Tôi hỏi Fan về Đông bằng Người chết vì một thoáng kích động khi nhớ đến mẹ, và nghĩ rằng nếu hết cách, tôi hi vọng sẽ tìm được Lim Tian Ching trong lúc đám đầu trâu mặt ngựa kia không ở đó hộ tống. Fan đã nói Đồng bằng Người chết chỉ dành riêng cho vong hồn người. Chẳng phải trong mơ, chính mắt tôi nhìn thấy phủ đệ đất đai, cùng ngựa xe của y sao? Giờ tôi đã có một giả thuyết khác về cái chết của y, với kẻ tình nghi là Yan Hong, có thể tôi sẽ thuyết phục được y từ bỏ kế hoạch trả thù, mặc dù thật tình, viễn cảnh đó có vẻ mờ mịt. Thậm chí tôi còn chưa biết làm cách nào để bảo ai đó đốt thêm vàng mã cho mình.
Càng đi xa khu vực hàng quán, những bóng ma càng thưa thớt dần. Tôi tự hỏi có dấu hiệu đặc biệt nào để vong hồn lai vãng không, ở đó ẩn chứa điều gì lạ thường, hay đặc biệt cổ xưa hơn nơi khác? Vừa đi, tôi vừa cố né tránh để không bị các hồn ma trông thấy. Những câu chuyện tôi được nghe kể lúc nhỏ khắc họa nhiều điều kinh hoàng về ma quỷ hơn là những gì tôi chứng kiến cho tới giờ phút này.
Từ lúc nào chẳng biết, tôi đã đi đến tòa nhà Stadthuys cổ kính vuông vức với tường gạch nặng nề sơn đỏ đậm và mái nhà xây dốc theo phong cách châu Âu. Tòa nhà như một chứng tích của thời đại người Hà Lan cai trị Malacca. Tuy chưa từng vào trong, nhưng tôi biết người Anh vẫn dùng tòa nhà này làm tòa thị chính. Dân địa phương truyền tai nhau rằng tòa nhà bị ma ám, và dù đã cố nhưng tôi vẫn sợ hãi bước lùi lại. Tôi nhìn quanh tìm kiếm những linh hồn nhưng không thấy gì. Có lẽ họ đều ở bên trong, những quý ông thành thị lạnh lùng người Hà Lan cùng những bà vợ mặc bộ váy bồng bềnh độn khung vẫn lướt trên nền nhà bóng loáng, trao đổi về giá cả hồ tiêu và nhục đậu khấu, quế hồi và đinh hương. Quảng trường thị trấn trải rộng ngay phía trước với những luống hoa được chồng tỉ mỉ theo phong cách Hà Lan, và một đài phun nước sừng sững nổi bật. Nước lóng lánh trong bồn nhắc tôi nhớ đến bàn chân đau rát của mình. Tôi cẩn thận nghiêng đầu nhìn xuống.
Khi đang soi mình trong bồn nước, tôi nhận thấy một hình dáng khác phản chiếu ngay cạnh mình, một hình dáng mơ hồ dần dần tụ lại thành một người đàn ông lớn tuổi khoác chiếc áo nhàu nhĩ. Dưới ánh trăng, trông ông mỏng manh như một sinh vật đan kết từ những sợi ren trắng.
“Ông là ai?” Tôi thì thầm.
Ông già trầm ngâm. “À, giờ tôi mới nhìn thấy cô.” Ánh trăng bàng bạc rọi sáng chiếc mũi khoằm như mỏ vẹt và hốc mắt sâu hoắm của ông. Một người ngoại quốc. Chưa bao giờ tôi ở gần một người ngoại quốc đến vậy.
“Cô chưa chết, nhưng cô cũng không sống. Một sinh linh tội nghiệp.” Ông là linh hồn đầu tiên nhận thức đúng về tình trạng của tôi. Tôi lùi lại, hoảng hốt. “Tôi không cắn đâu, cô yên tâm. Cô ở đây làm gì? Cô nên về nhà đi.” Dù ngoại hình và ngữ điệu khá lạ lùng, nhưng ông nói chuyện với tôi bằng thái độ rất mực tử tế, và vì kiệt sức nên tôi òa khóc.
“Ôi cô bé,” ông nói, “Đừng khóc nữa. Cô nghe thấy tôi nói gì chứ?”
Tôi im lặng gật đầu.
“Xem nào, một cô bé người Hoa.” Ông nói. “À thứ lỗi cho tôi, phải gọi là một tiểu thư trẻ tuổi thì đúng hơn.”
“Ông là ai ạ?”
“Tôi á? Tôi là ông lão Willem Ganesvoort. Ngồi bên đài phun nước là thói quen của tôi.”
