Chúa Hài đồng Giê-su mỉm cười như thế đấy.
Chính lại là Sống-Nhàn đã nói cho Pê-đrô Ba-la biết trong cái ngôi nhà ở khu Gra-xa có vàng đến phát ngốt lên được. Chủ nhân ngôi nhà, theo như nó dò biết, hình như là một tay sưu tập đồ cổ, và Sống-Nhàn nắm được từ một tên vô lại nào đó cho rằng trong ngôi nhà ấy có một gian phòng xếp đầy những đồ bằng vàng và bằng bạc, những thứ đó mà đem đến hàng “tầm tầm” thì tha hồ giàu… vào buổi chiều đó, Pê-đrô Ba-la đến xem ngôi nhà, cùng đi với Sống-Nhàn. Đó là một dinh cơ kiểu mới và trang nhã, vườn ở phía trước, nhà chứa xe ở phía trong, nhà cửa rộng rãi của kẻ giàu sang. Sống-Nhàn khạc nước bọt qua kẽ răng, nhổ xuống lấy chân di thành hình một bông hoa trên vỉa hè rồi nó nói:
- Ấy vậy mà trong cái dinh cơ ấy, chỉ độc có hai cụ tổ thì phải…
- Một ngôi nhà tuyệt cú mèo… Pê-đrô Ba-la nhận xét.
Một cô hầu gái mở cửa lớn phía trước, đi ra vườn. Trong cái phòng rộng, đứng từ bên ngoài có thể nhìn vào, chúng nó thấy những bức tranh treo trên tường, những pho tượng nhỏ đặt trên bàn. Pê-đrô Ba-la cất tiếng cười:
- Nếu tay Giáo-sư trông thấy những của đó, hắn có thể phát rồ lên đấy… Chưa bao giờ tớ được thấy một cái kho bộn như thế này những sách vở và tranh vẽ.
- Nó sẽ vẽ một bức chân dung của t như thế này này và Sống-Nhàn dang rộng hai tay để biểu hiện cái lớn.
Pê-đrô Ba-la nhìn ngôi nhà một lần nữa, bước lại gần khu vườn thêm một chút và huýt sao. Cô gái hầu, đương hái hoa và đôi vú tinh khôi lấp ló bên trong cái áo hở cổ bởi vì cô ta đương cúi người xuống. Pê-đrô Ba-la ngắm nghía cặp vú, đó là những chiếc vú trắng ngần thon nhọn với đôi núm đỏ thắm. Sống-Nhàn đứng bên cạnh nó thở dài:
- Gớm cái chỏm núi, Ba-la…
- Khóa mõm lại…
Nhưng người hầu gái, từ trước, đã thấy chúng nó và nhìn chúng nó như muốn hỏi xem chúng muốn gì. Pê-đrô Ba-la nhấc mũ cát-két, hỏi:
- Không biết cô có thể cho chúng tôi được cốc nước không, cô vui lòng chứ? Nắng thiêu dữ quá… và nó mỉm cười, đưa mũ cát-két lên sau trán mồ hôi ròng ròng. Dưới ánh nắng, mặt nó đỏ bừng bừng, mái tóc vàng hoe và dài phủ trên đôi tai như những lượn sóng lộn xộn và cô gái chú ý nhìn nó với thiện cảm. Bên cạnh nó, Sống-Nhàn hút một mẩu thuốc lá thừa, ghếch chân lên hàng rào thấp của khu vườn. Người hầu gái trước hết nói với Sống-Nhàn vẻ khinh bỉ:
- Bỏ chiếc cẳng trên đó ra!
Rồi cô mỉm cười với Pê-đrô Ba-la.
- Tôi đem nước ra ngay…
Cô ta quay trở ra, cầm hai cốc nước và đúng là những chiếc cốc chúng nó chưa từng thấy, bởi quá thể là đẹp! Chúng nó uống nước. Pê-đrô Ba-la cảm ơn:
- Vô cùng cảm ơn… - và hạ giọng - … người đẹp.
Cô hầu gái trả lời, cô ta cũng hạ thấp giọng:
- Chú trống choai táo bạo…
- Vào khoảng mấy giờ thì cô ở đây ra về?
- Tôi thừa hiểu ý cậu rồi! Tôi đã có người của tôi. Anh ta đợi tôi vào chín giờ tối, ở góc phố này.
- Được rồi. Tối nay, tôi sẽ ở góc phía kia.
Chúng nó quay đi, qua đường phố, Sống-Nhàn vẫn phì phèo mẩu thuốc, tay cầm cái mũ quả dưa quạt vào mặt. Pê-đrô Ba-la bình luận:
- Tớ thật là dễ thương đấy chứ! Con bé mê tít đi rồi…
Sống-Nhàn lại nhổ toẹt một bãi qua kẽ răng:
- Vậy ư? Với cái món tóc giả của đàn bà, lổn nhổn đầy những búp xoăn.
Pê-đrô Ba-la dứ nắm đấm vào Sống-Nhàn:
- Dẹp cái ghen tị của mày đi, thằng lai đen làm phách!
Sống-Nhàn chuyển qua chuyện khác:
- Thế còn cái cửa hàng thiếc?
- Trước hết hãy là công việc của Cẳng-Nhũn … Ngày mai nó sẽ tìm một cách nào đó để vào được ngôi nhà và tạm trú vài ba hôm. Sau khi nó dò ra được một chỗ, cất đặt những miếng ngon nhất, bọn ta sẽ kéo đến độ dăm sáu đứa và dỡ món hàng đi luôn.
- Và mày sẽ bỏ mất miếng mồi săn?
- Cô hầu gái? Tớ sẽ đến với nó ngay hôm nay. Đồng hồ điểm chín giờ là tớ có mặt…
Nó quay mặt lại, nhìn ngôi nhà. Cô hầu gái đứng tựa cánh tay vào bức rào. Pê-đrô Ba-la làm hiệu chào cô ta. Cô ta đáp lại. Sống-Nhàn nhổ bọt:
- Ồ cái vận đó quái quỷ thật, tớ chưa hề thấy bao giờ!
