Hảo Hán Nơi Trảng Cát

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vii - Nơi Đây Chúa Trời Mỉm Cười Như Một Đứa Bé Đen

❊ ❊ ❊

Chúa Giê-su Hài đồng quả là một cám dỗ quá" face="Times New Roman">Không thể nào nói được đương là một buổi trưa mùa đông. Mặt trời trải trên các đường phố một ánh sáng dịu, không chút cháy da cháy thịt, mà cái nóng lại mơn trớn như bàn tay một người đàn bà. Trong khu vườn gần đó nhất, trăm hoa đua nở thành những bó đủ mầu sắc. Cúc ma-gơ-rít và “mười một giờ”, hồng và cẩm chướng, thược dược và hoa tím. Trong đường phố dường như phảng phất một hương thơm ngọt ngào, hết sức tinh tế, nhưng Mạch-Nha vẫn cứ thấy được là đã lọt vào trong lỗ mũi như là làm cho nó say sưa. Trước cửa một ngôi nhà người Bồ-đào-nha giàu có, nó đã được hưởng đồ thừa một bữa ăn trưa gần ngang bữa tiệc. Cô hầu gái trong nhà đem ra cho nó dĩa thức ăn đầy tú hụ, đã nói trong khi nhìn các đường phố, mặt trời mùa đông, những người qua lại không mang áo khoác ngoài.

- Thật là một ngày tốt đẹp.

Những tiếng nói ấy quện lấy Mạch-Nha trong đường phố. Một ngày tốt đẹp, và thằng bé bước đi vô tư lự, huýt sáo một bài sam-ba đã học được của Cục-cưng-của-Chúa, và nhớ dần lại là linh mục Giô-dê Pê-đrô đã hứa sẽ tìm mọi cách để xin cho nó vào được chủng viện. Linh mục Giô-dê Pê-đrô đã nói với nó rằng tất cả vẻ đẹp ấy buông xuống bao phủ mặt đất và con người, đó là một món quà của Chúa trời và ta phải tạ ơn Chúa về cái đó. Mạch-Nha chiêm ngưỡng bầu trời xanh ở đó hẳn là có Đức Chúa trời ngự trị và tạ ơn Chúa qua một nụ cười mỉm, và nó nghĩ rằng Đức Chúa trời quả thật là nhân hậu. Và nghĩ đến Chúa trời, nó cũng nghĩ đến những Hảo hán nơi Trảng cát. Bọn chúng nó ăn cắp, đánh nhau trong các đường phố, thề báng bổ, chửi rủa, vật ngã những con bé đen trên trảng cát, đôi lúc gây thương tích bằng những nhát dao găm hoặc dao cạo cho mọi người và cho cảnh sát… ấy vậy mà, chúng nó đều tốt, đều là bạn chí cốt của nhau. Nếu chúng nó đã làm tất cả những chuyện đó, chính bởi vì chúng nó không đứa nào có nhà, có bố, có mẹ. Và cuộc sống của chúng là một cuộc sống no đói thất thường, và chúng nó nằm ngủ trong một ngôi nhà hầu như không có mái che. Nếu chúng nó không làm những chuyện đó, chúng sẽ chết đói, bởi vì thật là quá hiếm hoi những nhà mà người ta cho một đứa này cái ăn và một đứa khác cái mặc… Mạch-Nha nghĩ rằng tất cả chúng nó đều bị kết tội đày xuống địa ngục. Pê-đrô Ba-la không tin là có địa ngục, Giáo-sư cũng không hơn, cả hai đứa chỉ có chế giễu nó. Giô-ao Gộc, thằng này thì tin ở Ô-muy-luy, những vị thần của người đen đã từ châu Phi đến. Cục-cưng-của-Chúa, vốn là một ngư dân đảm lược và một võ sư Ca-pô-ây-ra vô địch, anh ta cũng tin vào các vị đó và họ đã nhập nhằng với các vị thánh của người trắng từ châu Âu đến. Linh mục Giô-dê Pê-đrô thì bảo rằng cái đó chỉ là mê tín, là một sai lầm, những lỗi không phải ở họ. Mạch-Nha thấy trở nên buồn trong cái vẻ đẹp của ngày hôm đó. Tất cả chúng nó rồi sẽ phải kết tội đày xuống địa ngục ư? Địa ngục là một chỗ lửa cháy không bao giờ tắt, chốn ấy, những người bị đày bị thiêu đốt suốt cả một cuộc đời mà cuộc đời ấy thì không bao giờ chấm dứt. Và trong địa ngục còn có cả những hình phạt mà ngay cả cảnh sát, ngay cả Nhà trừng giới cũng không biết nổi. Mấy ngày trước đây, trong một kỳ thuyết pháp ở nhà thờ Pi-ê-đa-dơ, Mạch-Nha đã được nghe một thầy dòng người Đức mô tả địa ngục. Ngồi trên những dãy ghế dài, đàn ông và đàn bà hứng đón những lời nói rực lửa của thầy dòng như những ngọn roi da quất. Thầy dòng mặt bừng bừng và mồ hôi chảy ròng ròng. Cách diễn đạt của ông có phần rối ren và qua cách nói năng như thế, địa ngục hiện ra lại còn ghê gớm hơn nữa, những ngọn lửa bén vào những thân thể đã một thời đẹp đẽ khi ở trên trần gian và đã đam mê vào việc tình ái, những bàn tay đã khéo léo và đã đam mê vào việc trộm cắp, vào sử dụng dao găm và dao cạo. Đức Chúa Trời, qua lời giảng dạy của thầy dòng, là Đức Chúa Trời phán quyết đã trừng phạt, không phải là Đức Chúa trời nhân hậu trong những ngày tươi đẹp của linh mục Giô-dê Pê-đrô. Về sau đó, người ta cũng đã giảng giải cho Mạch-Nha hiểu rằng Chúa Trời là lòng nhân hậu tuyệt đỉnh và sự công bằng tuyệt đỉnh. Và Mạch-Nha bao phủ lòng yêu quý của nó đối với Chúa Trời nhân hậu thêm một màng sợ hãi đối với Đức Chúa Trời, và từ đó nó sống phân thân giữa hai tình cảm ấy. Cuộc đời thằng bé là cuộc đời bất hạnh của một đứa trẻ vô thừa nhận và, bởi đó, nó đẩy thằng bé vào một cuộc sống tội lỗi, đầy những cắp trộm hầu như hàng ngày, những gian dối lừa đảo trước cửa những nhà giàu, và cũng chính vì thế, trong ánh huy hoàng của cái ngày hôm nay, Mạch-Nha chiêm ngưỡng bầu trời với đôi mắt mở to vì sợ hãi và nó cầu xin Chúa Trời nhân hậu, tốt đến thế (mà cũng công bằng đến thế…) hãy tha thứ cho những tội lỗi của nó và cho những tội lỗi của các Hảo hán nơi Trảng cát. Trước hết, không phải những tội lỗi đó của chúng nó là do tự chúng nó. Tình trạng tội lỗi đó là do cuộc đời.

