Cũng chưa bao lâu, cái khoảng thời gian đã trôi qua từ ngày Đô-ra từ giã cõi đời, và hình ảnh sự có mặt con bé quá đỗi thoáng qua, tuy thế vẫn rất thật, ngay cả hình ảnh về cái chết của nó nữa, vẫn còn mang lại những ảo ảnh tràn khắp những đêm ở nhà kho. Đứa nào cũng vậy, mỗi khi chúng bước vào nhà kho là mỗi lần đưa mắt nhìn vào cái góc mà con bé có thói quen đến ngồi, cạnh Giáo-sư và Giô-ao Gộc, với niềm hy vọng vẫn còn thấy lại nó ở đó. Điều đó đã là một sự kiện không giải thích, một sự thật hoàn toàn bất ngờ trong cuộc sống của chúng, sự xuất hiện một người mẹ, một người chị em, cái lý do khiến chúng nó vẫn cứ kiếm tìm con bé, dù rằng chúng nó đều đã chính mắt trông thấy Cục-cưng-của-Chúa mang nó lên trên thuyền buồm của anh để thả xuống sâu thẳm trong lòng biển cả. Riêng chỉ Pê-đrô Ba-la là không tìm kiếm con bé trong nhà kho. Nó tìm trong bầu trời có cơ man các ngôi sao một ngôi sao mang mái tóc dài màu hung.
Một ngày nọ, Giáo-sư bước vào trong nhà kho và nó không thắp sáng ngọn nến, nó không mở bất cứ quyển sách nào và không nói một lời nào với bất cứ đứa nào. Đối với nó, tất cả cái cuộc sống ấy đã chấm dứt kể từ ngày Đô-ra bị bệnh sốt mang đi mất. Khi con bé xuất hiện, trong nhà kho tràn đầy sự có mặt của nó. Đối với Giáo-sư, tất cả đều mang một ý nghĩa mới. Nhà kho đã trở thành như cái khung của một bức tranh, đó là, khi thì những sợi tóc hung tản mạn trên Gã Mèo đương nhìn thấy chính người mẹ của hắn, khi thì đôi môi đương hôn Giô-dê Chồn để cho thằng bé ngủ, hoặc cái mi đương hát những bài hát ru. Và cũng còn là những nụ cười của con bé về đởm lược của Khuỷu-Khô-Khẳng, cứ như chính con bé cũng lại là một cô gái lai dũng cảm của xéc tao; hay là cái lúc nó rạng rỡ bước vào nhà kho, làn tóc phất phơ trong gió, vẻ mặt hớn hở, mỗi chuyến trở về sau lúc mở đầu một ngày trời ngang dọc các đường phố trong thành phố; hay là đôi mắt con bé chan chứa yêu thương, gương mặt nóng bừng vì cơn sốt, đôi bàn tay vươn về phía người yêu cho cuộc ân ái đầu tiên và cũng là cuối cùng. Bây giờ thì Giáo-sư coi cái nhà kho như là cái khung đã bị bóc mất bức tranh bên trong: vô dụng. Đối với nó, nhà kho đã chấm dứt không còn một ý nghĩa gì hoặc là lại mang một ý nghĩa quá khủng khiếp. Thằng bé đã thay đổi rất nhiều suốt những tháng trôi qua sau cái chết của Đô-ra: nó đi đứng lặng lẽ, nét mặt nghiêm nghị, và nó đã tìm đến liên lạc với cái ông mà một ngày nọ, trên vỉa hè đường phố Chi-lê, đã chuyện trò với nó, tặng nó cái ống điếu hút thuốc và đưa địa chỉ cho nó.
