Những chuyến tàu thuỷ cập bến ở I-lê-uýt chật ních những đàn bà. Những người đàn bà từ Ba-hi-a, từ A-ra-ca-giu đến, tất cả cái phái đẹp của Rê-xi-phơ và ngay cả của Ri-ô-đơ Gia-nơ-rô. Từ các cầu tàu, những “cô-lô-nen” nối theo gót các bà các cô đó. Nâu, hung và lai kéo đến đó tìm kiếm họ - bởi vì cái tin ca-cao vụt lên giá đã lan khắp trong nước. Tin cũng cho biết rằng trong cái thành phố tương đối quá nhỏ như I-lê-uýt, mới đây đã khai trương bốn tửu gia - rằng ở đó các cô-lô-nen, trong những đêm cờ bạc và rượu sâm-banh, vung không tiếc tay những tờ giấy bạc năm trăm ngàn rét, rằng mới tinh mơ, họ đã từ đó đi ra trần như nhộng, qua các đường phố trong thành phố, mà họp lại thành cái “Bộ ba Y” không đúng nghĩa. Cái tin ấy lan qua đường phố các ả gái giang hồ và chính là những khách buôn đã tung nó ra. Quán rượu “Bra-ma” ở A-ca-ra-giu từ đó vắng mất hầu những người đàn bà của nó. Họ đã kéo nhau đi hết tửu gia “En-đô-ra-đô”, quán rượu ở I-lê-uýt. Tất cả phái đẹp ở Rê-xi-nhơ đều xuống hết mấy chiếc tàu thuỷ của Clô-i-đô Bra-xi-lây-ra. Những đức ông chồng người Péc-mam-buốc đành ở nhà thiếu vợ, tất cả các bà này đã ùn đến tửu gia “Ba-ta-clăng” được các sinh viên đương nghỉ hè mệnh danh là “Nhà trường”. Lại cũng có một số người khác từ Riô-đơ Gia-nây-rô đến và các bà này thì tìm tới “Tri-a-nông”, “Ex Vê-duy-vơ”, cái tiệm sang trọng nhất trong số bốn tiệm cà phê ca nhạc của thành phố ca-cao. Ngay đến cả Ri-ta Za-na-giuya-ra, nổi tiếng với cặp mông núng nính ngọ nguậy, cũng đã từ bỏ sự yên tĩnh của thành phố Ex-tăng-xi-a của cô ta - ở đó cô ả đã là bà hoàng trong số những người đàn bà phóng đãng và ở đó cô ả bắt tình với tất cả mọi người - để ra đi và trở thành bà hoàng của “Viễn Tây”, cái quán rượu ở đường phố Con Cóc, cái quán ở đó những cái hồn và những tiếng nổ bụp của những chai sâm-banh hoà lẫn vào những phá súng lục và những tiếng ồn ào của các cuộc loạn đả - bởi vì “Viễn Tây” là quán rượu của những người quản lí và cũng là quán rượu của những chủ trại cỡ nhỏ đột ngột phất lên.
Trong đường phố của Đan-va, trong cái khu vực gái giang hồ ở Ba-hi-a, nhà nào nhà nấy vắng tanh. Những người đàn bà bỏ đi, người đến quán “Ba-ta-clăng”, kẻ đến quán “En-đô-ra-đô”, những cô gái la thì tìm đến quán “Viễn Tây. Một số người lại đến quán “Tri-a-nông” ở đó họ nhảy với các Cô-lô-nen. Ở quán “Ba-ta-clăng”, những người đàn bà từ Péc-mam-buốc và những người từ Xéc-gi-pơ đến thì đưa một phần món tiền họ rút được của các cô-lô-nen cho các sinh viên, những anh chàng này, để bù lại, đã cho họ tình yêu của mình. Du khách đến đông đầy quán “En-đô-ra-đô”. Và, ngay cả ở quán “Viễn Tây”, những người đàn bà cũng được nhận quà trang sức. Cũng có đôi lúc, họ nhận những viên đạn, một kiểu quà trang sức kì cục, vào chính giữa ngực. Ri-ta Ta-na-giuya-ra nhảy điệu sác-le-stôn trên một cái bàn, giữa rượu sâm-banh và những phát súng lục. Tất cả những thứ này đều là từ hiện tượng ca-cao nâng giá đã có từ bao năm nay.