Linh mục Giô-dê Pê-đrô đã có nói rằng tội lỗi đó là do ở cuộc đời và ông cố làm tất cả để chữa chạy cho chính cuộc sống của chúng nó, bởi vì theo ông hiểu, đó là cách duy nhất để giữ cho chúng một cuộc sống không tì vết. Tuy nhiên, một buổi chiều nọ, linh mục có mặt ở một chỗ cùng Giăng A-đam, người công nhân bốc dỡ tuyên bố rằng tội lỗi đó là ở cái xã hội tổ chức tồi, đó là tội lỗi của những người giàu… rằng khi mà hiện trạng đó chưa thay đổi thì lũ trẻ con không thể nào trở thành những con người tốt được. Và anh ta nói thầm rằng linh mục Giô-dê Pê-đrô sẽ không bao giờ làm được gì cho chúng nó bởi vì bọn nhà giàu sẽ ngăn cản ông làm điều đó. Ngày hôm đó, linh mục Giô-dê Pê-đrô cảm thấy một nỗi buồn da diết và khi Mạch-Nha đến an ủi ông rằng không nên quan tâm chút nào tới những lời của Giăng A-đam, vị linh mục trả lời:

- Cũng đã nhiều lúc ta phải nhận rằng anh ta có lí, rằng tất thẩy đều đảo lộn. Nhưng Chúa Trời thật là nhân hậu và người sẽ có cách sang lại hiện trạng đó…