Ngày hôm sau, vào khoảng mười một giờ rưỡi sáng Cẳng-Nhũn xuất hiện trước ngôi nhà. Khi nó bấm chuông, người hầu gái, chắc chắn là đương nghĩ tiếc, buổi đêm qua cô ả đã hú hí với Pê-đrô Ba-la trong phòng riêng ở Gác-xi-a, bởi vì cô ta không nghe thấy tiếng chuông. Thằng bé lại bấm tiếp ngay và ở cửa sổ một gian phòng trên tầng gác thứ nhất ló ra cái đầu tóc hoa râm của một bà, bà ta nhìn Cẳng-Nhũn mắt nheo lại:
- Có chuyện gì thế, con?
- Thưa bà, con là một đứa trẻ mồ côi nghèo khổ.
Bà ấy ra hiệu bảo nó hãy chờ đó và chỉ mấy phút sau bà đã có mặt ở cổng, không để ý nghe người hầu gái xin lỗi đã không đáp lại tiếng gọi.
- Con có điều gì muốn nói thì cứ nó" face="Times New Roman">Bà chú ý nhìn áo quần rách rưới của Cẳng-Nhũn:
- Thưa bà, con không còn bố nữa và chỉ mới đây mấy ngày bà mẹ của con lại được gọi lên thiên đường.
Nó giơ cho thấy cái vòng băng đen ở cánh tay áo, vòng băng ấy làm bằng cái dây ruy-băng ở chiếc mũ mới tinh của Gã Mèo - thằng này đã nổi khùng lên vì chuyện đó.
- Con chẳng còn ai thân thích trên đời này, con bị tàn tật, con không làm việc được nhiều, đã hai ngày rồi con chưa có chút gì vào bụng và cũng không biết ngủ vào đâu.
Có thể thấy là nó muốn khóc. Người đàn bà nhìn nó vô cùng ái ngại.
- Con bị tật nguyền, phải không con?
Cẳng-Nhũn chìa cái chân dệt, bước đi trước mặt bà ấy và cố làm cho tăng cái tật lên. Bà tao nhìn chằm chằm vào nó, vẻ thương cảm.
- Mẹ con chết vì sao?
- Nói cho thật, con cũng không được rõ. Bà mẹ khốn khổ của con đã mắc phải một chứng bệnh kỳ quặc, một chứng sốt ác nghiệt và sau năm ngày ốm thì bà chết. Và bà để con lại một mình, tứ cố vô thân… Nếu mà ít ra con có thể lao động được… Con có thể thu xếp ổn định dần, nhưng với cái tật liệt chân này, chỉ còn có thể làm việc vặt trong nhà một gia đình nào thôi… Thưa bà, bà có cần thuê một thằng bé để sai đi mua vặt, giúp đỡ công việc trong nhà không? Nếu bà cũng cần thì thưa bà …
Và bởi vì Cẳng-Nhũn còn đồ rằng bà ta đương lưỡng lự, nó nói thêm ngán ngẩm với giọng đầy nước mắt:
- Nếu con muốn, con đã đi cùng với đám những thằng lỏi ăn cắp, với bọn Hảo hán nơi Trảng cát. Nhưng con thì con không thể ăn được cái thứ bánh loại ấy. Con muốn làm việc, chỉ có một điều là con không thể kham nổi một lao động nặng. Con là một đứa trẻ mồ côi khốn khổ, con đói…
Nhưng thực ra thì bà ấy hoàn toàn không chút phân vân. Lúc đó, bà đương nhớ lại đứa con trai của bà đã chết cũng vào cỡ tuổi thằng bé này và chính cái chết ấy đã hủy hoại tất cả niềm vui trong cuộc sống của bà và cả niềm vui đó của chồng bà. Ông này, ít ra, cũng còn có những bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật, nhưng bà thì hầu như chỉ có là cái phần kí ức về đứa con trai ấy từ giã bà quá sớm. Bởi thế, bà nhìn Cẳng-Nhũn rách rưới với niềm âu yếm sâu nặng, bà nói với nó bằng một giọng êm ái với giọng bình thường êm ái của bà. Có một chút vui trong cái êm ái ở giọng nói của bà và điều đó làm cho người hầu gái sửng sốt:
- Vào đây, con. Đừng sợ. Ta sẽ có việc làm cho con.
Bà đặt bàn tay thon thả và quý phái lấp lánh một viên kim cương trên ngón tay, lên cái đầu bẩn thỉu của Cẳng-Nhũn và bào người hầu gái:
- Này Ma-ri-a Giô-dê, soạn cái buồng ở bên trên nhà chứa xe cho thằng bé này. Dẫn nó vào phòng tắm, lấy cho nó một chiếc áo choàng của Ra-un. Sau đó, dọn cho nó ăn.
- Trước khi dọn bữa ăn trưa cho cả nhà, thưa bà Đô-na E-xte?
- Trước, đúng thế! Đã hai ngày nay nó chưa ăn uống gì, thằng bé đáng thương!
Cẳng-Nhũn không nói một tiếng, chỉ làm bộ đưa sống bàn tay lên lau những giọt nước mắt giả vờ.
- Đừng khóc, con!... - Bà ấy nói, và vuốt ve lên mặt thằng bé.
- Bà hảo tâm quá! Cầu Chúa ban phước lành cho bà.
Sau đó, bà ấy hỏi tên nó và Cẳng-Nhũn thốt ngay ra cái tên đầu tiên thoáng đến trong đầu:
- Âu-guy-xtơ…
Và bởi vì nó lo nhắc lại cái tên ấy cho chính mình để khỏi quên rằng nó tên là Âu-guy-xtơ, thoạt đầu nó chưa thấy được bà ấy xúc động lẩm bẩm:
- Âu-guy-xtơ, cũng cái tên ấy …
Bà nói thêm, giọng to lên, bởi vì lúc này thì Cẳng-Nhũn ngắm nghía vẻ mặt bàng hoàng của bà:
- Con trai ta cũng tên là Âu-guy-xtơ… Nó mất đi hồi cũng bằng tuổi con. - Nhưng mà vào đây đi con, đi tắm rửa rồi ăn.
Bà Đô-na E-xte đi theo nó, xúc động. Bà nhìn người hầu gái chỉ cho Cẳng-Nhũn biết phòng tắm, đưa cho nó áo choàng và đi về phía cái buồng ở bên trên nhà chứa xe để xếp dọn (người lái xe đã xin nghỉ việc, gian buồng bây giờ bỏ không). Bà Đô-na E-xte bước lại gần, nói với Cẳng-Nhũn, lúc đó đứng dừng lại trên ngưỡng cửa phòng tắm:
- Con có thể vứt bỏ những quần áo ấy đi. Chị Ma-ri-a Giô-dê sẽ đem tới cho con những th khác…
Cẳng-Nhũn bây giờ nhìn theo bà chủ nhà đương đi xa dần và nó nổi cơn giận dữ, nhưng nó không hiểu được là đối với bà ấy hay là với chính nó.