Khi Đan-va biết là I-da-ben-lơ đã có được những chiếc vòng đeo cổ và một chiếc nhẫn nạm ngọc, vì vậy mà cô ả không phải là ở “Tri-a-nông”, cái quán sang trọng nhất trong các quán rượu - cô ả chỉ ở “Ba-ta-clăng- thì chị chàng không còn cưỡng được nữa. Chị chàng soạn sửa hòm xiểng. Hỏi còn có gì mà chị chàng không làm được ở “Tri-a-nông”, ả vẫn là người đàn bà tuyệt nhất trong đám đàn bà ở đường phố của mình. Ả ta may đo cho Gã Mèo một bộ cánh đặc biệt lịch sự bằng ca-si-mia và bỗng nhiên Gã Mèo không còn là đứa trẻ con nữa, mà thực thụ là tay “bao gái” trẻ nhất ở Ba-hi-a.
Cái buổi tối nó bước vào nhà kho, diện bộ quần áo mới tinh, chân mang đôi giày đen bóng lộn, đầu đội mũ rơm và đeo nơ cánh bướm, Giô-ao Gộc la lên vẻ kinh hoảng:
- Thế này thì có phải đúng đây là cái Gã Mèo không đấy nhỉ?
Gã Mèo chưa đầy mười tám tuổi. Nó đã yêu Đan-va bốn năm nay rồi. Nó quay sang Giô-ao Gộc:
- Từ nay, tớ xông vào cuộc đời.
Nó mời thuốc lá điếu lấy ra từ một hộp thuốc lá loại đắt tiền, đưa tay vuốt mái tóc đã cắt tỉa rất đúng kiểu. Và đặt tay lên vai Pê-đrô Ba-la:
- Lão huynh, tớ giương buồm tới I-lê-uýt. Bà chủ muốn làm ơn lớn. Tớ đi với ả ta. Tớ thừa súc làm giàu. Rồi đây, khi tớ trở thành cự phú, bọn ta tất cả sẽ làm một chầu phè phỡn!
Pê-đrô Ba-la cười mỉm. Lại thêm một đứa nữa bỏ ra đi. Chúng nó đâu có phải cứ mãi mãi là những đứa trẻ con... mặc dầu chẳng có bao giờ - nó hiểu rõ điều này - chúng nó lại có cái vẻ là trẻ con cả. Phải sống cái cảnh đời đầy những hiểm nghèo của đường phố từ tuổi quá non dại, các Hảo hán nơi Trảng cát đều không có gì khác với những người lớn, chúng nó giống hẳn người lớn. Tất cả sự khác nhau chỉ là ở tầm vóc thân thể. Về mặt chủ yếu, họ giống nhau thật sự: chúng nó yêu và vật ngửa những con bé đen trên cát; đã từ lâu, chúng nó đã trộm cắp để sống, chẳng khác những tay trộm cắp trong thành phố; bị tóm cổ, chúng cũng bị đánh đập như những người lớn. Đôi lúc, hoàn cảnh cũng đã dẫn chúng đến hành động trấn lột với vũ khí trong tay, hoàn toàn như những tên cướp ghê gớm nhất ở Ba-hi-a. Lời ăn tiếng nói của chúng lại cũng vậy, đâu có phải cái kiểu nói năng của trẻ con, mà đi từ khẩu ngữ của người lớn. Chúng nó, ngay cả cảm xúc, cũng giống như người lớn. Và trong khi, những đứa trẻ khác chỉ biết có mê mải vào các trò chơi, vào việc học hành của lứa tuổi mình, chúng nó thì lại tự thấy mình bị ngoặc vào những hoàn cảnh mà chỉ người lớn mới có thể gỡ ra được. Như những người lớn, luôn luôn, trong cuộc sống khổ cực và vất vưởng của chúng, chẳng một lúc nào chúng lại có thể hoàn toàn trẻ con, bởi vì cái điều tạo nên tuổi thơ, đó là cái môi trường của gia đình, ông bố, bà mẹ, sự vắng bóng những trách nhiệm. Chưa bao giờ chúng có được một người bố, một người mẹ trong cuộc sống lang thang ngoài đường phố. Và bao giờ chúng cũng phải tự mình trông nom lấy