Linh mục Giô-dê Pê-đrô nghĩ rằng Chúa Trời sẽ khoan dung và ông muốn giúp chúng nó. Và cũng vì ông không nhận ra, không nói là những cách để đi tới đó, thậm chí, than ôi, một bức tường sừng sững trước ông (tất cả mọi người đều muốn xử sự với các Hảo hán nơi Trảng cát như là những đứa trẻ được nuôi dạy trong lòng một ngôi nhà và một gia đình) nên ông đã đành chịu hầu như bó tay và đôi lúc lại như mất hướng. Nhưng ông hy vọng rằng Chúa, một ngày nào đó sẽ ứng vào cho ông và trong khi đợi chờ, ông không hề rời con mắt khỏi chúng nó, và cũng đã đôi lần ông thành công trong việc kéo chúng nó ra xa những hành động tội lỗi. Chính ông cũng lại là một trong những người đã đóng góp công sức vào việc xóa bỏ cái tệ nạn “đồng dâm” trong bọn chúng. Và việc này lại trở nên một trong những kinh nghiệm lớn nhất của ông trong cách xử sự đối với những Hảo hán nơi Trảng cát. Hễ ông nhắc đi nhắc lại với chúng nó rằng cần thiết phải chấm dứt cái tệ “đồng dâm” đi bởi vì đó là một tội lỗi, một điều vô luân lí và xấu xa, bọn trẻ lại cười giễu ông sau lưng và tiếp tục đồng dâm với những đứa bé nhất và xinh xẻo nhất. Nhưng cái ngày mà linh mục - lần này thì có sự giúp đỡ của Cục-cưng-của-Chúa khẳng định rằng đó là kiểu quan hệ không xứng đáng với một người đàn ông, nó khiến cho người đàn ông cũng trở thành như người đàn bà, còn tệ hại hơn là một người đàn bà, thì Pê-đrô Ba-la đưa ra những biện pháp ngăn chặn mạnh mẽ, thẳng tay đuổi bọn “đĩ đực” ra khỏi bang. Và, không nhân nhượng với những cố gắng bao dung của linh mục, nó không nhận những đứa trẻ ấy trở vào băng nữa!

- Nếu chúng nó trở lại, cái chuyện bẩn thỉu lại tiếp tục, thưa cha.

Và Pê-đrô Ba-la nhổ bật, có thể nói như thế, cái tệ nạn “đồng dâm” ra khỏi môi trường các Hảo hán nơi Trảng cát, khác nào nhà phẫu thuật cắt bỏ khúc ruột thừa viêm nhiễm ra khỏi cơ thể con người. Khó khăn nhất đối với linh mục Giô-dê Pê-đrô là làm thế nào hòa hợp mọi sự với nhau. Nhưng ông cứ phải mò mẫm và đôi lúc cũng đã mỉm cười một cách hài lòng với những thành quả, mặc dầu muốn thế nào thì muốn, Giăng A-đam cứ cười ông và tuyên bố rằng cách mạng sẽ lập lại tất cả đúng như là cần phải thế. Trên kia, trong thành phố Cao, những người giàu có và các bà phu nhân một mực đòi những Hảo hán nơi Trảng cát phải bị hoặc bắt vào nhà lao, hoặc giam giữ tập trung ở Nhà trừng giới còn tồi tệ hơn nhà lao. Nơi kia, phía dưới, trên những bể bốc dỡ, Giăng A-đam muốn thẳng tay với các nhà giàu, san bằng tất cả, đem trường học đến cho bọn trẻ. Linh mục thì ông ta muốn đem cho chúng nó nhà ở, trường học, tình thương và tiện nghi mà không có cách mạng, không phải dứt khoát với nhà giàu. Nhưng ở khắp mọi ngả đều dựng lên một bức tường ngăn cản. Trong tình thế đó, ông cứ như là bơ vơ lạc lõng và cầu xin Chúa Trời ứng cho mình. V rõ ràng có một sự khiếp sợ nào đó khi ông suy nghĩ về cái vấn đề ấy mà ông thừa nhận cái đúng, cũng không phải là đã tự thấy, thuộc về người công nhân bốc dỡ Giăng A-đam. Thế là, ông bị một nỗi sợ sệt ám ảnh, bởi điều đó không phải là những bài giảng của các thầy giáo đã dạy ông, và ông cầu nguyện suốt hàng bao nhiêu tiếng đồng hồ để xin Chúa Trời giúp cho ông sáng suốt.