Bà Đô-na E-xte ngồi trước bàn trang điểm, bà ngồi im lặng cặp mắt đăm đăm và nếu ai nhìn thấy bà lúc đó thì rất có thể ngỡ rằng bà nhìn bầu trời qua ô cửa sổ. Tuy nhiên, nói cho đúng, bà chẳng nhìn gì hết, bà chẳng thấy gì hết. Bà nhìn đấy, đúng vậy, nhưng mà là nhìn vào chính mình, nhìn về kỷ niệm những năm tháng xa xưa và bà nhìn thấy một thằng bé cùng lứa tuổi Cẳng-Nhũn. Thằng bé đó mặc bộ đồ lính thủy, đương chạy qua khu vườn của ngôi nhà mà hai ông bà đã bỏ ra đi sau khi thằng bé qua đời. Đó là một đứa trẻ dạt dào sức sống và niềm vui, nó chỉ thích cười và nhảy nhót. Khi đã mệt vì chạy đua với con mèo, vì trèo lên cái bàn đu trong vườn, vì ném quả bóng cao-su trong sân cho con chó ngao phải đuổi theo mà ngậm lấy, nó bước lại và đưa hai cánh tay choàng qua cổ Đô-na E-xte, ôm hôn bà và ở lại đó với bà, xem những quyển sách, học đọc và học viết những chữ cái. Để giữ thằng bé ở gần mình, sao cho lâu hơn hết. Đô-na E-xte và chồng bà quyết định dạy cho con trai họ những chữ cái đầu tiên ở ngay tại nhà. Một ngày kia (và cặp mắt Đô-na E-xte tràn đầy nước mắt) thằng bé bị một cơn sốt. Sau đó, chiếc quan tài nhỏ dẫn qua cửa lớn và bà nhìn nó, đôi mắt kinh hoàng, bà không thể nào nhận được là đứa con trai của bà đã chết. Bức chân dung của nó - lồng trong khung lớn - vẫn ở trong phòng nhưng luôn luôn có một bức màn che phủ, bời vì bà không dám thấy lại hình ảnh đứa con trai để khỏi phải khơi dậy sự khủng khiếp của bà. Cũng vậy, những quần áo nó thường mặc đều cất kỹ trong một chiếc va-li nhỏ và không bao giờ một ai đụng đến.
Nhưng, bây giờ Đô-na E-xte lấy chùm chìa khóa từ trong cái hộp đựng đồ nữ trang ra. Và chầm chậm, rất chầm chậm, bà đi tới chỗ đặt chiếc va-li. Bà kéo một chiếc ghế dựa lại gần và ngồi vào. Hai bàn tay run run bà mở va-li. Bà ngắm kỹ những quần áo ngắn và những áo choàng, bộ quần áo lính thủy, những bộ quần áo gả và những chiếc áo lót mặc đêm khi thằng bé ngủ. Bà ôm ghì bộ quần áo lính thủy vào ngực như là bà ôm ghì con trai bà. Nước mắt bà ứa ra.
Bây giờ có một thằng bé nghèo và mồ côi đến gõ cửa nhà bà. Sau cái chết của con trai, bà không còn muốn có đứa con khác và bà cũng không muốn ngay cả nhìn con cái những người khác, cũng chẳng muốn chơi đùa với chúng nó, để khỏi phải khơi dậy nỗi đau cứ ám ảnh mãi ký ức bà. Nhưng này đây lại có một đứa tuổi chúng nó, nghèo và mồ côi, tàn tật và buồn rầu, và lại nói là tên gọi Âu-guy-xtơ như con trai bà, đã đến gõ cửa nhà bà để xin miếng bánh, một chỗ trú ẩn và một chút âu yếm. Chính vì thế mà bà đã có đủ can đảm để mở cái va-ly ấy ra, trong đó bà cất giữ những quần áo con trai bà đã m. Chính vì thế mà bà lấy ở đó ra cái bộ quần áo lính thủy ấy - bộ quần áo thằng bé yêu thích nhất - bởi vì đối với Đô-na E-xte, đây là đứa con tra bà hôm nay trở về một bộ mặt của cái thằng bé tàn tật và rách rưới không bố không mẹ này. Con trai bà đã trở về, và những giọt nước mắt của bà không chỉ là những giọt nước mắt đau đớn. Nó đã trở về đó, đứa con trai của bà, xanh gầy và đói khát, với một cái chân tàn tật và những mụn giẻ rách che thân. Nhưng rồi chẳng bao lâu nữa, nó lại sẽ trở thành thằng bé Âu-guy-xtơ sung sướng và nhí nhảnh của những năm tháng đã qua, và rồi nó lại chạy đến quàng cánh tay quanh cổ bà và nó đọc những chữ cái to tướng trong cuốn sách học vần.
Bà Đô-na E-xte đứng lên. Bà đem theo bộ quần áo xanh kiểu lính thủy. Và chính là xúng xính trong bộ quần áo này mà Cẳng-Nhũn hưởng bữa ăn tuyệt nhất trong đời nó.
