, không phải là một niềm hoan hỉ lớn khi thấy linh mục đến. Mạch-Nha bước lại gần và hôn bàn tay linh mục. Khuỷu-Khô-Khẳng cũng vậy. Những đứa khác thì cất tiếng chào ông. Linh mục Giô-dê Pê-đrô giải thích việc ông đến:

- Hôm nay tôi đến để mời tất cả các bạn...

Tất cả mọi đôi tai đều có vẻ dỏng lên chờ. Cẳng-Nhũn lộ ý cáu kỉnh, càu nhàu:

- Ông ta lại gõ trống tập hợp đây. Mình thì rất muốn biết tay nào sẽ đi...

Nhưng nó ngậm miệng ngay bởi vì Pê-đrô Ba-la đã nhìn nó, vẻ tức giận. Linh mục mỉm cười hiền từ. Ông ngồi lên một chiếc hòm gỗ. Giô-ao Gộc nhận thấy cái áo thụng của ông vừa bẩn lại vừa cũ. Nhiều miếng vá to bằng chỉ đen giữ cho áo khỏi rách và áo quả là rộng thùng thình đối với thân hình gầy gò của linh mục. Nó thúc khuỷu tay vào Pê-đrô Ba-la, thằng này cũng đương nhìn vào cái áo thụng ấy. Thế là Ba-la lên tiếng.

- Các bạn, linh mục Giô-dê Pê-đrô bạn thân của chúng ta, có đôi điều muốn nói với chúng ta. Hoan hô linh mục Giô-dê Pê-đrô.

Giô-ao Gộc hiểu rõ rằng tất cả những lời đó là do ở cái áo thụng rách vá và quá rộng cho cái thân hình gầy guộc của linh mục. Bọn trẻ đáp lại: “Hoan hô...!” Linh mục mỉm cười, đưa bàn tay ra hiệu. Giô-ao Gộc không rời cặp mắt khỏi chiếc áo thụng. Nó nghĩ rằng Pê-đrô Ba-la đúng là một thủ lĩnh, cậu ta hiểu tất cả, cậu ta biết rõ những gì phải làm. Vì Pê-đrô Ba-la, Giô-ao Gộc có thể sẵn sàng xả thân làm ngàn mảnh, cũng như cái người đen nào đó ở I-lê-uýt vì Bác-bô-da, vị thủ lĩnh vùng Pi-ra-tơ-ri. Linh mục Giô-dê Pê-đrô lần tay vào túi áo thụng, lấy ra một quyển kinh thánh bìa màu đen. Ông mở cuốn sách và từ bên trong rút ra mấy tờ giấy bạc mười ngàn rét...

- Đây là để mời tất cả các bạn hôm nay đến rạp đua... Tôi mời các bạn hôm nay tất cả đều cưỡi ngựa trên vòng đua dựng ở quảng trường tại I-ta-pa-gi-pơ.

Ông khấp khởi thầm rằng những nét mặt sẽ rạng rỡ lên thêm, một niềm vui sướng kì lạ sẽ bao trùm khắp gian phòng. Có được như thế thì ông sẽ tự thuyết phục được nhiều hơn nữa là ông đã hành động theo ý Chúa khi mà trong số năm trăm cruy-dây-rô[5] của Đô-na Guyn-héc-mi-nơ-xin-va cúng để mua sáp thắp trên bàn thờ Đức Thánh mẫu Đồng trinh, ông đã rút ra năm chụ để mời các Hảo hán nơi Trảng cát đến rạp đua ngựa gỗ. Và nhận thấy vẻ mặt chúng không hề bất thần rạng rỡ lên, ông lại sững sờ - mấy tờ giấy bạc vẫn trong tay - nhìn cái đám đông trẻ con ấy. Pê-đrô Ba-la đưa tay gãi gãi mái tóc (tóc nó dài chấm mang tai) muốn nói vài lời mà không sao mở miệng được. Nó bèn nhìn sang Giáo-sư và chính thằng này đã bộc bạch:

- Thưa Cha, Cha quả là một người tốt - nó đã có ý muốn nói rằng vị Cha ấy cũng tốt như Giô-ao Gộc, nhưng nó lại nghĩ rằng rất có thể ông linh mục sẽ phật lòng nếu nó so sánh ông với thằng bé đen. - Nhưng cái điều mới xảy ra đây duyên do là Cẳng-Nhũn và Khuỷu-Khô-Khẳng cả hai đều làm việc ở rạp đua. Và tất cả bọn này đã được mời tới đây, nó dừng lại một chút - do ông chủ rạp, là bạn thân của hai bạn đó, mới đến để quay vòng trên bàn đua tối hôm nay nên không phải mua vé. Bọn này không bao giờ quên lời mời của cha...

Giáo-sư nói rõ ràng thong thả, chọn từng tiếng, ý thức rằng cái lúc này quả là tế nhị, dự đoán rất nhiều điều và Pê-đrô Ba-la gật đầu tỏ ý đồng tình.

-... Vậy cho nên xin thư cho một lần khác. Nhưng mà Cha cũng đừng có đem lòng giận chúng tôi bởi vì bọn này đã không nhận lời mời. Cha không làm thế chứ, phải không?

Và nó nhìn vị linh mục lúc này vẻ mặt đã hoan hỉ trở lại.

- Không. Ta hãy để dành cho một lần khác.

Ông nhìn lũ trẻ mà mỉm cười:

- Kể ra thế này, lại hay hơn đấy. Bởi vì món tiền tôi có...

Và đột nhiên ông lặng im trước cái điều mà ông sắp bộc lộ. Ông nghĩ rằng cái việc này, có lẽ thế, đã là một bài học của Chúa, một lời cảnh cáo, và có lẽ ông đã phạm một việc làm không tốt. Ánh mắt ông lạ hẳn đi tới mức bọn trẻ con bước gần lại một bước.

Chúng nó nhìn vị linh mục mà chẳng hiểu chút gì. Pê-đrô Ba-la cau mày lại như những lúc nó phải giải quyết một điều hóc búa. Giáo-sư có ý định nói. Nhưng Giô-ao Gộc, nó lại hiểu tất cả, mặc dầu nó vẫn là thằng thiển cận nhất trong bọn:

- Đó là tiền của nhà thờ phải không cha?

Và nó cắn chặt môi bực tức với chính mình.

Bọn kia đã hiểu. Mạch-Nha nghĩ rằng việc đó quả là một tội lỗi lớn, nhưng nó lại cảm thấy lòng tốt của linh mục đã vượt lên trên tội lỗi. Thế là Cẳng-Nhũn tiến lại, tập tễnh hơn bình thường, dường như nó đi tới mà đương đấu tranh với chính mình, đến bên linh mục và gào lên gần như ngay từ đầu, nhưng tức khắc nó hạ rất thấp giọng:

- Chúng tôi, bọn này có thể đưa trả lại đúng vào cái chỗ của nó. Chẳng có gì khó khăn. Xin Cha đừng có lo ngại...

Và nó mỉm cười.

Và nụ cười mỉm của Cẳng-Nhũn cùng với tình thân ái mà linh mục đọc được trong cơn mắt của tất cả chúng nó (phải chăng có những giọt nước mắt mà ông thấy trong đôi mắt của Gộc) đã trả lại cho ông sự bình tĩnh, sự thanh tịnh, lòng tin vào cử chỉ của mình và vào Chúa của mình. Ông đáp lại với giọng bình thường của ông:

- Một bà góa già đã đưa cho tôi năm trăm đồng cruy-dây-rô để mua sắm những cây nến thờ. Tôi đã bớt ra năm chục để cho các bạn được cưỡi ngựa gỗ. Chúa sẽ phán xét có phải tôi đã làm điều tốt không. Bây giờ thì tôi lại đi mua thật sự những cây nến thờ.

Pê-đrô Ba-la cảm thấy nó có một món nợ phải trả đối với linh mục. Nó muốn linh mục biết rõ là tất cả chúng nó đều hiểu ông. Và không còn thấy được bất cứ một cách gì khác ngoài cái cách này, nó sẵn sàng từ bỏ cái công việc nó có thể tìm được để làm chiều nay và mời linh mục:

- Chúng tôi sẽ đến rạp đua xem Khuỷu-Khô-Khẳng và Cẳng-Nhũn, bây giờ đây, chiều hôm nay. Thưa cha, cha có ý định cùng đi với chúng tôi không?

Linh mục Giô-dê Pê-đrô nhận lời ngay; ông hiểu rằng đây là một bước tiến sâu thêm vào tình thân thiện của những Hảo hán nơi Trảng cát. Và một toán cùng đi với linh mục, đến quảng trường. Một số đông không đi, kể cả Gã Mèo đương muốn đến gặp Đan-va. Nhưng những đứa cùng đi thì trông như một đám trẻ con ngoan trở về nhà sau buổi đọc kinh bổn. Nếu chúng nó lành lặn và sạch sẽ, người ta có thể ngỡ đó là của một trường nội trú, khi thấy chúng đi đứng trật tự biết bao!

Trên quảng trường, chúng đi một vòng quanh rạp cùng ông linh mục. Chúng chỉ trỏ một cách kiêu hãnh Khuỷu-Khô-Khẳng bắt chước tiếng các con vật, ăn mặc kiểu lục lâm, Cẳng-Nhũn tự điều khiển vận hành cái vòng quay một mình bởi vì Nhô-din-hô Frăng-xa đã bỏ đi uống bia ở một quán rượu nào đó. Chỉ tiếc là, buổi chiều, đèn của rạp đua không được thắp sáng; như vậy thì không thể đẹp như ban đêm, khi bao vầng sáng quay cuồng với những ánh lửa muôn màu. Nhưng chúng nó tự hào về Khuỷu-Khô-Khẳng bắt chước tiếng các con vật, Cằng-Nhũn làm cho quay cái bàn vòng đua, cho bọn trẻ con trèo lên, lại cho chúng tụt xuống.

Giáo-sư, với một mẩu bút chì và một cái nắp hộp, vẽ Khuỷu-Khô-Khẳng ăn bận kiểu lục lâm. Nó có tài năng đặc biệt về môn vẽ và thường vẫn kiếm được tiền bằng cách vẽ ngay lên mặt vỉa hè những người đàn ông qua lại, những cô gái trẻ đương cùng đi với chồng chưa cưới... Họ dừng lại một chút, thích thú với hình vẽ chỉ mới là phác qua, đôi trai gái nói với nhau:

- Đúng là rất giống...

Nó nhặt những đồng xu và đứng lại sửa sang cái hình vẽ bằng phấn, mở rộng cảnh ra, đặt vào đó thêm những người đàn ông ở bên và những người đàn bà lịch sự, cho tới lúc một viên cảnh sát tới đuổi nó ra khỏi lòng đường. Đôi lúc, cũng đã có đám người xúm lại khá đông chăm chú dõi xem nó vẽ và cũng đã có những người trong đám đông thốt ra:

- Thằng bé này có tương lai đấy! Thật đáng phàn nàn là nhà nước chẳng hề để tâm đến những thiên bẩm như thế này.

Và họ gợi nhắc tới những trường hợp trẻ con lang thang đường phố, chúng nó đã được sự giúp đỡ của một số gia đình nào đó, trở thành những nhà thơ lớn, những ca sĩ nổi tiếng, và những họa sĩ tài năng.

Giáo-sư hoàn chỉnh bức vẽ (trong đó nó đưa vào cả cái bàn đua và Nhô-din-hô Frăng-xa say bí tỉ) và trao cho ông linh mục. Chúng nó xúm cả lại thành một nhóm nhen nhau nhìn ngó bức vẽ mà ông linh mục khen ngợi, bỗng đâu nghe có tiếng nói:

- Ô kìa, đúng là linh mục Giô-dê Pê-đrô...

Và bộ kính cặp cặp mũi của bà góa già gầy guộc chĩa thẳng vào nhóm trẻ như một vũ khí chiến tranh. Linh mục Giô-dê Pê-đrô đứng sững đôi chút bàng hoàng, lũ trẻ thì nhìn một cách tò mò vào những đốt xương ở cổ và ngực bà già, trên đó một mẩu kim loại rất quý lấp lánh dưới ánh nắng. Thế là có một giây phút tất cả đều im lặng, cho tới khi linh mục Giô-dê Pê-đrô bình tĩnh lại và chào:

- Xin chúc bà một buổi chiều tốt đẹp, bà Mác-gơ-rít...

Nhưng bà góa già Mác-gơ-rít Xăng-tôx chĩa bộ kính cặp mũi gọng vàng lên:

- Thế nào, Cha? Ngài không thấy xấu hổ khi thấy mình lại đương ở trong cái đám này ư? Một vị hành đạo của Chúa Trời? Một con người có một trách nhiệm cao cả như thế giữa cái đám đốn mạt nà

- Đó là những đứa trẻ, thưa bà!

Mụ già phóng ra một cái nhìn kẻ cả và bĩu môi khinh miệt, linh mục nói tiếp:

- Chúa Ki-tô đã phán: “Hãy để cho những đứa trẻ nhỏ đến với ta...”

- Những đứa trẻ nhỏ... những đứa trẻ nhỏ... mụ già khạc ra thành tiếng.

- Bất hạnh thay kẻ nào làm điều xấu cho một đứa trẻ! Chúa Trời đã phán như thế.

Và linh mục Giô-dê Pê-đrô đã đưa cao giọng vượt lên trên sự khinh miệt của mụ già.

- Cái của này ấy à, không phải là những đứa trẻ, đó là những tên đầu trộm đuôi cướp... Đồ vô lại, đồ trộm cắp... cái của này, đâu có phải là những đứa trẻ. Rất có thể chúng nó cũng trong bọn Hảo hán nơi Trảng cát... đồ trộm cắp... mụ già nhắc lại một kinh tởm.

Bọn trẻ con nhìn ngó mụ ta một cách tò mò; chỉ riêng Cẳng-Nhũn, vừa mới trong rạp đua đi tới - bởi vì Nhô-din-hô Frăng-xa đã trở về - thì nhìn mụ ta đầy căm giận. Pê-đrô Ba-la bước lên một bước, muốn trình bày:

- Ngài linh mục chỉ có ý muốn giúp...

Nhưng mụ già đã nhảy lùi một bước và lùi nữa:

- Mày đừng có lại gần tao, đừng có lại gần tao, đồ rác rưởi! Nếu không vì có linh mục ở đây thì tao đã gọi cảnh sát rồi!

Pê-đrô Ba-la phá lên cười, một cái cười ngạo mạn với ý nghĩa nếu không vì có linh mục thì mụ già sẽ chẳng còn giữ được cái mẩu kim loại quý giá, và ngay cả bộ kính cặp mũi nữa. Mụ già bỏ đi và với cái dạng bề trên, kênh kiệu, không quên ném một câu cho linh mục trước khi đi:

- Cứ cung cách này thì thưa Cha, ngài chẳng thể đi xa được đâu: Hãy cố gắng lo lắng cho những quan hệ của Cha nhiều hơn nữa!

Pê-đrô Ba-la mỗi lần lại cười to hơn lên và linh mục cũng thế, ông cũng cười, mặc dầu ông vẫn cảm thấy buồn phiền cho bà già, cho sự mù quáng của bà già. Nhưng bàn đua vòng đã quay, đong đầy những trẻ con ăn mặc đẹp và từng tí từng tí một, những cặp mắt các Hảo hán nơi Trảng cát đều hướng về ông, chứa chan mong muốn được cưỡi lên những con ngựa gỗ, được quay vò với những dải ánh sáng.

“Thì chúng là những đứa trẻ con, đúng thế!”, Linh mục nghĩ thầm.

Vừa chập choạng tối, một cơn mưa đổ xuống như trút. Nhưng rồi mây đen tan biến ngay trên bầu trời và các ngôi sao sáng lên lấp lánh và cũng sáng lên vừng trăng tròn. Tinh mơ, các Hảo hán nơi Trảng cát đến. Cẳng-Nhũn cho cỗ máy hoạt động. Và bọn trẻ quên đi là chúng không giống như những đứa trẻ khác, quên đi là chúng nó không nhà, không bố, mẹ, quên đi là chúng nó sống bằng trộm cắp cũng như người lớn, là chúng bị cả thành phố ghét sợ như quân trộm cướp.

Chúng nó quên đi những lời của mụ già mang bộ kính cặp mũi. Chúng nó quên đi tất cả và chúng nó cũng giống như tất thảy trẻ con, phóng những chiến mã trong bàn đua, quay vòng cùng với các thứ ánh sáng. Những ngôi sao sáng lấp lánh, và cũng sáng lên vầng trăng tròn. Nhưng trên tất cả thì sáng lên trong cái đêm này của Ba-hi-a những vầng ánh sáng xanh, lục, vàng và đỏ của cái “Rạp đua ngựa lớn Nhật Bản”.

❀ ❀ ❀

[1] Căng-ga-xây-rô (cangasayro): Nông dân nghèo trở thành kẻ cướp.

[2] I-ê-măng-gia (Iemanja): nữ thần tôn giáo người Đen, chủ trì bão tố, việc sống chết của những người đi biển, ngư dân… cũng là nữ thần của Ai-ô-ca, xứ hạnh phúc và tự do.

[3] Ma-lăng-đrô (Malanđro): thanh niên vô lại hay gây gổ nhưng lại nhiệt tình đàn hát cho những ngày hội của người nghèo.

[4] Thịt băm đậu đen

[5] Cruy-dây-rô (Cruzeeiros): Đơn vị tiền chính thức của nước Bra-xin

ães da Areia (Captains of the Sand, 1937) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hà Nội 1986
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.