Trong số những Hảo hán nơi Trảng cát, Mạch-Nha đã trở thành một thành quả to lớn của linh mục Giô-dê Pê-đrô. Trước nay, nó đã lừng danh là một trong những đứa độc dữ nhất của băng và người ta đã kể về nó rằng, một hôm nào đó, nó kề dao găm vào cổ một thằng bé đã không muốn cho nó vay tiền và nó đã cắm mũi dao từ từ, không run tay cho tới khi máu chảy ra và thằng kia phải đưa cho nó tất cả những gì mà nó đòi. Nhưng lại cũng nghe kể lại rằng một lần khác, nó đã xỉa lưỡi dao cạo vào Si-cô Mỡ, trong lúc thằng bé lai ấy hành hạ một con mèo bỗng dưng đột nhập vào nhà kho đuổi bắt chuột. Cái ngày mà linh mục Giô-dê Pê-đrô bắt đầu nói về Đức Chúa Trời, đến Chúa Ki-tô, đến lòng nhân hậu và lòng tin đạo, Mạch-Nha bắt đầu thấy có sự chuyển biến. Đức Chúa Trời đã gọi nó và nó đã nghe được tiếng nói uy quyền tuyệt đối qua cái nhà kho. Nó nhìn thấy Chúa trong những giấc mơ của nó và nó nghe thấy cái tiếng gọi đó của Chúa mà linh mục Giô-dê Pê-đrô đã nói đến. Và nó hướng tất cả con người ở nó về Chúa, nó nghe thấy tiếng nói của Chúa, nó cầu nguyện trước những bức hình mà vị linh mục đã đem đến cho nó. Ngày đầu tiên, nó bị chế giễu trong nhà kho. Nó đã cho một trong những đứa nhỏ nhất một trận, những đứa khác nín bặt. Ngay hôm sau, linh mục bảo với nó rằng nó đã làm sai, rằng phải biết chịu đau khổ vì Chúa, và Mạch-Nha tặng luôn lưỡi dao cạo còn như mới nguyên cho thằng bé mới bị nó đánh hôm trước, và từ đó, không còn bao giờ nó đánh bất cứ một đứa nào nữa, nó tránh những cuộc lộn ẩu, và nếu nó không tránh những vụ trộm cắp vì chính đó là cách để cho chúng nó sống, và cũng là cách duy nhất. Mạch-Nha linh cảm mãnh liệt tiếng gọi của Chúa và nó muốn chịu đau khổ vì Chúa. Hàng giờ và hàng giờ, nó quỳ trong nhà kho, nằm ngủ ngay trên nền đất, cầu nguyện ngay cả lúc buồn ngủ díp mắt, chạy trốn những con bé đen gạ làm tình với nó trên cát nóng ở các bến. Và như thế, nó tôn thờ Đức Chúa Trời nhân từ và nó hiến dâng sự đau khổ của nó đổi lại những cực hình mà Chúa đã phải trải qua ở trần gian. Rồi sau đó, chợt nảy đến sự phát hiện ra Chúa Trời phán xử (với Mạch-Nha thì trở thành vị Chúa Trời trả thù) và sự sợ hãi đối với Chúa tràn ngập tâm hồn nó và hòa lẫn với lòng yêu kính Chúa. Những bài kinh của nó đọc đã bớt dài, nỗi khủng khiếp về địa ngục trộn lẫn với những niềm cực lạc của Chúa. Nó nhịn đói nhiều lần trọn ngày và gương mặt nó gầy xọp đi như mặt người tu khổ hạnh. Nó mang cặp mắt của người mê đạo và nó tưởng như đã trông thấy Chúa trong những đêm ngủ yên. Và cũng chính vì thế mà nó lảng xa và không nhìn vào những mảng mông và những núm vú của những con bé đen đi đứng như nhảy múa, trước mắt mọi người, trong những đường phố nghèo khổ của thành phố. Nó vẫn nuôi hy vọng một ngày kia sẽ là một mục sư của Đức Chúa Trời của nó, được sống chỉ là để chiêm ngưỡng. Người, được chỉ riêng sống cho Người. Lòng nhân hậu của Chúa Trời ban cho nó niềm hy vọng đi đến thành quả. Sự sợ hãi đối với Đức Chúa Trời báo oán về những tội lỗi của Mạch-Nha lại làm cho nó thất vọng về điều đó.