Nếu bộ quần áo lính thủy ấy là định may cho nó, thật không gì có thể khéo hơn. Quần áo vừa xoẳn với Cẳng-Nhũn và khi đứng soi trước tấm gương lớn, nó không thể ngờ được là nó. Nó đã tắm rửa sạch sẽ, người hầu gái đã bôi sáp lên tóc và nước thơm lên mặt nó. Cái bộ quần áo lính thủy ấy quả lả một sự kỳ diệu, Cẳng- Nhũn ngắm nghía mình trong gương. Nó đưa bàn tay sờ lên đầu, rồi lên ngực, vuốt quần áo, và nó mỉm cười mà nghĩ đến Gã Mèo. Nó có thể chịu trả giá đắt để làm sao cho Gã Mèo thấy được nó lịch sự như thế này. Nó cũng có đôi giày mới, nhưng nói cho thật, nó chẳng thú vị mấy với đôi giày, bởi vì lại có cái nơ bằng dải lụa, đôi giày có vẻ ít nhiều giống như giày đàn bà. Cẳng-Nhũn thấy khó coi vì mặc quần áo lính thủy lại mang giầy đàn bà. Nó đi ra phía khu vườn bởi vì nó muốn hút thuốc, chưa bao giờ nó bỏ không đốt một điếu thuốc sau bữa ăn trưa. Đôi lúc nó không có bữa ăn trưa, nhưng bao giờ cũng có một mẩu thuốc thừa nào đó. Ở đây, cần phải cẩn thận, nó không thể hút thuốc đường hoàng. Ử, nếu người ta cho nó xuống dưới bếp ở chung với kẻ hầu người hạ trong nhà, cũng như ở những nhà khác trước kia nó đã tìm cách lọt vào để rồi sau đó mà ăn trộm, nó đã có thể hút thuốc, nói năng bằng cái ngôn ngữ xô bồ của những Hảo hán nơi Trảng cát. Nhưng lần này, người ta đã tắm rửa cho nó, mặc quần áo mới cho nó, chải sáp lên tóc và rắc phấn thơm lên mặt nó. Và trong suốt bữa ăn, bà chủ nhà đã chuyện trò với nó như với một đứa trẻ con nhà tử tế. Bây giờ, bà đã bảo nó ra vườn mà chơi, ở đó con mèo vàng “Béc-nô-cơ” đang nằm sưởi nắng. Cẳng-Nhũn bước lại bên một chiếc ghế dài, rút trong túi áo ra một gói thuốc điếu rẻ tiền. Trong khi thay quần áo nó không bỏ quên gói thuốc là. Nó châm một điếu và bắt đầu thưởng thức những hơi thuốc trong khi vẫn suy nghĩ về cuộc sống mới của nó. Nó đã nhiều lần làm cái kiểu này: tìm cách lọt vào trong nhà của một gia đình tử tế, giả vờ là trẻ nghèo khó, mồ côi, tàn tật và với “danh nghĩa” đó, ở lại trong nhà một thời gian cần thiết để làm một cuộc “thám hiểm” toàn b ngôi nhà, những chỗ người ta cất giữ đồ đạc quý giá, những ngõ ngách thuận tiện để chuồn ra an toàn. Sau đó, các Hảo hán nơi Trảng cát lẻn đến ngôi nhà trong một đêm nào đó, lấy đi những đồ vật quý giá và tại nhà kho, Cẳng-Nhũn hí hửng, tràn ngập một niềm vui không bờ bến, niềm vui đã trả thù được cho chính mình - bởi vì trong tất cả những nhà đó nếu người ta nhận cho nó ở, nếu người ta cho nó miếng bánh và chỗ trú, đó cũng chỉ là làm cho xong một nhiệm vụ chán ngấy. Những người chủ nhà cố tránh không lại gần nó và cứ bỏ mặc nó với mọi thứ bẩn thỉu của nó. Chẳng bao giờ họ dành cho nó một lời tốt đẹp. Họ luôn luôn nhìn nó với cái nhìn như muốn hỏi xem nó đã sắp đi ra khỏi nhà chưa. Và cũng nhiều lần, chính cái bà đã xúc động khi nghe nó kể chuyện ở cổng, với giọng não lòng mà sau đó nhận cho nó vào ở trong nhà, cũng đã tỏ ra những biểu hiện thật sự hối tiếc đã trót lỡ. Theo Cẳng-Nhũn, các bà ấy nhận nó ở trong nhà chẳng qua là do hối hận, bởi vì Cẳng-Nhũn cho họ là nguyên nhân của hoàn cảnh tất cả những trẻ con nghèo khó. Và nó oán hờn tất cả bọn họ, một sự oán hờn sâu sắc. Cái điều sung sướng lớn và gần như là duy nhất, đó là ước lượng xem cái gia đình ấy đã phải uất đến thế nào sau vụ trộm khi họ hiểu ra rằng cái thằng lỏi con đói khát đã được cưu mang lại đúng là cái đứa đã tìm cách thăm thú ngôi nhà và chỉ vẽ cho những đứa trẻ đói khát biết chỗ đặt những đồ vật quý giá.
Nhưng lần này lại khác hẳn, lần này người ta không để nó ở dưới nhà bếp với quần áo rách rưới của nó, người ta đã cho nó áo quần, một buồng riêng, một bữa ăn ngay tại phòng ăn. Nó được đón tiếp như một người khách, như một người khách thân yêu. Và trong khi hút vụng điếu thuốc, Cẳng-Nhũn tự hỏi trong thâm tâm bởi sao nó lại phải trốn lẩn để hút thuốc. Cẳng-Nhũn nghĩ ngợi mà chẳng hiểu gì hết. Nó chẳng hiểu chút gì về sự việc đã diễn ra. Nét mặt nó đượm lo buồn. Nó hồi tưởng lại những ngày ở trong nhà tù, trận đòn mà chúng nện nó, những giấc chiêm bao không lúc nào chịu buông tha không ám ảnh nó. Và đột nhiên, nó thấy sợ, nó thấy sợ trong cái nhà này người ta lại cư xử tốt với nó, đúng vậy, một nỗi sợ lớn lao rằng người ta lại tốt với nó. Nó cũng chẳng biết được vì sao mà nó thấy sợ nữa. Và nó đứng lên, ra khỏi chỗ ẩn và đi thẳng tới đứng dưới cửa sổ phòng bà chủ nhà mà hút thuốc. Như vậy, những người ở đây sẽ thấy nó là đồ bỏ đi, không xứng đáng được một buồng riêng, những quần áo mới, những bữa ăn trong phòng ăn. Như vậy, người ta sẽ đuổi nó xuống bếp, nó có thể tiến hành đến kết quả tốt cái công việc rửa hờn của nó, giữ vững được nỗi oán thù trong tim nó, bởi vì nếu oán thù ấy mất đi nó sẽ chết, nó sẽ chẳng còn chút lý do nào để sống. Và trước mắt nó diễn ra cái hình ảnh con người mặc áo gi-lê nhìn bọn lính đánh đập nó và phát ra một tiếng cười tàn bạo. Và chính là hình ảnh đó luôn luôn cản trở Cẳng-Nhũn được nhìn thấy khuôn mặt vô cùng nhân hậu của Đô-na E-xte, cử chỉ che chở của đôi bàn tay l sức gắn bó vững chắc giữa những lực lượng đình công của người công nhân bốc dỡ Giăng A-đam. Nó sẽ cô đơn một mình và sự oán thù của nó bao phủ lấy tất cả bọn họ, trắng và đen, đàn ông và đàn bà, giàu và nghèo. Chính vì thế mà nó lo sợ người ta đối xử tốt với nó.