chính thân mình, tự mình lo đáp ứng cho chính mình. Giống như người lớn, đã từ bao giờ. Bây giờ, những đứa lớn nhất - những đứa này, từ bao năm nay, đã là những tay cầm đầu của cả bọn - đã trở thành những chàng trai trẻ, chúng nó bắt đầu ra đi hướng về số phận của chúng. Trước đây, Giáo-sư đã ra đi, nó vẽ những bức tranh ở Ri-ô-đơ Gia-nây-rô. Sống-Nhàn dần dần tách khỏi nhà kho, nó chơi ghi-ta trong các hội hè, đi theo những đám rước hội đền, kích động sự lộn xộn trong những buổi chợ phiên. Lại thêm một ma-lăng-đrô nữa cho thành phố. Tên tuổi nó đã được người ta biết đến, ngay cả trên báo chí. Cũng như bọn du thủ du thực, nó cũng được các thanh tra cảnh sát biết đến, các vị này, luôn luôn để mắt dõi theo các ma-lăng-đrô. Mạch-Nha đi làm thầy dòng trong nhà tu. Chúa đã gọi nó, chẳng ai còn biết thêm được gì về nó nữa. Bây giờ đến lượt Gã Mèo ra đi: nó sẽ bòn rút tiền bạc các “cô-lô-nen” ở I-lê-uýt. Một ngày nọ, Cục-cưng-của-Chúa đã có nói rằng Gã Mèo sẽ giàu sụ - bởi vì cứ sống trong đường phố, cầu bất cầu bơ, Gã Mèo trở thành tay cờ gian bạc lận, một tênô, một thằng điếm. Những đứa khác rồi cũng sắp sửa lần lượt ra đi. Chỉ riêng nó, Pê-đrô Ba-la, chưa biết mình sẽ trở nên như thế nào. Cũng chẳng bao lâu nữa, nó sẽ không còn là một thanh niên non nớt: nó sẽ trở thành người lớn, và đến lúc đó thì phải giao lại cho một đứa khác cái trách nhiệm chỉ huy các Hảo hán nơi Trảng cát. Lúc đó, nó sẽ đi đâu? Nó không có thể là một nhà trí thức, như Giáo-sư mà đôi bàn tay chỉ có tồn tại để mà vẽ; nó đâu có phải sinh ra để làm một kẻ phiêu đãng, giống như Sống-Nhàn chẳng bao giờ cảm thấy được cái quang cảnh của cuộc vật lộn hàng ngày mà mọi người phải xông vào. Sống-Nhàn, cái thằng chỉ độc có có thích đi lang thang phố phường, ngồi xổm mà trò chuyện dông dài trên các bến cảng, uống rượu trong hội hè đình đám trên những ngọn đồi ở Mô-rô. Pê-đrô nó cảm nhận rõ thế sự, nó cho rằng cái thứ tự do kiểu đó không thể đủ để làm cho dịu cái khát vọng tự do nó ấp ủ, và nó cũng chẳng hề nghe thấy như là Mạch-Nha đã nghe được, cái tiếng gọi của Chúa. Những lời thuyết giảng của linh mục Giô-dê Pê-đrô cũng chẳng bao giờ nói được cho nó điều gì đáng giá, cái phần ở vị linh mục đã khiến nó quý mến ông, đó là cái lòng nhân hậu của con người ấy. Duy chỉ có những lời nói của Giăng A-đam là có tìm thấy tiếng vang vọng trong tim nó. Nhưng Giăng A-đam, chính ngay cả anh ta, cũng không hiểu biết được bao nhiêu. Thứ mà anh ta có, đó là những cơ bắp cuồn cuộn, tiếng nói có uy quyền của anh, do đó, anh ta quả là thích hợp để dẫn dắt một cuộc đình công. Lại càng hơn nữa, Pê-đrô Ba-la không hề muốn bỏ ra đi như Gã Mèo, để bòn rút qua gái điếm các cô-lô-nen ở I-lê-uýt, moi sạch tiền bạc của họ. Cái điều nó muốn, nó vẫn chưa hiểu là gì, và bởi thế nó còn nấn ná ở lại với các Hảo hán nơi Trảng cát.