Và chính là cái lòng kính yêu đó, và chính sự sợ hãi đó đã làm cho Mạch-Nha phải ngập ngừng trước cái tủ kính vào cái giờ này buổi trưa, tràn ngập vẻ đẹp. Mặt trời thì dịu và trong sáng, trăm hoa đua nở trong khu vườn, khắp các phía đều chìm đắm trong tĩnh mịch và yên tĩnh. Nhưng đẹp hơn hẳn tất cả đó là cái bức tượng kia về Đức Mẹ khai hoa với Chúa Giê-su hài đồng bày trên giá của cái nhà hàng chỉ có mỗi một cửa ra vào. Trong tủ kính, những tranh tượng các thánh những cuốn sách kinh đóng bìa sang trọng, những dây tràng hạt bằng vàng, những hòm sắc bằng bạc. Nhưng ở phía trong, tận cùng cái giá hàng đặt dài ra đến tận cửa, bức tượng Đức Mẹ Đồng trinh đương chìa Chúa Giê-su Hài Đồng về phía Mạch-Nha. Mạch-Nha nghĩ rằng Đức Mẹ muốn gửi gắm cho nó Đức Chúa Trời nhân hậu, vị Chúa Trời thơ ấu và trần như nhộng, đói khổ cũng như Mạch-Nha. Người thợ khắc tượng đã tạo ra đứa bé gầy gò và Đức Mẹ hết sức buồn rầu về tình trạng gầy gò của đứa con nhỏ của bà trong khi bà giơ nó ra cho những người béo mập và giàu có. Và chính thế mà bức tượng cứ đứng đó mãi, không bán được. Chúa Giê-su Hài Đồng trên các bức hình thì bao giờ cũng là một chú bé xinh đẹp béo tốt, với dáng bộ con nhà giàu, một Chúa Trời giàu có. Ở đây, lại là một Chúa Trời nghèo khó, một đứa bé nghèo khó, hoàn toàn giống như Mạch-Nha và lại còn giống những đứa nhỏ nhất trong bọn chúng hơn nữa, hoàn toàn giống cái đứa bé con nằm trong nôi, chỉ mới độ vài ba tháng, đã bị bỏ rơi, một ngày nào đó, trong đường phố, mẹ nó đã chết đột ngột vì một cơn bệnh ác tính trong khi bà đương bế nó trong tay và Giô-ao Gộc đưa về nhà kho, giữ nó ở đó cho đến cuối buổi chiều (bọn trẻ kéo tới ngó nhìn và cười giễu Giáo-sư và lão Gộc, đương hết sức lúng túng để tìm cách kiếm cho được sữa và nước cho đứa bé) cho tới khi bà đồng Đôn A-nin-ha đến và đem thằng bé về nhà với bà, bế nó nằm áp vào ngực. Chỉ độc nhất có sự khác biệt là đứa bé này là một bé đen, còn Chúa Giê-su Hài-đồng thì trắng. Cứ trong toàn bộ mà nhìn thì sự giống nhau là hoàn chỉnh. Mà lại có cả một bộ mặt như đẫm nước mắt, cái chú bé Giê-su Hài-đồng gầy gò và nghèo khó ấy, trong cánh tay Đức Mẹ Đồng trinh. Và Đức Mẹ đương trao chú bé cho Mạch-Nha, cho những vuốt ve của Mạch-Nha, cho tình thương yêu của Mạch-Nha. Kia kìa, bên ngoài, đẹp làm sao, mặt trời thì đôn hậu, trăm hoa đua nở. Chỉ riêng, trong cái ngày như thế, Chúa Giê-su Hài-đồng bị đói và rét. Mạch-Nha sẽ đem chú bé về nhà kho của các Hảo hán nơi Trảng cát. Nó sẽ cầu nguyện cho chú bé, nó sẽ chăm sóc chú bé, nó sẽ nuôi nấng chú bé trong tình thương yêu của nó. phải