Buổi chiều, ông chủ Ra-un ở nơi làm việc trở về nhà. Đó là một trạng sư rất nổi tiếng. Ông đã giàu có nhờ nghề nghiệp đó, và đảm nhận một vị trí trên bục giảng ở trường Đại học Pháp lý, nhưng trên tất cả, ông là một nhà sưu tập đồ cổ. Ông có một phòng trưng bày tuyệt vời những bức tranh, những loại tiền cổ, những tác phẩm mỹ nghệ quý giá. Cẳng-Nhũn cũng thấy ông ta bước vào nhà. Đúng lúc đó, Cẳng-Nhũn đương xem tranh ảnh một cuốn sách cho trẻ con và cười một mình về anh voi ngốc nghếch bị chú khỉ con đánh lừa. Ông Ra-un không trông thấy nó, ông đi lên cầu thang, nhưng ngay sau đó, người hầu gái đến gọi Cẳng-Nhũn và dẫn nó vào trong phòng Đô-na E-xte. Ông Ra-un ngồi đó, mặc áo sơ mi trần, hút thuốc và ngắm thằng bé với một nụ cười mỉm vui thích, bởi vì Cẳng-Nhũn đến cửa phòng với một vẻ mặt hết sức lúng túng.
- Vào đây…
Cẳng-Nhũn đi đủng đỉnh, không biết bỏ hai bàn tay vào đâu. Đô-na E-xte thân mến bảo nó:
- Ngồi xuống đây, con trai của mẹ, đừng sợ…
Cẳng-Nhũn ngồi lên gờ một chiếc ghế dựa và chờ. Ông trạng sư ngắm nhìn nó nghiên cứu vẻ mặt nó với vẻ thiện cảm và Cẳng-Nhũn chuẩn bị những câu trả lời cho những câu hỏi không thể tránh được. Thế là nó kể lại một lần nữa câu chuyện đã bịa ra lúc sáng, nhưng đến khi nó bắt đầu khóc tấm tức, ông ta bảo nó hãy dừng lại và ông đứng lên, đi ra phía cửa sổ, Cẳng-Nhũn hiểu là ông ta xúc động và thành quả của nghệ thuật đó khiến nó kiêu hãnh. Nó cười thầm trong bụng. Nhưng ông trạng sư bấy giờ lại bên bà Đô-na E-xte và hôn lên trán bà, rồi lên môi. Cẳng-Nhũn cụp mắt. Ông Ra-un bước lại bên nó, đặt bàn tay lên vai nó bảo:
- Đừng khóc nữa. Từ nay con không còn bao giờ bị đói. Con hãy đi ra… Đi ra mà chơi, đi ra mà xem sách. Tối hôm nay, chúng ta sẽ đi xem chiếu phim. Con có thích không?
- Thưa ông, có…
Ông trạng sư khoát tay bảo nó đi ra. Cẳng-Nhũn đi ra, nhưng không phải là không thấy ông Ra-un đến bên Đô-na E-xte và bảo vợ:
- Em là một thánh nữ. Chúng ta sẽ làm cho nó thành một con người.
Sau đó họ đưa nó đi uống nước quả tại một quán giải khát trước mặt rạp chiếu phim. Trong khi uống cốc nước mát, Cẳng-Nhũn nghĩ rằng chút nữa thì nó đã phạm vào một dại dột không thể nào vớt vát được khi ông trạng sư hỏi nó muốn uống thứ gì nó suýt nói là một chai bia ướp lạnh, thật lạnh. Nhưng nó đã kịp mím môi lại và chỉ xin một cốc nước quả có đá.
Trong xe hơi, ông trạng sư ngồi phía trước để lái xe và Cẳng-Nhũn trèo lên phía sau, cùng Đô-na E-xte và trò chuyện với bà. Câu chuyện đến là gay go cho Cẳng-Nhũn và nó phải luôn luôn kiểm tra cái từ vựng của nó vốn vào hạng xô bồ đệ nhất và nhồi đầy những tiếng thô tục. Đô-na E-xte hỏi về mẹ nó, Cẳng-Nhũn trả lời bà được chừng nào hay chừng ấy, phải vô cùng cố gắng mà nhớ lấy những chi tiết bịa ra để về sau khỏi lộ tẩy. Cuối cùng, họ về đến ngôi nhà ở Gra-xa và Đô-na E-xte dẫn Cẳng-Nhũn lên buồng bên trên nhà chứa xe:
- Con không sợ ngủ đây một mình chứ?
- Thưa bà, không.
- Cũng chỉ vài hôm thôi. Rồi sau, ta sẽ đưa con lên trên kia, trong gian phòng trước kia của Âu-guy-xtơ.
- Thưa bà Đô-na E-xte, chẳng phải phiền như thế đâu ạ! Ở đây cũng tốt lắm rồi!
Bà cúi xuống và hôn nó.
- Chúc con ngủ ngon, con của mẹ.
Bà đi ra, đóng cửa lại, Cẳng-Nhũn ở lại, im lặng không một cử chỉ, cũng không cả đáp lại lời chúc ngủ ngon, bàn tay đặt trên mặt ở chỗ Đô-na E-xte đã hôn nó. Nó chẳng nghĩ đến gì hết thảy, nói chẳng thấy gì hết thảy. Chỉ có làn vuốt ve ngọt ngào của cái hôn đó, một làn vuốt ve vào loại chưa bao giờ nó được hưởng, mọt lànmẹ. Chỉ có làn vuốt ve ngọt ngào trên mặt nó, đúng là dường như quả đất đã dừng quay trong phút giây và như tất thảy đã thay đổi. Trong khắp vũ trụ chỉ có cái cảm xúc vô cùng êm ái của cái hôn mẫu tử trên khuôn mặt Cẳng-Nhũn.
Sau đó, thì là nỗi khủng khiếp của những giấc chiêm bao về nhà tù, về con người mặc áo gi-lê đương cười tàn bạo về những người lính đã đánh đập Cẳng-Nhũn, thằng bé phải chạy trên cái chân tàn tật quanh gian phòng. Nhưng, bỗng nhiên xuất hiện Đô-na E-xte, và con người mặc áo gi-lê cùng bọn lính đều chết vì những đòn hành hạ ghê gớm, bởi vì bây giờ thì Cẳng-Nhũn đã mặc bộ quần áo lính thủy và nó có một cái roi da trong tay như là người thanh niên trong phim.