“Ông là người Hà Lan ạ?” Tôi vui vẻ hỏi.
“Tôi từng là một người Hà Lan.” Ông chỉnh lại. “Giờ thì tôi là gì nhỉ? Một bóng ma, một vong hồn.”
“Sao ông lại ở đây ạ?”
“Lẽ ra tôi phải hỏi cô câu hỏi đó,” ông nói với vẻ trách cứ nhẹ nhàng, “Nhưng mà, phụ nữ luôn được ưu tiên nhỉ.” Ông cúi người lịch thiệp. Khi ông làm vậy, tôi nhận ra ông bị tật, một cánh tay khép chặt trước ngực như cánh một chú chim mới ra ràng. “Tôi đi tàu đến phương Đông khi còn trẻ. Tôi học để trở thành một kiến trúc sư, và đó là sự nghiệp của tôi. À phải, tay tôi,” ông nhận ra ánh nhìn của tôi, “Sinh ra và chết đi với nó. Chẳng ai nghĩ tôi có thể vượt biển từ Rotterdam tới đây với cánh tay này, nhưng thế cũng đủ để nhìn ngắm thế giới rồi. Tôi yêu vùng đất Malacca này nhất. Thế nên khi thời gian đã hết, tôi chọn ở lại đây thêm chút nữa. Tôi đoán là mình vẫn muốn ngắm nhìn những tác phẩm của bản thân.”
“Đó là gì ạ? Tòa Stadthuys?
“Ôi không! Lạy Chúa tôi, cô nghĩ tôi bao nhiêu tuổi? Tòa Stadthuys được xây dựng vào năm 1650. Tôi không già nua đến thế đâu. Dù sao tôi đã giúp tòa nhà có thêm vài chi tiết nhỏ.”
Tôi nhìn đăm đắm vào tòa nhà tối đen nhưng chẳng thấy được những gì ông đang chỉ. “Đẹp quá.” Cuối cùng tôi nói.
“Cô nghĩ vậy à? Trong toàn bộ những công trình tôi từng thiết kế, đây là tòa nhà tôi ưng nhất. Mấy nét tô điểm kia cũng chẳng nhiều nhặt gì, nhưng tôi thực sự rất hài lòng khi tổng thể kiến trúc không tồi chút nào. Nhưng giờ cô bé muốn đi đâu?”
Tôi mở miệng định đáp, nhưng lại không biết phải nói gì. Tôi đã mệt mỏi với việc nói chuyện, đi bộ và chẳng được nghỉ ngơi chút nào. Thậm chí tôi cũng không chắc lắm về người Hà Lan này, dù ông có vẻ vô hại và trông như sắp tan vào hư vô vì tuổi tác.
Ông khẽ mỉm cười. “Cô bé không tin tôi. Tôi nghĩ cũng khó trách cô được. Chính tôi đã năm mươi năm nay không nói chuyện với linh hồn nào khác. Nhưng đó là do định kiến của bản thân. Vào thời của tôi, những người nước ngoài không giao du với dân bản địa, cô biết đấy. Người Hà Lan duy nhất quanh đây là một tên điên đã gieo mình xuống từ tháp đồng hồ. Nhưng thời gian khiến tôi nghĩ lại. Chung quy chẳng có ai để nói chuyện cũng cô đơn lắm.”
Ý nghĩ sẽ phải côi cút thế này trong hàng trăm năm nữa khiến tôi hoảng loạn. “Cháu đi tìm Đồng bằng Người chết ạ.” Tôi nói.
“Đồng bằng Người chết?” Ông hỏi lại. “Tôi chẳng giúp gì được cho cô rồi. Tôi không thể tìm được nơi như thế, dù đã nghe nói nhiều về nó. Nơi đó không nằm trong đức tin của tôi, cô bé ạ. Nơi đó không phải thế giới bên kia của tôi.”
Tôi bỗng chốc im bặt. “Nhưng ông có thể nhìn thấy cháu! Ông còn nói chuyện được với cháu kia mà!”
“Ồ, tất nhiên rồi, chúng ta vẫn đang ở thế giới người sống. Và cô vẫn còn nhìn thấy sỏi đá dưới chân, cùng ánh trăng chiếu trên đài phun nước. Đây chắc chắn không phải cõi âm, cô bé ạ. Đây đơn thuần chỉ là đầu cuối của sự sống. Từ đây chúng ta sẽ đi tiếp.”
“Thế điều gì xảy ra sau khi người phương Tây các ông chết đi?” Tôi hỏi.
“Cô không biết sao, chính tôi cũng không biết nữa là. Nhưng người mẹ yêu dấu đã từng dạy tôi rằng có một vị Chúa nhân từ, và đó là nơi tôi gửi gắm đức tin. Hoặc như vậy, hoặc đơn thuần là tôi tan vào hư không.”
“Sao ông lại biết rõ về hoàn cảnh của cháu?”
“Vì tôi đã từng gặp một người như cô, lâu lắm rồi. Một cậu bé người Ấn ngã khỏi cành cây. Cú ngã không giết chết cậu bé, nên cậu ấy đã loanh quanh ở đây một thời gian.”
“Bao lâu ạ?”
“Chỉ vài ngày thôi. Cậu ấy không ăn được, cô biết đấy, nên tim ngừng đập và rốt cuộc cậu trở thành một hồn ma. Thật tội nghiệp, cậu ấy đã vô cùng sợ hãi.”
“Thế có nghĩa là cháu cũng chỉ còn vài ngày phải không ông?” Giọng tôi run rẩy.
“Tôi không chắc. Nhưng trông cô mạnh mẽ hơn cậu ấy. Cơ thể cô có lẽ đang dần ổn định trở lại. Nhưng cô phải giữ gìn nó. Nếu không, cô sẽ phải sẵn sàng cho cuộc hành trình sắp tới.”
Dù thái độ của ông vô cùng tử tế, nhưng lời ông nói khiến tôi hoảng loạn nhất trong số tất cả các chuyện tôi gặp phải hôm nay. “Liệu có cách nào giúp cháu trở về thế giới người sống không ông?” Tôi hỏi.
“Hẳn là có chứ! Ôi, đừng vội lo âu. Hãy cứ cầu nguyện rằng mọi việc sẽ ổn, tôi cũng sẽ cầu nguyện cho cô.” Ông thở dài và cả hai chúng tôi yên lặng một lúc. Một vệt sáng nhàn nhạt dần lan tỏa từ phía chân trời. “Có lẽ cô nên trở về chăm lo cho thân xác của mình, cô bé ạ.” Cuối cùng, ông già người Hà Lan bảo tôi.
“Cháu không biết đường về ạ.”
“Điều này có lẽ tôi giúp được cô.” Ông đáp. “Đã lâu lắm rồi tôi chẳng bén mảng đến đó. Nhưng cũng không khó tìm lắm đâu. Hãy đi đường này.” Ông khuỵu một gối xuống, dùng bàn tay lành lặn vẽ một sơ đồ. Tất nhiên chẳng nét vẽ nào để lại dấu vết trên nền đất, nhưng từ những hình ảnh nhạt nhòa ông phác lên, tôi có thể hiểu được đại khái hướng mình phải đi.
“Thế cháu đi đường này thì sao ạ?” Tôi hỏi.
Ánh sáng ban mai tươi tắn tràn ngập quảng trường. Tôi quay lại nhìn, nhưng ông già Hà Lan đã biến đâu mất. Tôi chẳng biết điều gì đã xảy ra với ông, liệu cuối cùng ông đã tan biến, hình hài mong manh bốc hơi dưới ánh nắng chói chang, hay liệu ông là thứ tạo vật cổ kính đến độ ta chỉ có thể nhìn thấy dưới ánh trăng. Dù là gì đi nữa, tôi vẫn ngồi đó buồn rầu một lúc. Chim đang hót và sương sớm giăng trên làn nước trong bồn vốn đã được màn đêm làm cho mát lạnh. Tôi nhận ra rằng mình đang vô cùng mỏi mệt và chán chường đến mức tôi đi đến, nằm xuống cạnh Stadthuys như một người hành khất trên phố phường.
Khi thức dậy, tôi thấy mặt trời đã lên cao. Tôi vội đi về, bỗng thấy hết sức lo lắng cho thân xác ở nhà. Hướng chỉ đường của ông già Hà Lan rất rõ ràng và chính xác. Bằng cách nào đó, ông đã giúp tôi hình dung được toàn bộ hình hài của thị trấn, và chẳng mấy chốc tôi đã thấy con đường quen thuộc hiện ra trước mắt. Tôi bước nhanh dần khi về gần đến nhà, nhưng rồi đột nhiên đứng khựng lại. Trấn ngay trước cửa nhà tôi là một con quỷ đầu trâu.
Nó đứng sừng sững ở đó, đầu cúi xuống và hai tay khoanh lại. Chiếc đầu trâu gật ra phía trước vẻ chán chường mà lẽ ra sẽ khiến tôi buồn cười lắm nếu không phải đang trong tình thế hiểm nghèo này. Khiếp vía, tôi nép sát vào bức tường, cảm thấy lực đẩy khủng khiếp khi cố ép mình xuyên qua lớp gạch. Những suy nghĩ trong đầu tôi hỗn loạn như cơn dông. Tại sao nó lại ở đây? Và tại sao toi không hề thấy cảm giác ngột ngạt mỗi lần chúng xuất hiện? Tôi cố biện minh rằng hôm nay chỉ có một con quỷ, trong khi đêm qua là cả một con đường đầy âm hồn. Nhưng tôi không thể tự lừa phỉnh bản thân, sự bí bách tôi cảm nhận được đang mờ dần đi, càng tiếp xúc nhiều với các âm hồn, tôi lại càng gần với cái chết. Tôi sợ hãi vô cùng.
Con quỷ đứng im không nhúc nhích, như thể được tạc ra từ một khúc cây khổng lồ. Có một loài trâu hoang dã sống trong rừng rậm Malaya tên là seladang, cao ngang vai của một người đàn ông trưởng thành và nặng hơn cả tấn. Seladang là một trong số ít loài vật có thể giết được hổ. Tôi chưa trông thấy nó bao giờ, nhưng một lần, tại tiệm thuốc bắc, có một thợ săn đã mang đến cặp sừng seladang. Giờ nhìn con quái vật đầu trâu này, tôi đồ rằng sừng của nó còn to gấp nhiều lần cặp sừng ngày ấy. Khuôn mặt bên dưới cũng không mang nét hoang dại của thú vật. Trong đôi mắt đỏ quạch là sự xảo quyệt pha trộn vẻ hung hiểm và những tia nhìn quái ác khiến tôi run sợ.
Tôi đang quan sát kẻ giữ cửa không mời mà đến, thì một con quỷ khác xuất hiện ở góc đường.
“Có tin gì chưa?” Con đầu tiên hỏi.
“Chưa có gì. Mày đã vào trong chưa?”
“Nhiều bùa quá. Với lại, chỉ có thân xác cô ta ở đây.”
Tim tôi đập loạn xạ. Cứ nghĩ đến việc những sinh vật kinh khủng thế này đang truy lùng mình là tôi sợ muốn xỉu.
“Mày ở lại xem thế nào. Tao đi tuần một lúc.”
Chúng gầm gừ đổi vị trí, áo giáp va vào nhau loảng xoảng.
“Đừng để con bé lẻn vào.”
“Mày tự nhắc mình ấy! Nhưng chẳng hiểu sao y lại biết con bé không còn ở đây nhỉ? Trước giờ có cắt cử lính gác chỗ này đâu.”
“Chẳng biết. Tự dưng đêm qua y nổi cơn. ‘Cô ấy còn ở đấy không?’ Y căn vặn, cuống cuồng cả lên.”
Tôi nhét cả nắm tay vào miệng. Thì ra Lim Tian Ching đã nghe thấy tiếng kêu của tôi thật.
“Tao suýt cắn đứt đầu y cho khỏi phải nghe kêu ca.”
Chúng nhìn nhau bằng ánh mắt đỏ quạch. “Cần gì, chỉ cần y không hoàn thành được nhiệm vụ là sẽ rơi vào tay chúng ta thôi, chẳng qua quý ngài không hề hay biết về điều đó.”
Con quỷ kia ngáp dài, phô ra cổ họng rộng ngoác cùng hàm răng tua tủa như dao găm. “Tao nên làm gì khi con bé kia quay trở lại?”
“Làm gì? Canh giữ để nó không thể trốn đi lần nữa chứ sao! Con bé sẽ trở lại, tất cả bọn chúng đều trở lại.”
“Còn thân xác nó?”
“Mụ già chăm sóc tốt lắm, thân xác không sao. Chẳng có vấn đề gì với cái xác đó cả.”
“Thế nếu con bé không trở lại?”
“Ý mày là mất tích ấy hả? Thế thì linh hồn nó sẽ teo tóp. Dù con bé có muốn nhập trở lại xác thì cũng không vừa nữa. Như một hạt khô lọc xọc trong cái vỏ quá rộng.”
“Thế thì tốt nhất phải sớm tìm được con bé.”
Con quỷ đầu tiên bước đi khi kẻ thay ca đứng án ngữ trước cửa nhà tôi. Ruột gan tôi quặn lại. Giờ tôi không thể trở về nhà nữa rồi. Tốt nhất là cứ đứng yên đây, tôi nghĩ, chờ xem con quỷ có phút nào lơ là cảnh giác. Nó có vẻ cảnh giác hơn người tiền nhiệm của mình, đứng thẳng tắp, ánh mắt chăm chăm nhìn đường phố và những khu nhà xung quanh. Khi tôi bắt đầu nghĩ xem mình nên làm gì thì cổng nhà tôi bật mở.