lồ lộ thấy ngay là khác với trong tất thảy mọi bức hình, ảnh, ở đây chú bé không hề bị giữ chặt trong đôi cánh tay của Đức Mẹ, là chú bé vẫn tự do không vướng víu gì trong đôi bàn tay của Người, và Người đương trao tặng chú bé cho tình thương mến của Mạch-Nha. Nó bước tới một bước. Ở bên trong, chỉ có một cô gái ngồi ngóng khách hàng bằng cách bôi thử lên đôi môi một thứ sáp đỏ mầu mới, thật chẳng có gì dễ dàng hơn là lấy Chúa Giê-su Hài Đồng mang đi. Mạch-Nha cất chân để bước thêm bước nữa, nhưng nỗi sợ hãi Chúa Trời đã chế ngự nó. Và nó đứng như phỗng, nghĩ ngợi. Trong nỗi lo sợ, nó đã từng dâng lời nguyện lên với Chúa Trời nhân hậu rằng nó chỉ sẽ lấy cắp để ăn hoặc khi do sự bắt buộc của những luật lệ trong băng, một vụ trấn lột mà nó được Pê-đrô Ba-la giao cho thực hiện. Bởi vì nó thừa nhận rằng phản bội lại luật lệ (chẳng bao giờ những luật lệ này được thảo ra, nhưng đều đã khắc sâu vào tâm khảm mỗi đứa trong bọn), phản bội lại luật lệ của các Hảo hán nơi Trảng cát cũng là một tội lớn. Và bây giờ nó lại sắp lấy cắp Chúa Giê-su Hài Đồng hoàn toàn chỉ là để có chú bé ấy với nó, nuôi nấng chú bé với lòng mến thương của nó. Vậy thì đúng là một tội lỗi, không phải là để cho no cũng chẳng phải để cho ấm. Đức Chúa Trời vốn chí công chi chính và sẽ trừng phạt nó. Người sẽ giao nó cho những ngọn lửa ở địa ngục. Thịt da nó cháy thiêu, đôi tay nó ôm Chúa Giê-su Hài Đồng đem về cũng cháy thiêu suốt cả một cuộc đời không bao giờ chấm dứt. Chúa Giê-su Hài Đồng là của người chủ cửa hiệu. Những người chủ cửa hiệu có biết bao nhiêu là Chúa Giê-su Hài Đồng và tất cả đều béo tốt hồng hào, nhiều như thế thì chỉ một chú bé cũng chẳng thể thiếu cho ông ta, mà lại là một chú bé gầy nhom, run rẩy! Những chú bé kia đều được quấn quanh bụng bằng những thứ vải đắt tiền, bao giờ cũng là vải xanh da trời, mà lại bằng nguyên liệu quý giá. Còn chú bé này thì toàn thân trần trụi, chú bị lạnh nơi bụng, chú gầy gò, ngay từ người thợ tạc tượng chú bé cũng chẳng được nhận lấy một chút âu yếm. Và Đức Mẹ đã trao tặng chú bé cho Mạch-Nha, chú bé lỏng lẻo giữa đôi cánh tay Người… Ông chủ cửa hiệu có cơ man là chú bé Giê-su, cơ man… liệu chú bé này đã là cái gì để cho ông chủ cửa hiệu phải thấy là mình thiếu? Rất có thể chính ông ấy cũng chẳng cần để ý đến nữa là khác, rất có thể chính ông ấy sẽ cười thầm khi biết được vụ lấy cắp tượng Chúa Giê-su Hài Đồng này mà chẳng bao giờ ông tìm ra cách bán cho được, cái chú bé lỏng lẻo trong hai cánh tay của Đức Mẹ, cái chú bé mà khi những khách mộ đạo đến mua hàng đứng trước chú thì lại kêu lên kinh hoảng:

- Không phải cái này, không… Sao mà xấu xí thế, lạy chúa tha thứ cho con… Và lại kì quặc hơn nữa, tách rời khỏi đôi cánh tay của Đức Bà thì sẽ rơi xuống đất và nhất định là như thế… Cái tượng này à, không đâu!

Và Chúa Giê-su Hài Đồng cứ ở yên đó mãi. Đức Mẹ hiến chú cho lòng yêu thương của khách lại, nhưng chẳng một ai đoái hoài. Những kẻ mộ đạo thì không muốn có mặt chú trong cái “điện thờ” riêng ở nhà vốn đã có nhiều Chúa Giê-su Hài Đồng khác mang dép bằng vàng, một cái mũ miện bằng vàng trên đầu, Mạch-Nha thì chỉ thấy chú bé Giê-su bị đói và khát, và rét nữa, và nó muốn đem chú đi với mình. Nhưng Mạch-Nha lại không có tiền và càng không có hơn nữa cái thói quen mua các thứ. Nó có thể mang chú bé đi, nó có thể cho Chúa Hài Đồng cái ăn, cái uống, cái mặc, tất cả những cái đó rút ra từ trong yêu thương của nó đối với Chúa Trời. Nhưng nếu nó làm điều đó, Chúa Trời sẽ trừng phạt nó, ngọn lửa địa ngục sẽ ngốn ngấu tất cả một cuộc đời mà cuộc đời ấy lại không bao giờ chấm dứt và đôi bàn tay của nó có thể sắp đem chú bé Giê-su đi, và cái đầu của nó đã nảy ra cái ý định đem chú bé Giê-su đi. Lúc đó, Mạch-Nha nhớ lại rằng chỉ mới riêng ý muốn cũng đã là một tội lỗi rồi và người ta cũng sa vào tội lỗi chỉ vì nghĩ đến phạm tội lỗi đó. Ông thầy dòng người Đức đã có nói rằng thường thường người ta vẫn đương phạm tội lỗi và chính người ta lại cũng không biết là như thế bởi vì người ta phạm tội lỗi qua suy tư. Mạch-Nha chính lúc này đương phạm vào một tội lỗi, nó cảm giác thấy nó phạm một tội lỗi, nó thấy sợ Chúa Trời và nó vội bỏ chạy thật nhanh để khỏi phải tiếp tục sa vào tội lỗi. Nhưng nó không chạy lâu, nó đứng lại ở góc phố, không thể nào đi ra quá xa bức tượng được. Nó nhìn ngó những tủ kính khác, theo cách ấy thì nó không phạm tội lỗi được. Nó thọc sâu hai bàn tay vào trong túi áo (nó giam giữ chúng…), xoay chuyển cái dòng những suy nghĩ của nó. Nhưng ngay lúc đó trước mặt nó đã có những người quay trở lại làm việc sau bữa ăn trưa và một ý nghĩ đã áp đảp nó: chỉ trong chốc lát, kẻ ăn người làm trong cửa hàng ấy sẽ quay trở lại và lúc đó thì không còn thể nào lấy chú bé Giê-su đem đi. Quả là không còn có thể được nữa…Và Mạch-Nha quay trở lại trước cửa hàng bán đồ thờ.

Ở đó đang có Chúa Giê-su Hài đồng và Đức Mẹ đang trao tặng cho Mạch-Nha. Một chiếc đồng hồ đâu đó vang lên cái giờ thứ nhất của buổi chiều. Những người làm công khác nhất định phải sắp sửa đến làm việc. Sẽ là bao nhiêu người. Cứ cho là sẽ chỉ thêm một người thôi, cái cửa hàng ấy cũng đã quá nhỏ đi và như thế thì sẽ không thể nào đem chú bé Giê-su đi được nữa. Hình như Đức Mẹ thì thào với nó rằng nếu nó không lập tức đem Chúa Giê-su Hài đồng đi ngay thì sẽ không thể nào đem đi được nữa. Có thể nói chắc chắn rằng hai năm rõ mười Đức Mẹ đã nói điều đó. Và chắc chắn chính là Người, đúng thế, chính cũng là người đã xui khiến cho cái cô gái bán hàng lẩn mất sau tấm màn vải che ở phía trong cùng cái cửa hàng lúc này bỏ trống. Đúng rồi, chính là Đức Mẹ bây giờ lại chìa Chúa Giê-su Hài đồng về phía Mạch-Nha và vươn hai cánh tay dài tới mức xa nhất, Người gọi nó với giọng dịu dàng:

- Hãy đem nó đi và chăm sóc nó cho tốt… Chăm sóc nó cho tốt

Mạch-Nha tiến tới. Nó nhìn thấy địa ngục, sự trừng phạt của Chúa Trời, hai bàn tay và cái đầu nó bốc cháy suốt cả cuộc đời không bao giờ chấm dứt. Nhưng nó rùng lắc mình dường như nó gạt ra xa cái hình ảnh đó, đón nhận chú bé mà Đức Mẹ Đồng trinh trao cho, ôm chú bé áp vào ngực và biến mất vào trong đường phố.

Nó không nhìn Chúa Giê-su Hài đồng. Nhưng nó mường tượng rằng lúc này, áp sát vào ngực nó, Chúa Giê-su Hài đồng mỉm cười, chú bé không còn đói, không còn khát, không còn rét nữa. Chú bé Giê-su mỉm cười cũng như đứa bé đen mới mấy tháng đã trông thấy Giô-ao Gộc giơ đôi tay hộ pháp ra cho nó uống sữa bằng thìa, trong khi Giáo-sư ẵm nó áp sát vào hơi nóng ở ngực.

ães da Areia (Captains of the Sand, 1937) ebook©MotSAch —★— TVE-4U©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hà Nội 1986
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.