Tám ngày đã qua, Pê-đrô Ba-la đã nhiều phen đến tận trước ngôi nhà để đón nhận những thông tin của Cẳng-Nhũn sao mà chậm trở về nhà kho. Đã quá lâu đã qua đi một thời gian dài quá sự cần thiết để cho Cẳng-Nhũn biết được cái nơi cất đặt tất cả những đồ vật dễ lấy đem đi và những nẻo thoát ra ngoài thuận lời để chuồn dễ dàng. Nhưng đáng lẽ trông thấy Cẳng-Nhũn, Pê-đrô Ba-la lại gặp người hầu gái và cô ả ngỡ nó đến với mình. Một lần, trong khi trò chuyện với cô ả, Pê-đrô Ba-la hết sức khôn khéo chuyển câu chuyện qua Cẳng-Nhũn:
- Bà chủ nhà này, bà ấy có một đứa con trai phải không?
- Một thằng bé bà nhận làm con nuôi, rất ngoan.
Pê-đrô mỉm cười, nó thừa biết rằng Cẳng-Nhũn, khi hắn muốn, hắn có thể làm cho người ta thấy ở hắn thằng bé ngoan ngoãn nhất trần đời. Người hầu gái nói tiếp:
- Nó non tuổi hơn mày, một chút thôi, nhưng đúng là một thằng bé con. Không phải một đứa sa đọa như mày, mới tí tuổi đầu đã ngủ với đàn bà… Và cô ả cười với Pê-đrô Ba-la.
- Chính cô đã làm cho tôi mất trinh…
- Đừng có nói những điều bần tiện. Hơn nữa, chỉ là nói dối!
- Tôi xin thề là đúng như thế.
Cô ả cũng mong rằng điều đó là đúng, và mặc dầu không mảy may tin là đúng như thế, cô ả vẫn sướng bụng được nghe nó nói với mình như thế, cô ả tự cảm thấy mình không chỉ là nhân ngãi của thằng bé, mà cũng có một tí chút mẹ nó>Lần tiếp sau, Pê-đrô Ba-la tìm được cách nhìn thấy Cẳng-Nhũn. Thằng này đương nằm dài trong khu vườn (con mèo “rò rò” ở bên cạnh) chăm chú xem một quyển sách tranh và Pê-đrô Ba-la đứng sững, không thể nào sửng sốt hơn, khi nó nhìn thấy thằng kia mặc một cái quần Ca-si-mia[1] xám và một cái áo bờ-lu lụa. Cho đến mái tóc nó đã được cải bóng! Và Pê-đrô Ba-la đứng đó một khoảnh khắc, miệng há hốc, không sao huýt sáo gọi Cẳng-Nhũn được. Cuối cùng, nó tỉnh táo lại và huýt sáo, Cẳng-Nhũn đứng thẳng dậy ngay tức khắc, nhận ra Ba-la ở bên kia đường phố. Nó ra hiệu báo hãy chờ nó, luồn ra cổng lớn sau khi biết chắc chắn chẳng một ai trong nhà lảng vảng trong khu vực này.
Pê-đrô Ba-la bước về phía góc phố và Cẳng-Nhũn đi theo sau. Khi thằng này theo kịp, Prê-đrô Ba-la lại càng kinh ngạc:
- Thổ tả! Mày đã đi đến mức ngửi thấy thơm thơm đấy, Cẳng-Nhũn! - Cẳng-Nhũn lộ vẻ khó chịu trên mặt, nhưng Ba-la nói tiếp:
- Mày lịch sự gấp mười Gã Mèo đấy!u mày cứ mã này mà lởn vởn về trại - chính chúng nó gọi cái nhà kho là như vậy - bọn kia sẽ vồ lấy mày cho mà xem… Mày mà ra dáng một con búp bê chính hiệu…
- Đừng có “cạo” tớ… tớ đương khảo sát mọi thứ… việc ấy cũng không lâu nữa đâu, tớ sẽ tếch và mày có thể đập cùng với những đứa khác.
- Lần này, mày không được nhanh nhẩu…
- Ấy là vì cái vỏ bọc kho chứa bị khóa chặt… Cẳng-Nhũn nói dối vậy.
- Việc của mày là liệu mà xoay sở.
Tiếp đó, nó kể thêm:
- Thằng Ngoại Kiều đã b một trận thập tử nhất sinh. Nó suýt về chầu tổ. Gần như tuyệt vọng. Và, nếu không được Đôn A-nin-ha cho uống một cái thứ gì đó đã làm cho nó khỏe lên, có thể mày cũng chẳng còn thấy lại nó. Nó gầy hơn cả một que củi.
Và sau cái tin ấy, nó chia tay, vừa căn dặn thêm một lần nữa Cẳng-Nhũn phải nhanh hơn.
Cẳng-Nhũn quay trở về nhà, nằm dài trong vườn. Nhưng lúc này, nó không còn thấy gì ở những tranh ảnh trong quyển sách. Nó chỉ thấy có thằng Ngoại Kiều. Thằng Ngoại Kiều này đã là một trong những đứa bị Cẳng-Nhũn hành ti nhiều nhất trong cả bọn. Con trai một gia đình A-rập, nó có một giọng nói là lạ và điều đó gây nên một trận mưa những lời giễu cợt của Cẳng-Nhũn. Thằng Ngoại Kiều chẳng lấy gì làm khỏe và chẳng bao giờ nó tìm được cách để được dè nể trongHảo hán nơi Trảng cát, mặc dầu Pê-đrô Ba-la và Giáo-sư đã nhiều lần tìm cách tạo điều kiện cho nó đạt cái đích ấy. Nó làm vui lòng chúng nó vì chúng nó thích có ở trong bọn một dân ngoại hoặc cũng coi như người ngoài. Nhưng thằng Ngoại Kiều thì lại chỉ đành bằng lòng với những trò trộm cắp vt, tránh những vụ cướp bóc nguy hiểm và lúc nào cũng mơ tưởng đến một cái hòm đựng đầy hàng vặt rẻ tiền để nó đem đi rong khắp đường phố bán cho kẻ hầu người hạ những nhà giàu.