Ngôi nhà kho vang tiếng chào từ biệt của Gã Mèo. Thằng này mỉm cười, rất mực lịch sự, vuốt mái tóc bóng lộn, ở một ngón tay có chiếc nhẫn màu rượu chát một ngày nọ nó đã đánh cắp được.
Từ trên bến cảng, Pê-đrô Ba-la chào từ biệt Gã Mèo. Trong bộ áo quần rách như xơ mướp, vẫy vẫy cái mũ cát-két, nó tự cảm thấy quá xa vời với Gã Mèo, lúc này đứng cạnh Đan-va, đã hoàn toàn mang dáng dấp một người lớn với bộ quần áo đo may rất khéo. Pê-đrô Ba-la cảm nhận một chút bâng khuâng mơ hồ, một ước vọng được bỏ trốn, được đi tới một chỗ nào đó nhờ một chiếc tàu thuỷ hoặc bám vào đuôi một đoàn xe lửa.
Nhưng cái đứa được đuôi một đoàn xe lửa mang đi lại là Khuỷu-Khô-Khẳng. Một buổi tối, cảnh sát bất thần chộp được thằng lai ấy đang cướp chiếc ví của một thương gia. Khuỷu-Khô-Khẳng lúc đó đã mười sáu tuổi. Nó bị dẫn về đồn cảnh sát. Người ta quất nó túi bụi bởi vì nó chửi họ, tất cả, lính và cảnh sát, với sự khinh miệt vô bờ bến của con người ở xéc-tao vẫn nuôi dưỡng trong lòng đối với cảnh sát. Và nó không kêu lên dù chỉ một tiếng trong khi bị hành hạ. Tám ngày sau, cảnh sát thả nó ra, và chính nó thì ra đi gần như mừng rỡ, bởi vì từ nay nó đã có một nhiệm vụ trong cõi đời: tiêu diệt lính cảnh sát.
Nó ở lại mấy hôm trong nhà kho, mặt lầm lũi, chìm đắm trong những suy nghĩ riêng tư. Miền đất xéc-tao đòi gọi nó, cuộc chiến đấu ở vùng quê căng-ga-xô đòi gọi nó. Một buổi nó nói với Pê-đrô Ba-la:
- Tớ muốn đến một thời gian với cánh Ma-lô-cây-rô ở A-ra-ca-giu.
Bọn trẻ Anh-điêng Ma-lô-cây-rô, đó là Hảo hán nơi Trảng cát của A-ra-ca-giu. Chúng nó sống dưới gầm cầu, trộm cắp và đánh nhau trong các đường phố. Vị Chánh án về vị thành niên Ô-lanh-pi-ô Măng-đôn-xa vốn là người giàu lòng nhân hậu, ông tìm cách để giải quyết những cuộc bung xung sao cho thoả đáng nhất mà ông có thể làm được, nhưng mà sự tinh khôn của những đứa trẻ ấy, chẳng có gì khác với người lớn, đã đẩy ông xuống vực thẳm của sự kinh ngạc và ông hiểu ra rằng vấn đề quả là nan giải. Ông kể lại với các nhà văn viết tiểu thuyết những việc làm của bọn trẻ ấy, và trong thâm tâm, ông yêu quí chúng nó. Nhưng ông tự cảm thấy khổ sở bởi vì ông không sao giải quyết nổi cái vấn đề về cuộc sống của chúng. Khi trong đám Anh-điêng Ma-lô-cây-rô xuất hiện một lính mới, ông biết ngay là một cư dân Ba-hi-a đã cập bến từ đuôi một đoàn xe lửa. Và khi có một đứa nào bỗng biến mất, ông cũng biết ngay thằng bé đến chỗ các Hảo hán nơi Trảng cát ở Ba-hi-a.