Tối hôm đó, Giáo-sư không thắp sáng ngọn nến, nó không mở bất kì quyển sách chuyện nào và đứng im lặng khi Giô-ao Gộc bước tới bên nó. Nó gói tất cả những gì của nó thành một bọc, hầu hết chỉ là những cuốn sách: Giô-ao Gộc quan sát nó, không nói một lời, nhưng thằng này hiểu rất rõ mặc dầu tất cả bọn chúng đều nhất trí rằng không có một người đen nào đần độn cho bằng cái thằng đen Giô-ao Gộc. Nhưng khi Pê-đrô Ba-la đi tới, cũng ngồi xuống cạnh nó và đưa cho nó một điếu thuốc lá, Giáo-sư tuyên bố:
- Tớ đi đây, Ba-la.
- Đi đâu, hở thằng bạn nối khố của tớ?
Giáo-sư đưa mắt nhìn bao quát toàn cảnh nhà kho, bọn trẻ đương đi đi lại lại, đương cười đùa và chuyển động giống như những chiếc bóng, giữa bầy chuột.
- Liệu cuộc sống này rồi nó sẽ đưa chúng ta đến cái gì? Đến những trận đòn thù của cảnh sát một khi họ tóm được bọn ta. Tất thảy mọi người đều nói rằng một ngày kia, cuộc đời sẽ có thể thay đổi… Linh mục Giô-dê Pê-đrô, Giăng A-đam, mày nữa. Bây giờ, tới sẽ đi lo thay đổi cuộc đời của tớ.
Pê-đrô Ba-la không đáp một lời, nhưng nó nói thằng kia qua ánh mắt. Giô-ao Gộc không đưa ra một câu hỏi nào: nó đã hiểu thấu.
Tớ sẽ đi học vẽ với một họa sĩ ở Ri-ô. Ông tiến sĩ Đăng-tát, người có cái ống đi hút thuốc, đã viết thư cho ông bạn họa sĩ và đã gửi đến cho ông ta một vài trong số những bức tranh của tớ. Ông kia đã nhắn lại là hãy gửi tớ đến cho ông ta. Một ngày kia, tớ sẽ phô bày rõ thế nào là cái số phận chúng ta, của chính chúng ta… Tớ sẽ vẽ chân dung tất cả bọn ở đây… Đã có một lần mày nói đến chuyện đó, mày còn nhớ chứ? Vậy thì tớ, tớ sẽ làm cái việc ấy.
Tiếng nói của Pê-đrô Ba-la sôi nổi:
- Cả mày nữa đấy, mày sẽ giúp thay đổi số phận của chúng ta, của tất cả.
- Như thế là thế nào nhỉ?- Giô-ao Gộc hỏi.
Giáo-sư, cả nó cũng vậy, cũng không hiểu điều đó. Và Pê-đrô Ba-la thì lại cũng không thể dẫn giải ý mình cho rõ hơn. Nhưng nó tin về điều đó vào Giáo-sư, vào những bức tranh thằng này sáng tác, vào dấu ấn của oán hờn đã khắc sâu trong tim nó, vào lòng yêu tha thiết sự công bằng và sự tự do mang theo trong nó, cùng với nó. Chẳng có ai sống một cách vô ích thời ấu thơ giữa những Hảo hán nơi Trảng cát. Ngay cả khi mà người ta sẽ là một nghệ sĩ và không phải là một tay trộm cắp, một tên giết người hoặc một gã vô lại. Nhưng mà Pê-đrô Ba-la không biết cách bộc bạch cho rõ tất cả những điều đó. Nó chỉ nói:
- Anh em không bao giờ quên mày, thằng bạn cố tri ạ! Mày đã đọc nhiều câu chuyện cho anh em nghe, mày đã là đứa tuyệt nhất trong đám anh em ta… Đứa tuyệt nhất…
Giáo-sư cúi đầu. Giô-ao Gộc đứng lên; tiếng nói của nó là một tiếng gọi và một tiếng kêu vĩnh biệt cùng một lúc:
- Này! Anh em ta… Này! Anh em ta.
Tất cả chúng nó chạy va tới và vây quanh lấy nó. Giô-ao Gộc vươn dài hai cánh tay:
- Các bạn, Giáo-sư sắp ra đi. Nó sẽ trở thành một họa sĩ ở Ri-ô đơ Gia-nây-rô.
Các bạn, Giáo-sư muôn năm!
Những tiếng hoan hô khiến trái tim thằng bé thắt lại. Nó đưa mắt nhìn nhà kho. Không còn là một cái khung trống, thiếu mất bức tranh bên trong. Đó là cái khu của cả vô vàn những bức tranh giống hệt những hình ảnh của một cuộn phim. Những cuộc sống đầy đấu tranh và gan góc. Cả đói khổ nữa. Khát khao muốn ở lại. Nhưng thử hỏi ở lại thì sẽ đẩy được tới đâu? Cứ ra đi như thế này, nó sẽ có thể giúp đỡ các bạn được tốt hơn. Nó sẽ đưa ra ánh sáng những cuộc đời ấy… Tất cả chúng nó đến bắt tay nó, quàng vai nó chào a-bra-xô. Khuỷu-Khô-Khẳng thì rầu rĩ, rầu rĩ như có một trong các căng-ga-xây-rô của Lam-pi-ão chết.
Trong đêm tối trên bến cảng, ông tiến sĩ đã có cái ống điếu hút thuốc, vốn là một nhà thơ, đưa một phong thơ và tiền cho Giáo-sư:
- Ông ấy sẽ đón em ở bến cảng. Ta đã đánh điện cho ông ấy. Ta rất mong em sẽ không phụ niềm tin tưởng ta đã đặt vào tài năng em.
Chưa hành khách đi hạng ba nào mà lại có tới chừng ấy con người xúm quanh mình, để chào tiễn lên đường. Khuỷu-Khô-Khẳng tặng Giáo-sư một con dao găm. Pê-đrô Ba-la cố ra vẻ đùa vui, cố mà nói những chuyện tếu. Nhưng Giô-ao Gộc thì không giấu nỗi buồn đương đè nặng lòng dạ nó.
Từ ngoài xa, Giáo-sư vẫn còn nhận ra cái mũ cát-két mà Pê-đrô Ba-la cứ vẫy mãi trên bến cảng. Và giữa những hành khách xa lạ kia, sĩ quan bận quân phục, thương gia và tiểu thư, nó ngồi đó dặt dè, không biết là mình nên làm cái gì, nó cảm thấy tất cả sự bạo dạn của nó đã rời nó mà ở lại cùng các Hảo hán nơi Trảng cát. Nhưng bên trong lồng ngực nó mà con bé ghi lại chính cái dấu vết của mình, nó cảm thấy dâng lên tình yêu của nó đối với tự do: cái dấu vết, sau này, sẽ khiến nó rời bỏ người họa sĩ già chỉ có bày dạy cho nó những điều thuộc về sách vở để mà đi vẽ, chỉ có theo như ý nó, những cảnh mà, trước khi nó chiêm ngưỡng, sẽ làm kinh ngạc cả đất nước.
Đã qua rồi, mùa đông, đã qua rồi, mùa hè, đã tới mùa đông khác, và cái mùa đông này thì lại trở nên buồn bã do những trận mưa kéo dài và cơn gió không hề chịu ngừng lại, mà không chạy qua trên trảng cát dù chỉ trong một đêm thôi. Bây giờ, Mạch-Nha đã đi bán báo, làm nghề đánh xi giày, mang vác thuê hành lí cho các du khách. Nó đã đạt kết quả trong việc thôi không ăn cắp để kiếm sống nữa. Pê-đrô Ba-la vẫn chấp nhận cho nó cứ tiếp tục ở lại nhà kho. Dù rằng nó không còn cùng sống ở đó cái cuộc sống chung của những đứa khác. Pê-đrô Ba-la đã không nghe thấy những điều gì đã xảy ra trong tâm hồn Mạch-Nha. Nó biết rằng thằng bạn muốn trở thành linh mục, muốn trốn xa cuộc sống chúng nó. Nhưng nó nhận định rằng cái chuyện đó chẳng giải quyết được gì cả, chẳng nâng lên được chút nào cuộc sống của chúng nó, tất cả bọn chúng nó. Linh mục Giô-dê Pê-đrô đã làm tất cả những gì làm được để thay đổi cuộc đời của chúng. Nhưng chỉ độc mỗi mình ông, còn những kẻ khác thì không cho rằng ông đã xử sự tốt. Vậy thì điều đó đã đưa lên tới cái gì? Tất cả phải đồng một lòng, chỉ có như vậy, như là Giăng A-đam đã nói.
Nhưng Chúa Trời đã gọi Mạch-Nha. Qua những đêm tối trong nhà kho, thằng bé đã nghe thấy tiếng gọi của Chúa. Cái đó đã là, trong nó, một tiếng nói hùng mạnh như tiếng của biển, như tiếng của gió cứ quanh quẩn quanh ngôi nhà. Một tiếng nói đương vang tới, không phải là tới thính giác của nó, mà tới trái tim nó, một tiếng nói đương gọi nó và khiến nó hoan hỉ và cũng làm cho nó sợ hãi một lúc. Một tiếng nói mà, để ban cho nó cái hạnh phúc được phụng sự mình, đòi hỏi tất cả ở nó. Chúa nhân hậu gọi nó. Và tiếng gọi của Chúa ở bên trong Mạch-Nha cũng hùng mạnh như là tiếng của gió, như là tiếng hùng mạnh của biển. Mạch-Nha muốn sống vì Chúa, một cuộc sống của trầm tư và những khổ hạnh, một cuộc sống gột rửa được sạch tất thảy mọi tội lỗi, có thể cho nó xứng đáng với sự chiêm ngưỡng đối với Chúa. Chúa đòi gọi nó và Mạch-Nha nghĩ đến sự cứu rỗi của mình. Nó không còn muốn nhìn thấy bất cứ cái gì xảy ra trên thế gian này để giữ cho đôi mắt được sạch mọi thứ rác rưởi, để được chiêm ngưỡng gương mặt của Chúa. Bởi vì, đối với những kẻ nào mà đôi mắt đã coi trọng tội lỗi, gương mặt Chúa Trời cũng dữ tợn như là mặt biển đương cơn hung hãn, nhưng mà đối với những ai mà đôi mắt và trái tim đều sạch hết mọi rác bẩn, gương mặt Chúa lại dịu hiền như là những lượn sóng biển một buổi sáng nắng ráo và yên tĩnh.
Mạch-Nha đã được Chúa ghi dấu ấn. Nhưng nó cũng đã được chính cuộc sống của Hảo hán nơi Trảng cát ghi dấu ấn. Nó khước từ cái tự do của nó, khước từ không nhìn và không nghe tới cái cảnh tượng của thế gian, khước từ với cái vết tích đã đưa nó vào cuộc sống phiêu bạt giữa các Hảo hán nơi Trảng cát, đã cho nó nghe thấy tiếng gọi của Chúa Trời. Bởi vì, tiếng nói của Chúa đương vang ở nơi con tim nó thì hùng mạnh không gì so sánh được. Trong phòng khổ hạnh, nó sẽ cầu nguyện cho các Hảo hán nơi Trảng cát, bởi vì với nó là phải nghe và vâng theo cái tiếng nói đương kêu gọi nó. Đó là cái tiếng nói đã biến dạng khuôn mặt nó trong đêm tối mùa đông trong nhà kho. Cứ dường như ở bên ngoài kia bừng lên mùa xuân vậy.
Linh mục Giô-dê Pê-đrô lại một lần nữa được đòi lên Tòa Tổng Giám mục. Lần này, Đức Cha bề trên của dòng Ca-puy-xanh cũng có mặt cùng với vị tu sĩ hầu cận Đức Giám mục. Linh mục Giô-dê Pê-đrô run sợ với ý nghĩ l một phen nữa, họ lại dở trò quở mắng ông. Ông đã thường xuyên làm ngược lại các lệ luật để đến giúp đỡ các Hảo hán nơi Trảng cát. Ông run sợ với ý nghĩ là đã làm điều đó một cách vô hiệu bởi vì ông đã chỉ có quá ít thành công trong việc cải thiện số phận chúng. Tuy nhiên, trong những giờ phút khắc nghiệt nào đó ông chẳng đã mang được đôi chút an ủi đến cho những linh hồn bé bỏng đó sao? Vả lại nữa, còn có cả Mạch-Nha… đó là một thu phục cho Đức Chúa Trời nhân hậu. Nếu như ông đã không có được tất cả, nếu như ông đã không thể thay đổi những cuộc đời ấy như ông hằng mong muốn, thì mặt khác, ông cũng đâu có mất tất cả. Có cái gì đó mà ông đã thu nhận được cho ý nguyện của Chúa. Và ông đã hoan hỉ về cái đó, mặc dầu nỗi buồn về thu hoạch nhận được từ các Hảo hán nơi Trảng cát còn nhỏ nhoi. Mà ngay cả như thế đi nữa cũng đã có những lúc ông giống như cái gia đình đang thiếu cho chúng nó. Vào những giờ khắc nào đó, ông đã là cả người bố lẫn người mẹ. Giờ đây, các chỉ huy đều đã trở thành những chàng trai cũng sắp sửa là người lớn. Giáo-sư, đã đi ra khỏi đó rồi, những đứa khác cũng sớm sẽ noi theo gương nó. Và nếu chúng nó lại cứ chỉ được là quân trộm cắp sống một cuộc đời tội lỗi, thì trong những giờ khắc nào đó, vị Cha đó cũng đã tìm được cách giảm nhẹ cảnh tượng cái nghèo đói của chúng bằng một chút hồi sức, một chút trìu mến và gắn bó.
Nhưng lần này thì vị tu sĩ không quở mắng ông. Ông ta báo cho ông linh mục tin Tòa Tổng giám mục đã quyết định cấp cho ông một giáo phận. Và ông ta kết luận:
- Ngài đã gây cho chúng tôi nhiều vất vả đấy, thưa Cha, với những ý nghĩ sai lầm về phạm vi giáo dục. Tôi mong rằng lòng tốt của Đức Tổng giám mục, thể hiện ở việc cấp cho Ngài giáo phận này, sẽ buộc Ngài nghĩ đến những phận sự của Ngài và đến việc Ngài hãy xa rời vĩnh viễn những điều cách tân kiểu xô-viết ấy đi.
Đã có bao giờ cái giáo phận ấy được chức linh mục! Bởi vì Tòa Tổng giám mục chẳng sao tìm ra được một vị linh mục sẵn sàng ra đi sống giữa những Căng-ga-xây-rô, trong một thị trấn nhỏ heo hút ở vùng Cao xéc-tao. Thế nhưng cái tên của vùng đất bé nhỏ ấy lại đem đến cho trái tim linh mục Giô-dê Pê-đrô niềm hân hoan khôn tả. Ông sẽ sống giữa những căng-ga-xây-rô. Và những căng-ga-xây-rô thì cũng như là những đứa trẻ con lớn. Ông cảm tạ, ông sắp cất tiếng nhưng Đức Cha bề trên dòng Ca-puy-xanh đã ngắt lời ông:
- Ngài tu sĩ có nói cho tôi biết rằng trong những đứa trẻ ấy, có một đứa đã có thiên hướng giáo chức.
- Chính là tôi cũng đang định thưa với Đức Cha về thằng bé ấy,- vị linh mục nói,- Thưa, chưa bao giờ tôi được thấy một thiên hướng vững vàng đến thế.
Nhà truyền giáo mỉm cười:
- Ấy cũng bởi vì hiện nay chúng ta còn thiếu một “thầy dòng”. Tất nhiên không hoàn toàn giống như trường hợp về một vị linh mục, ngài đã hiểu quá rõ. Tuy nhiên, có thể coi như gần như thế. Và nếu thiên hướng của nó quả là chân thành, giáo hội có thể đảm nhận sẽ cho nó đi học và cũng có thể giúp nó được thụ phong linh mục.
- Thằng bé sẽ sung sướng đến phát điên lên được.
- Ngài bảo đảm về nó chứ?
Mạch-Nha sắp trở thành thầy dòng. Một ngày kia rất có thể nó được thụ phong. Vị linh mục đi ra, vừa tạ ơn Chúa.
Bọn trẻ tiễn ông linh mục ra tận sân ga. Tiếng còi xe lửa rú lên không khác một khúc ca than vãn. Rất nhiều Hảo hán nơi Trảng cát có mặt. Linh mục Giô-dê Pê-đrô ngắm nhìn chúng chan chứa niềm thương yêu. Pê-đrô Ba-la nói:
- Thưa Cha, Ngài đã rất tốt với anh em bọn này, một con người tốt.. Không ai có thể quên Cha.
Chúng nó không còn nhận ra Mạch-Nha khi anh chàng xuất hiện trong chiếc áo thụng thầy tu, một sợi dây dài lủng lẳng bên sườn. Linh mục Giô-dê Pê-đrô nói với chúng nó:
- Các con không nhận ra thầy già Frăng-xoa thuộc Gia đình thần thánh ư?
Chúng nó thì chúng nó ngắm nghía Mạch-Nha với chút ít ngượng ngùng. Nhưng mà Mạch-Nha mỉm cười với chúng. Nhìn nó gầy hơn, có cái vẻ khổ hạnh trong chiếc áo thụng thầy dòng Ca-puy-xanh, trông nó có vẻ lớn rất nhiều.
- Bạn ấy sẽ cầu nguyện cho tất cả các con… Linh mục Giô-dê Pê-đrô nói.
Và ông chia tay với chúng. Ông bước vào trong toa xe lửa. Tàu huýt còi, cũng như một lời vĩnh biệt. Nhìn ra qua cửa sổ, ông linh mục thấy lũ trẻ đứng vẫy tay và mũ cát-két, những chiếc mũ đủ loại đã tàng, những mảnh giẻ vẫn dùng làm khăn tay. Một bà già ngồi trước mặt vị linh mục và đương tha thiết muốn bắt chuyện, phát hoảng lên khi thấy vị linh mục khóc thành tiếng.
Sống-Nhàn không còn thấy đến nhà kho nữa. Nó đã kiếm được một cây ghi-ta, nó sáng tác những bài xam ba, nó đương nổi tiếng. Lại thêm một ma-lăng-đrô dọc ngang phố phường Ba-hi-a. Chẳng ai có cuộc sống giống như cuộc sống một ma-lăng-đrô. Anh chàng lân la suốt ngày chuyện vãn bên bể bốc dỡ, trong chợ, anh chàng là người của tất cả các hội hè trên các Mô-rô và tại khu phố Rơm Rạ, các buổi tối, hoặc trong các miếu thờ. Anh chàng chơi đàn ghi-ta, uống và ăn phè phỡn, bằng giọng hát và tiếng đàn, anh chàng gợi tình những cô gái lai trẻ đẹp. Anh chàng kích động gây lộn xộn trong các buổi hội hè và khi bị cảnh sát đuổi bén gót, lại mò đến ẩn náu ở nhà kho cùng các Hảo hán nơi Trảng cát.
Thế là anh chàng dạo đàn cho chúng, chia sẻ với chúng những sặc cười ầm ĩ cứ như là bao giờ anh ta cũng vẫn là một đứa trong bọn. Càng lớn lên, Sống-Nhàn càng xa dần chúng nó. Đến độ mười chín tuổi, anh ta sẽ không bao giờ trở lại đó nữa. Anh ta sẽ trở nên một ma-lăng-đrô chính cống, một trong những anh chàng ma-lăng-đrô xưa nay vẫn yêu Ba-hi-a hơn tất cả mọi thứ trên đời, vẫn sống một cuộc sống hoàng kim qua các đường phố trong thành phố. Thù địch của mọi giàu sang và của lao động, bạn bè của hội hè và ca nhạc và của thân thể những cô gái lai. Ma-lăng-đrô kẻ khởi xướng mọi lộn xộn, kẻ đánh võ ca-pô-ây-ra, kẻ sử dao cạo, kẻ ăn cắp khi thấy là cần thiết. Tốt bụng, như là đã vang lên trong bài “ABC” nào đó mà Sống-Nhàn đã sáng tác về một ma-lăng-đrô khác. Bao lần hứa với các cô gái lai sẽ tu tỉnh và tìm công việc làm ăn, nhưng bao giờ cũng lại vẫn là ma-lăng-đrô. Một trong những anh hùng rơm của thành phố. Gương mặt mà các Hảo hán nơi Trảng cát tương lai sẽ yêu mến và chiêm ngưỡng cũng như Sống-Nhàn đã yêu mến và chiêm ngưỡng Cục-cưng-của-Chúa.
Một ngày nọ, sau một thời gian trôi qua khá lâu, Pê-đrô Ba-la cùng đi với Cẳng-Nhũn qua các đường phố trong thành phố. Chúng nó bước vào trong một nhà thờ ở khu Pi-ê-đa-dơ, chúng nó vốn thích ngắm những đồ vật bằng vàng, và cũng nhân thể, ở đó dễ dàng thì nẫng cái túi xách của bà phu nhân đương cầu nguyện. Nhưng vào giờ này, chẳng có lấy một bà ph trong nhà thờ. Chỉ có một bầy trẻ con nhà nghèo và một thầy dòng đương dạy kinh bổn cho chúng.
- Đấy, Mạch-Nha đấy..- Cẳng-Nhũn nói. Pê-đrô Ba-la đứng lại ngắm nghía nhà tu hành. Nó so vai:
- Liệu cái đó đưa được đến cái gì?
Đến lượt Cẳng-Nhũn quan sát anh ta:
- Cái đó chẳng thể giúp nó kiếm cho được cái ăn.
- Rồi cũng đến một ngày kia nó sẽ thành linh mục.
Cẳng-Nhũn nói thêm:
- Chỉ với lòng tốt thì không thể đủ.
Nó kết thúc:
- Chỉ có duy nhất lòng oán thù…
Mạch-Nha không nhìn thấy hai đứa kia. Với một sự kiên nhẫn và một lòng nhân hậu tuyệt vời, anh ta dạy kinh bổn cho những đứa trẻ ngỗ ngược. Hai Hảo hán nơi Trảng cát đi ra, vừa lắc đầu Pê-đrô Ba-la đặt bàn tay lên vai Cẳng-Nhũn:
- Không phải là oán thù, không phải là lòng tốt. Duy nhất chỉ có đấu tranh.
Tiếng nói đầy nhân hậu của Mạch-Nha xuyên suốt nhà thờ. Tiếng nói oán hờn của Cẳng-Nhũn văng vẳng ngay sát cạnh Pê-đrô Ba-la. Nhưng mà nó thì nó lại chẳng nghe thấy tiếng nào trong những tiếng nói ấy. Cái tiếng mà nó nghe thấy, đó chính là tiếng nói của Giăng A-đam, người công nhân bốc dỡ, tiếng nói của bố nó đã bỏ mình trong cuộc đấu tranh.