Cẳng-Nhũn hành hạ thằng bé không chút thương xót, chế giễu về con người, về cái ngôn ngữ tối mò, về tính nhút nhát của thằng bé. Nhưng lúc này, nằm duỗi dài trên cỏ non êm trong khu vườn tráng lệ, mặc một bộ quần áo tốt đẹp, tóc chải mượt và nức phấn thơm, một quyển sách tranh ảnh đặt cạnh, Cẳng-Nhũn nghĩ tới thằng Ngoạều gần đất xa trời, trong khi mình thì được ăn ngon và mặc tốt. Mà không chỉ có thằng Ngoại Kiều đã lướt bên cái chết mà suốt tám ngày nay các Hảo hán nơi Trảng cát vẫn tiếp tục mặc rách, ăn đói, ngủ dưới mưa trong nhà kho hoặc dưới gầm cầu. Mà trong thời gian đó, Cẳng-Nhũn nằm ngủột chiếc giường êm ấm ăn uống bao thức ngon lành, và lại còn có cả đến một bà để âu yếm nó và gọi nó là “con tôi”. Nó tự cảm thấy là kẻ phản bội đối với cái băng của nó. Nó thấy cũng giống như cái thằng cha bốc dỡ mà Giăng A-đam khi nói đến thì khạc nhổ xuống đất và di chân lên, tỏ dấu hiệu khinh bỉ. Cái thằng cha bốc dỡ ấy, trong thời gian cuộc đình công lớn, đã chạy sang phía bên kia, sang phía bọn giàu sang, đã tìm cách bẻ gãy cuộc đình công, đã đi tìm thuê những người bên ngoài đến làm việc trên bể bốc dỡ. Chẳng còn bao giờ có một người nào trên bến cảng bắt tay hắn,ẳng còn bao giờ có một người nào trong bọn họ đối xử với hắn như là bạn. Và nếu Cẳng-Nhũn mở ra một ngoại lệ trong nỗi oán cừu, mà nó đã dành hẳn cho cả loài người, thì đó chỉ là để riêng cho những đứa trẻ kia đã hình thành nên những Hảo hán nơi Trảng cáthững đứa trẻ ấy là đồng bọn của nó, chúng là ruột thịt của nó, chúng đều là nạn nhân của tất cả những con người khác, Cẳng-Nhũn nhận xét như thế. Và lúc này đây, nó cảm thấy nó đương đi tới chỗ bỏ chúng nó, nó đương di chuyển qua phía bên kia. Nghĩ đến đó, nó giật bắn mìnhồi nhỏm dậy. Không, nó sẽ không phản bội chúng. Trước tất cả, có luật lệ của bang, luật lệ của Hảo hán nơi Trảng cát. Những kẻ phản bội luật lệ đó đều bị đuổi ra khỏi băng và chẳng còn có gì tốt đẹp chờ đón chúng nó trên th gian này. Và chưa hề có một đứa nào lại phản bội luật lệ ấy như cái kiểu thằng Cẳng-Nhũn sắp có thể phản bội. Để mà hóa thành một đứa trẻ nuông chiều, để mà trở nên một trong những đứa trẻ luôn luôn đối với chúng nó là một mục tiêu muôn đời cho những nhạo báng. Không, không, nó không bao giờ phản bội chúng. Ba ngày là đã quá đủ cho nó biết rõ vị trí những vật quý giá trong nhà, nhưng thức ăn, cái giá treo áo và gian phòng, và còn hơn cả thức ăn, cái giá treo áo và gian phòng, tình âu yếm của Đôn-na E-xte đã làm cho nó bỏ trôi qua đi tám ngày. Nó đã bị mua chuộc bằng cái tình âu yếm ấy, cũng như thằng cha bốc dỡ kia đã bị mua chuc bằng tiền bạc. Không, nó không đời nào phản bội chúng. Nhưng nghĩ đến điều đó, nó tự hỏi vậy thì có phải là nó lại đi phản bội Đôn-na E-xte? Bà ấy đã đặt lòng tin cậy vào nó. Bà ấy cũng vậy, cũng như những Hảo hán nơi Trảng cát, cũng đặt ra một luật lệ trong nhà bà ấy chỉ trừng phạt khi nào xảy ra tội lỗi, và đem điều tốt mà trả lại cho điều tốt. Cẳng-Nhũn sắp phản bội cái luật lệ đó: nó sẽ đem cái xấu mà đền đáp lại cái tốt. Nó nhớ lại những lần trước, mỗi khi nó chuồn khỏi một nhà để traại cho việc trộm cắp, là một niềm sung sướng lớn tràn ngập tâm hồn nó. Lần này, chẳng một mảy may vui thú nào rộn lên với nó. Nỗi oán cừu của nó đối với tất thảy mọi con người không hề mất, đã đành thế! Nhưng nó lại đặt ra một ngoi lệ cho những người trong cái nhà này. Bởi vì, Đôn-na E-xte đã gọi nó là “con trai của mẹ” và đã hôn nó lên má. Cẳng-Nhũn đấu tranh chống lại chính nó. Nó cũng muốn được tiếp tục cái cuộc sống ấy. Nhưng liệu như thế thì có lợi gì cho các Hảo hán nới Trảng cát? Và nó là một đứa trong bọn, không bao giờ nó có thể thôi khôngột đứa trong bọn bởi vì một ngày nọ bọn lính đã tóm lấy nó và đã đánh đập nó trong khi một thằng người mặc áo gi-lê đen cười một cái cười tàn bạo. Và Cẳng-Nhũn đã quyết định. Nhưng nó ngắm nhìn trìu mến những ô cửa sổ phòng bà Đôn-na E-xte và bà này cũng chú ý nhìn nó, nhận thấy nó khóc.
- Con khóc đấy à, con củẹ?
Và bà rời khỏi cửa sổ để đến với nó, và chỉ lúc đó, Cẳng-Nhũn mới nhận ra là nó đương khóc. Nó lau khô nước mắt, cắn chặt vào bàn tay. Đôn-na E-xte đã đến cạnh nó:
- Con khóc đấy ư, Âu-guy-xtơ? Có chuyện gì xảy ra thế?
- Không thưa bà, không, con có khóc đâu…
- ng giấu mẹ, con của mẹ! Mẹ thấy rõ rồi. Có điều gì thế? Con nhớ mẹ đẻ của con ư?
Và bà kéo nó lại với bà, ngồi xuống ghế dài, áp đầu Cẳng-Nhũn vào nơi ngực ấm tình mẹ con.