Một buổi sáng tinh mơ, đoàn tàu đi Xec-gi-po huýt còi ở ga Can-xa-đa. Không có đứa nào tiễn chân Khuỷu-Khô-Khẳng ra ga bởi vì ít lâu nữa nó còn trở lại; nó đến với bọn Anh-điêng Ma-lô-cây-rô một thời gian chưa định để lãng quên cảnh sát Ba-hi-a đã để ý đến nó. Khuỷu-Khô-Khẳng lẩn vào trong cái toa đen chở hàng lúc đó cửa đang mở và lẩn vào giữa mấy bao hàng. Mấy phút sau, đoàn tàu rời ga. Sau đó, là con đường của xéc-tao, của những người Anh-điêng ở Đông Bắc. Trong những ngôi nhà bằng đất thó, xuất hiện những người đàn bà, những đứa trẻ con. Những người đàn ông cởi trần đương làm đất. Trên con đường dành cho gia súc, chạy song song với đường sắt, có những bầy bò kéo nhau đi. Những người chăn bò kêu gào, chọc gậy nhọn dồn lũ súc vật. Ở các nhà ga, có bán bánh ngọt bằng ngô, bánh minh-gô, măng-gu-ni-a, pa-mô-nha, và căng-gi-ca cô-ca-ca-đa. Miền xéc-tao lướt qua, lọt vào qua đôi lỗ mũi và qua cặp mắt đứa con của xéc-tao. Phó-mát và kẹo đường phên diễu qua trên những mặt hàng, ở những trạm đỗ nhỏ, và phong cảnh nông thôn, không hề bị quên, lại ngập tràn ngay đôi mắt người xéc-ta-nơ-giô. Bao nhiêu năm sống ở thành phố không hề xoá nhạt lòng yêu mến của nó đối với xéc-tao khốn khổ và đẹp. Chưa bao giờ nó là đứa con của thành phố như Pê-đrô Ba-la, Sống-Nhàn, Gã Mèo. Bao giờ nó cũng là một kẻ tha hương lạc loài trong thành phố: với một ngôn ngữ khác hẳn, nó nói chuyện về Lam-pi-ão gọi ông ta là “cha đỡ đầu của tớ”, bắt chước những tiếng kêu các con vật ở xéc-tao. Ngày trước, mẹ con nó đã có được một mảnh đất. Mẹ nó là bạn đỡ đầu của Lam-pi-ão cho nên các “cô-lô-nen” đều kiềng mặt không dám đụng đến tài sản của bà. Nhưng sau khi Lam-pi-ão cút về vùng xéc-tao thuộc Pec-nam-buốc, các “cô-lô-nen” chiếm luôn miếng đất đã là của riêng của bà mẹ Khuỷu-Khô-Khẳng. Bà xuống cho đến tận thành phố để yêu cầu được xét xử. Trên đường đi, bà đã chết và Khuỷu-Khô-Khẳng đơn độc tiếp tục, vẻ mặt lầm lũi, con đường đã đi. Nó học được rất nhiều trong đám Hảo hán nơi Trảng cát, nó hiểu ra rằng không phải chỉ có riêng trong xéc-tao những người giàu tàn nhẫn với người nghèo. Ngay ở thành phố cũng vậy. Nó hiểu ra rằng trẻ con nhà nghèo đều khốn khổ bất cứ ở nơi nào, và những kẻ giàu thì hành hạ và chỉ huy ở khắp mọi nơi. Đôi lúc, nó cũng đã có được nụ cười, nhưng không bao giờ nó sao lãng oán thù. Qua gương mặt Giê-đô Pê-đrô, nó hiểu ra lí do vì sao Lam-pi-ão kính nể các vị linh mục. Và nếu như từ trước nó đã kính nể Lam-pi-ão như một người anh hùng, kinh nghiệm sống của nó ở thành phố đã khiến nó lại càng yêu quí gương mặt cha đỡ đầu của nó hơn tất cả mọi thứ. Hơn ngay cả khuôn mặt Pê-đrô Ba-la.
Giờ đây, là miền xéc-tao. Hương các loài hoa của xéc-tao. Những điểm dừng chân nghỉ thân quen, bầy gia cầm thân quen, những con chó gầy còm nằm trên bực cửa các ngôi nhà. Các cụ già trông giống như những nhà truyền giáo Anh-điêng. Những người đen với những chuỗi hạt dài quấn quanh cổ. Mùi thơm ngọt ngào từ các nhà bếp nấu ngô và nấu sắn. Những người đàn ông gầy guộc vẫn cày bừa đất để nhận được một ngàn rưỡi rét của chủ đất. Duy có vùng ca-a-tăng-ga là của tất cả mọi người bởi vì Lam-pi-ão đã giải phóng vùng ca-a-tăng-ga. Ông ta đã đuổi bọn nhà giàu ra khỏi ca-a-tăng-ga, ông ta đã hoá ca-a-tăng-ga thành vùng đất của các căng-ga-xây-rô, đương đấu tranh chống bọn chủ trại. Người anh hùng Lam-pi-ão, anh hùng của toàn miền xéc-tao trong cả năm bang. Lũ kia nói rằng đó là một tội phạm, một căng-ga-xây-rô không có tim, giết người, hãm hiếp, cướp bóc. Nhưng với Khuỷu-Khô-Khẳng, với đàn ông, đàn bà và trẻ con ở xéc-tao, đó là một Zum-bi-đét Pal-mơ-re mới, đó là người giảí phóng, người cầm đầu một đạo binh mới. Bởi vì tự do là giống như mặt trời, tài sản quí giá nhất trên thế gian này. Và Lam-pi-ão chiến đấu, giết chóc, hãm hiếp và cướp bóc là để cho sự tự do và để cho quyền của những con người bị bóc lột trên xéc-tao mênh mông cả năm bang. Pec-nam-buốc, Pa-rai-ba, A-lê-ga-at, Xéc-gi-pơ và Ba-hi-a.
Quang cảnh xéc-tao khiến Khuỷu-Khô-Khẳng sững sờ. Đoàn tàu không chạy, nó đi từ từ, cắt xuyên những vùng đất của xéc-tao. Ở đây cái gì cũng nên thơ, cằn cỗi và đẹp. Duy chỉ có nỗi cực của con người là khủng khiếp. Tuy nhiên, những con người lại hùng mạnh đến mức họ tạo ra được những cái đẹp ngay trong lòng cái cơ cực ấy. Hỏi còn có gì họ lại chẳng làm nổi một khi Lam-pi-ão giải phóng được toàn miền ca-a-tăng-ga, đem đến cho họ công bằng và tự do?
Đến những người chơi đàn ghi-ta, những người đọc thơ ứng khẩu đi qua. Đến những người chăn bò đương dồn bầy gia súc đi qua. Những người đàn ông trồng sắn và kê. Đến trạm đỏ, các cô-lô-nen xuống toa cho dãn gân cốt. Họ đeo những khẩu súng lục cỡ lớn. Những ca sĩ ghi-ta mù cất tiếng hát, cầu xin một chút bố thí. Một người đen mặc áo sơ-mi và đeo chuỗi hạt, đi qua trạm đỗ và phô lên những lời kì dị bằng một ngôn ngữ không ai hiểu. Ngày trước, anh ta đã là nô lệ, bây giờ, đó là một người điên qua lại nơi trạm đỗ. Ai ai cũng sợ anh ta, sợ những lời nguyền của anh ta, bởi vì anh ta đã đau khổ quá nhiều, ngọn hèo của viên quản lí đã xé nát sườn anh ta. Cũng như thế, ngọn roi của cảnh sát, quản lí cho bọn nhà giàu, đã xé nát hai bên sườn Khuỷu-Khô-Khẳng. Mọi người một ngày kia sẽ phải gờm nó, chính là nó đây.
Vùng ca-a-tăng-ga miền xéc-tao, hương thơm những bông hoa ở xéc-tao, nước đi êm ái của đoàn tàu trong xéc-tao. Những người đàn ông mang dép nhẹ và đội mũ da. Trẻ con đương tập sự trò cướp bóc trong cái trường học của nghèo đói và của bóc lột con người.
Đoàn tàu dừng lại ngay giữa vùng ca-a-tăng-ga, Khuỷu-Khô-Khẳng nhảy tót ra ngoài toa tàu. Các căng-ga-xây-rô giương súng, chiếc xe tải đã chở họ đến đương đỗ ở mé kia đường cái, bao nhiêu dây thông tin đều bị cắt sạch. Trong vùng ca-a-tăng-ga thôn dã không còn thấy một bóng người. Một cô gái trẻ ngất lịm trong một toa tàu, một nhân viên thương vụ giấu biệt cái ví. Một gã cô-lô-nen béo mập đi ra từ trong toa tàu và gọi:
- Thủ lĩnh Viếc-guy-li-nê...
Tay căng-ga-xây-rô đeo kính hướng khẩu súng vào hắn:
- Đi vào!
Khuỷu-Khô-Khẳng cảm thấy như trái tim nó sắp vỡ tung ra vì hoan hỉ. Nó gặp được đỡ đầu của nó. Viếc-guy-li-nô Fe-rây-ra Lam-pi-ão, người anh hùng của bầy trẻ ở xéc-tao. Nó bước lại gần ông ta; một căng-ga-xây-rô khác định đuổi nó đi ra xa nhưng nó đã gọi:
- Bố đỡ đầu của con...
- Mày là ai?
- Con là Khuỷu-Khô-Khẳng, con trai bà bạn già đỡ đầu của bố...
Lam-pi-ão nhận ra nó, mỉm cười với nó. Các xăng-ga-xây-rô xông vào các toa tàu hạng nhất; họ cũng không đông, khoảng một tá. Khuỷu-Khô-Khẳng cầu xin:
- Bố đỡ đầu, bố cho con được ở với bố... Bố hãy giao cho con một khẩu súng.
- Mày vẫn còn là một đứa trẻ...
Lam-pi-ão ngắm nghía nó qua cặp kính râm.
- Con không còn là trẻ con nữa, không. Con đã từng chọi nhau với cảnh sát.
Lam-pi-ão gọi to.
- Zê Ba-hi-an, đưa cho Khuỷu-Khô-Khẳng một khẩu súng.
Ông ta nhìn thằng con đỡ đầu:
- Mày, mày trấn ngả này. Đứa nào muốn chạy trốn, cho nằm xuống luôn.
Ông ta đi vào lo cái việc “khuyên giáo”. Gào thét và ngất lịm ở trong đó, tiếng một phát súng vang lên. Thế rồi cả đoàn lại quay trở ra trên đường cái. Họ dắt theo ra hai người lính cảnh sát cũng đi trên tàu. Lam-pi-ão chia tiền bạc cho các căng-ga-xây-rô. Khuỷu-Khô-Khẳng cũng được nhận phần chia cho nó. Từ trong một toa tàu, một dòng máu nhỏ chảy ra. Mùi thơm của xéc-tao bay vào hai lỗ mũi Khuỷu-Khô-Khẳng. Hai người lính cảnh sát bị áp dựa lưng vào một bức tường. Zê Ba-hi-an nâng nòng súng, nhưng tiếng Khuỷu-Khô-Khẳng đã van nài Lam-pi-ão:
- Để chúng nó đó cho con, bố đ đầu. Bọn chúng nó đã hành hạ con ở đồn cảnh sát, bọn chúng nó đã đánh đập con ngay khi con còn nhỏ tí...
Nó giơ súng lên; có xec-ta-ne-giô[25] nào mà không biết nhắm cho trúng!
Khuôn mặt lầm lũi của nó rạng một nét cười xuyên suốt qua rồi chạy khắp toàn thân nó. Người lính thứ nhất ngã xuống người thứ hai định bỏ chạy trốn, nhưng viên đạn đã trúng vào sườn anh ta. Tức thì Khuỷu-Khô-Khẳng nhảy chồm tới, dao găm trong tay, nó thoả mãn đến tột độ sự báo oán của nó. Zê Ba-hi-an reo lên:
- Thằng lỏi thế mà vào loại cừ nhất đấy...
- Bà mẹ nó đã là một con sói. Bà bạn già của tôi... Lam-pi-ão nhắc lại kiêu hãnh.
“Một con thú dữ thực sự...” người hành khách đi tàu nghĩ thế, trong lúc đoàn tàu chuyển dịch chậm chạp, sau khi các nhân viên đã bốc dỡ hết những khúc gỗ bỏ bừa bãi trên đường sắt. Toàn căng-ga-xây-rô đã mất tăm trong vùng ca-a-tăng-ga. Không khí vùng xéc-tao căng phồng, lồng ngực Khuỷu-Khô-Khẳng lúc đó đương dừng lại và, dùng dao găm, nó cứa hai nét vạch vào báng gỗ khẩu súng của nó. Hai mạng đầu tiên. Đằng xa đoàn tàu huýt còi trong sự kinh khiếp.