- Thôi đừng khóc mẹ con nữa! Giờ đây, conột người mẹ yêu dấu khác chỉ mong muốn cho con mọi sự tốt lành và sẽ làm hết sức mình để thay thế người mẹ mà con đã mất… (… và nó thì sẽ làm tất cả để thay thế đứa con trai mà bà đã mất, Cẳng-Nhũn đã nghe thấy như thế ngay trong đáy lòng nó).
Đôn-na E-xte hôn nó lên bên má mà dòng nước mắảy.
- Con đừng khóc nữa, không thì mẹ con sẽ buồn.
Thế là hai chiếc môi của Cẳng-Nhũn hé mở và nó khóc lên nức nở, nó khóc rất lâu, áp đầu vào ngực mẹ nó. Và trong khi nó ôm chặt lấy bà để cho bà hôn nó, nó khóc thút thít bởi vì nó sắp bỏ bà mà đi, và quá thế nữa, nó sắp lấy cắp của bà. Và cũng có thể chẳng bao giờ bà hiểu được rằng Cẳng-Nhũn có cái cảm nghĩ là nó sắp lấy cắp của chính nó, cũng như bà không biết được rằng những giọt nước mắt, những tiếng nức nở của nó, đó là một lời kêu xin tha thứ.
Mọi diễn biếồn dập nhanh bởi vì ông Ra-un phải đi một chuyến đến Riô-dơ Gia-nây-rô vì những công việc pháp luật quan trọng. Và Cẳng-Nhũn thấy không còn dịp nào tốt hơn cho vụ trộm.
Trong buổi chiều mà nó bỏ đi, nó ngắm nhìn tất cả ngôi nhà, vuốt ve con mèo, chuyện tròvới cô hầu gái, xem những quyển sách tranh. Sau đó, nó đi vào phòng bà Đôn-na E-xte, nói với bà là nó sẽ đi dạo cho đến khu Căng-pôx. Thế là bà, lúc ấy, nói nhỏ cho nó biết là ông Ra-un sẽ đem từ Riô về cho nó một chiếc xe đạp và như vậy nó sẽ dùng xe đạp thay cho đi bộ mà dạo qua khu Căng-pôx. Cẳng-Nhũn sụp mi mắt, nhưng trước khi đi ra nó bước lại với bà Đôn-na E-xte và ôm hôn bà. Đó là lần đầu tiên nó ôm hôn bàững người vì sung sướng. Nó nói them rất nhỏ, rặn từng tiếng:
- Bà tốt bụng quá! Không bao giờ con quên.
Nó đi ra và không trở về nữa. Tối hôm đó, nó nằm ngủ trong cái xó của nó trong nhà kho. Pê-đrô Ba-la cùng đi với một nhóm đến ngôi nhà. Những đứa khác thì vây quanh Cẳng-Nhũn, trầm trồ ngắm bộ quần áo của nó, mái tóc chải chuốt đâu ra đấy, mùi thơm tỏa ra từ người nó. Nhưng Cẳng-Nhũn sừng sộ với một đứa và về cái xó của nó vừa đi vừa làu bàu. Ở đó, nó ngồi im mà gậm mấy cái móng tay, mắt thao láo, khiếp đảm, cho đến khi Pê-đrô Ba-la trở về cùng những đứa khác, mang theo thành quủa vụ trộm. Thằng này nói cho Cẳng-Nhũn biết đúng là một việc dễ nhất trần gian, chẳng một ai trong nhà đánh hơi được việc này, tất thảy mọi người đều cứ ngủ kỹ. Cũng vẫn rất có thể qua ngày hôm sau họ vẫm. Và nó giơ ra cho thấy những đồ vật bằng vàng và bằng bạc.
- Ngày mai, Gông-da-lê sẽ thả bạc ra cho những món này…
Cẳng-Nhũn nhắm mắt lại để khỏi phải nhìn thấy. Chỉ sau khi tất cả bọn kia đi ngủ, nó mới lần tới chỗ>
- Mày có muốn đánh đổi với tao cái này không?
- Cái này là cái gì?
- Tao đưa cho mày cái quần này, mày đưa cho tao những thứ của mày.
Gã Mèo nhìn thằng bạn mà quá chừng sửng sốt. Hiển nhiên quần áo của nó là loại sang nhất trong bọn, nhưng cũng vẫn là đồ cũ, còn xa mới xứng ngang giá trị b quần áo tốt đẹp bằng vải Ca-si-mia Cẳng-Nhũn đương mặc. “Thằng này giở chứng rồi”, Gã Mèo nghĩ thế, nhưng nó vẫn trả lời:
- Có chứ, tớ nhận đánh đổi! Có gì mà hỏi với han!
Chúng nó đổi quần áo cho nhau. Cẳng-Nhũn quay trở lại cái xó củaố tìm cách ngủ.
Trong đường phố, tiến sĩ Ra-un đương bước đi cùng hai người lính. Đúng là những người lính đã hành hạ nó trong nhà tù. Cẳng-Nhũn bỏ chạy, nhưng ông tiến sĩ Ra-un đã giơ ngón tay chỉ vào nó và họ lôi nó về cũng gian phòng ấy. Cảnh tượng lại diễn ra như cũ, bọn lính đùa cợt bằng cách bắtạy với cái chân tàn tật của nó, và đánh đập nó như mưa, và con người mặc áo gi-lê đứng đó mà cười. Nhưng, trong gian phòng, lần này lại có cả Đôn-na E-xte đương nhìn nó với cặp mắt buồn bã, và nói rằng nó không còn là con trai của bà nữa, rằng nó là một đứa ăn cắp. Và đôi mắt Đôn-na E-xte đã làm cho nó đau đớn hơn c những chập gậy của bọn lính, hơn cả tiếng cười tàn bạo của con người đứng đó.
Nó bừng tỉnh dậy, mồ hôi toát ra như tắm, nó bỏ trốn cái đêm tối trong nhà kho và ánh bình minh đã bất chợt gặp nó, lang thang trên bãi cát.
Ngày hôm sau, vào buổi tối, Pê-đrô Ba-la đưa cho nó sền được chia phần về của cải lấy được đó. Nhưng Cẳng-Nhũn từ chối, không giải thích một lời. Sau đó, Khuỷu-Khô-Khẳng xuất hiện với một tờ báo có đăng những tin mới về Lam-pi-ão. Giáo-sư đọc bài báo cho Khuỷu-Khô-Khẳng nghe và xem lướt tờ báo. Thếọi: