Tôi kinh hoàng nhìn hai cánh gỗ mở rộng, tự hỏi liệu người đi ra có trở thành mời cho tên ác quỷ đang chờ. Tôi cứng người lo lắng đó là vú, nhưng hình dáng xuất hiện nơi cổng lại là lão Wong, đầu bếp nhà tôi. Và trái ngược với nỗi lo của tôi, cú chạm trán giữa lão và con quỷ đầu trâu lại nhẹ bẫng như không. Họ tránh nhau bằng một điệu bộ kì cục, lão Wong kẹp giỏ dưới nách, cứ thế đi thẳng, con quỷ bước sang nhường đường với vẻ chán chường.
Khi lão Wong lóc cóc đi xuống phố, tôi dằn mình len qua bức tường, lọt hẳn vào sân sau nhà hàng xóm. Cuống cuồng vì sợ mất dấu, tôi chạy xuyên qua những ngôi nhà xung quanh, ấn mình qua hết bức tường này tới chướng ngại khác. Lão Wong vẫn đang lững thững bước. Càng lúc tôi càng sợ mình mất dấu lão, nhưng cuối cùng, khi đi hết dãy nhà, tôi vừa lọt ra khỏi bức tường thì kịp thấy lão rẽ vào con ngõ.
Khi vội vã chạy theo lão Wong, tôi chẳng biết mình định làm gì, chẳng có kế hoạch hành động nào cả, chỉ nhớ trong một thoáng ở sân nhà, dường như lão đã nhận ra tôi. Giá có cách nào làm cho linh hồn này trở nên hữu hình hơn. Ước gì trời đổ mưa, có lẽ nước mưa sẽ phủ lên tôi những đường nét mờ ảo. Mặc dù Malacca thường xuyên được tưới tắm trong những cơn mưa bão nhiệt đới, hai ngày nay bầu trời lại trong veo, những cụm mây to dày như bông tắm lững lờ trôi trên nền trời như những hòn đảo bay trắng xóa.
Tôi bắt kịp lão Wong và gọi to tên lão, dù chẳng mấy hi vọng sẽ được nghe thấy. Nhưng thật ngạc nhiên, lão quay lại. Vẻ ngỡ ngàng thoáng hiện trên gương mặt, rồi lão quay đi và tiếp tục bước như không hề thấy gì.
“Bác Wong!” Tôi thét lên lần nữa. “Cháu đây mà! Li Lan đây!” Tôi chạy vội tới, nhưng lão vẫn ngoan cố phớt lờ tôi. “Làm ơn! Nếu bác nhìn thấy cháu thì giúp cháu với!”
Chúng tôi dùng dằng thêm một quãng đường nữa, tôi cứ van nài, còn lão Wong thì chẳng tỏ vẻ gì là nghe thấy. Đôi khi khóe mắt lão giật nhẹ, nhưng thái độ vẫn bình thản như tôi không tồn tại. Cuối cùng tôi đứng bên đường khóc thút thít như một đứa trẻ, nước mắt giàn giụa chảy tràn qua hai bàn tay đang úp chặt trên mặt, nước mũi nhỏ tong tỏng xuống vạt áo.
“Tiểu thư!” Lão Wong nói với vẻ cam chịu. “Đáng lẽ tôi không được nói chuyện với cô. Trở về thân xác của mình đi.”
“Bác nhìn thấy cháu sao?”
“Tất nhiên rồi. Tôi thấy cô đi qua đi lại trong nhà cả tuần qua. Cô làm gì ở đây, ở nơi xa nhà thế này?”
“Cháu không về nhà được. Có một con quỷ đầu trâu đang gác trước cửa.” Tôi bắt đầu kể lể về hành trình đen đủi của mình, tuy vẫn nức nở nhưng đã an lòng đôi chút.
Lão Wong ngắt lời tôi, “Đừng đứng giữa đường thế này. Người ta sẽ nghĩ tôi bị điên mất.”
Có một cây còng xum xuê ở ven đường, những cành lá xanh tươi dệt thành một tán lọng thiên nhiên. Lão Wong ngồi xuống dưới gốc cây và nói, “Nào, thế cô gặp phải chuyện gì?” Khi tôi trút bầu tâm sự, lão lấy trong túi ra một gói giấy báo, bên trong là hạt dưa. “Đáng lẽ tôi không nên nói chuyện với cô,” lão lầm bầm nhắc lại qua khóe miệng.
“Tại sao ạ?”
Lão khịt mũi, vẻ thiếu kiên nhẫn. “Vì đen đủi lắm, sẽ khiến cô bị gắn chặt với âm giới. Cô cần phải trở về thân xác của mình đi. Thế cô nghĩ tại sao lần trước tôi lại vờ không nhìn thấy cô?”
“Cháu đã thử rồi. Cháu đã cố hết sức để nhập lại thân xác nhưng vô ích. Và giờ cháu còn không về được nhà nữa!”
“Cô nói có một con quỷ gác trước nhà à?”
“Bác không nhìn thấy nó sao?”
“Không, nhưng tôi cảm thấy gì đó. Tôi không nhìn thấy quỷ dữ. Thật phúc đức!”
“Thế tại sao bác lại nhìn thấy cháu ạ?”
“Chuyện dài lắm. Cô có thực sự muốn nghe không? Ôi chà, từ khi còn bé cô đã thích nghe kể chuyện rồi.”
Lão Wong thở dài, hé miệng cắn hạt dưa, tách ra phần nhân ngọt bùi. Từ khi bắt đầu có ý thức, tôi đã thấy lão luôn mang theo mình đủ thứ quà vặt này, từ lạc đến đậu gà rang. Thế nhưng lão gầy khẳng khiu như quỷ đói, hai bắp tay xương xẩu vì lăn bột mì, chặt gà và kì cọ xoong chảo.
Lão Wong cau mày, “Tôi có thể nhìn thấy linh hồn. Khả năng ấy có từ ngày tôi còn bé. Có vài người bẩm sinh đã thế, nhưng nhiều người khác lại có được qua hình thức rèn luyện tâm linh. Suốt một thời gian dài, tôi không hề biết nhiều người xung quanh mình thật ra đã chết từ lâu rồi. Tôi chào đời ở một ngôi làng nhỏ tít phía Bắc ở Perak, Teluk Anson, nơi người Anh khai mỏ. Cha là thợ vá giày, còn mẹ là thợ khâu. Tôi chưa kể với cô bao giờ, đúng không? Tôi không muốn mọi người biết quá nhiều về mình.”
“Hồi nhỏ, tôi hay chơi với một cậu bé ở bờ sông. Ngày nào cậu ấy cũng đợi tôi ra chơi, và chúng tôi bận rộn cả ngày nghịch hết cành đến lá. Cậu chẳng bao giờ chạm vào thứ gì, chỉ nhờ tôi xây cái này, đắp cái kia. Cuối cùng tôi hỏi mẹ liệu có thể mời cậu về ăn tối không, vì trông cậu ấy gầy gò đói khát lắm. Mẹ chẳng tin khi tôi tả về cậu, bảo rằng không có thằng bé nào như thế trong làng cả, cho đến khi tôi đưa bà ra bờ sông và chỉ cho bà thấy. Đó chính là lúc tôi nhận ra cậu là một hồn ma, vì mẹ không nhìn thấy cậu. Mẹ phát hoảng lên và mắng tôi thậm tệ, chắc cô cũng hình dung được. Tôi bị cấm, không bao giờ được bén mảng ra chơi với cậu nữa. Cuối cùng, tôi nghe bập bõm người lớn kể rằng, có một đứa trẻ mất tích từ nhiều năm trước. Một ngày cậu bé trốn đi, và cha mẹ cậu, vốn là những người nhập cư, không biết phải tìm con ở đâu. Chẳng ai nghe thêm được gì về gia đình đó, và đứa bé trai sớm bị lãng quên.”
“Vì tôi khăng khăng rằng cậu bé vẫn còn ở bờ sông, nên cha mẹ kết luận rằng cậu bị chết đuối. Cha tự mình ra bờ sông, nhờ đã biết tên cậu nên ông lập bàn thờ, còn đốt cả vàng mã cho cậu nữa. Từ ấy trở đi tôi không còn gặp lại cậu bé. Và sau chuyện này, cha mẹ cảnh cáo tôi không được tiếp tục nói chuyện với các linh hồn.”
“Nhưng bác đã làm được một việc tốt mà.” Tôi nói.
Lão Wong phun ra một mảnh vỏ hạt dưa. “Ừ, nhưng đó là trường hợp đặc biệt. Cha mẹ tôi biết tên cậu bé và gia đình cậu ta. Đa phần những vong hồn là vô danh, và chẳng ai trong số họ cố bắt chuyện với tôi cả.”
“Giờ cháu đang nói chuyện với bác đây ạ.”
Lão Wong cau mày, “Cô đã chết đâu. Và không phải cứ ai nhìn thấy cô là cô đi nói chuyện với người đó đâu đấy. Ngoài kia nhiều yêu ma quỷ quái lắm, nhiều linh hồn muốn làm hại người sống sẽ tìm cách để lừa phỉnh cô.”
Tôi rùng mình, nghĩ đến Fan và sự si tình bướng bỉnh của cô. “Ai dạy bác những điều đó ạ?”
“Ôi chà, sau vụ cậu bé bờ sông, mẹ tôi đã mất ngủ vì lo lắng. Thật ra bà hoàn toàn có lí do để sợ hãi đến thế. Tôi vỡ lẽ, xung quanh có nhiều cứ ngỡ đang sống bình thường, thật ra lại là hồn ma. Mỗi ngày tôi đều nhìn thấy họ, người đàn bà đứng sau quầy trái cây trống huơ chẳng có quả nào để bán, người đàn ông một chân đứng trong tiệm cà phê thường tự dưng cười phá lên. Trước đây tôi chẳng hiểu tại sao không ai để ý đến ông, giờ mới hiểu là vì chẳng ai nhìn thấy ông cả.
Một ngày nọ, có lão thầy bói tới làng tôi. Lão biểu diễn mấy mánh lới nhờ sự trợ giúp của những hồn ma, nhưng tôi đã dễ dàng nhìn thấu. Khi phát hiện ra tôi có khả năng lạ, lão ngỏ ý muốn mua tôi. Mẹ từ chối, nhưng sợ lão thầy bói sẽ quay lại bắt cóc tôi, bà bèn gửi tôi lên chùa làm sãi.”
“Và bác ở lại đó ạ?”
Lão Wong khịt mũi, “Cô nghĩ gì vậy? Chẳng phải tôi đang ngồi cạnh cô đây sao? Tôi bỏ trốn nhiều lần tới mức cuối cùng sư trụ trì bảo không thể nhận tôi nữa. Nhưng khi tôi ở đó, thầy đã dạy tôi những bài học đặc biệt. Có lẽ thầy định huấn luyện tôi thành một người trừ tà. Chính thầy đã dạy tôi cách xử lí linh hồn. Dù gì đi nữa, những bài học cũng khá bổ ích. Nhưng sau lần gặp cậu bé bên sông, tôi chẳng bao giờ muốn dính dáng gì tới âm hồn nữa.”
“Vì quá đáng sợ phải không ạ?”
“Không, vì quá đáng buồn. Với đại đa số, tôi chẳng thể giúp gì, và tôi cũng không hứng thú kiếm tiền từ những linh hồn đáng thương đó. Chà, cô có thể nói tôi trốn tránh trách nhiệm cũng được. Hồi còn ở chùa, lúc nào tôi cũng ru rú trong bếp, thế nên cuối cùng tôi đã chạy trốn và trở thành một đầu bếp.”
“Thế còn gia đình bác ạ?”
“Tôi ra đi thì tốt hơn. Luôn có ai đó muốn nhờ tôi gọi hồn, cầu tài lộc hay trù ếm. Mà tôi chỉ muốn được yên thân.”
Nhớ lại lão Wong luôn sửng cồ mỗi lần cô Ah Chun nhà tôi tưởng tượng ra chuyện ma quỷ, tôi cười sằng sặc.
“Cô cười gì thế?” Lão hỏi.
“Bảo sao bác chẳng bao giờ tin những câu chuyện của Ah Chun.”
Lão Wong cười gằn, “Con bé đó! Tôi có thể kể cho nó nghe những câu chuyện còn đáng sợ hơn nó tưởng tượng ra nhiều.”
“Đã bao giờ bác nhìn thấy ma trong nhà mình chưa ạ?”
“Một lần ở cầu thang chính…” Lão nhăn mặt rồi đột ngột nói, “Nhưng cô đừng lo. Lão gia quá cố đã mời thầy trừ tà rồi.”
Mãi sau này tôi mới hiểu được tính nghiêm trọng trong những lời lão nói, nhưng vào lúc đó, tôi chỉ biết lo lắng hỏi, “Đã bao giờ bác gặp hồn ma của Lim Tian Ching chưa ạ?”
Lão Wong lại nhăn mặt, “Chưa bao giờ. Nhưng cô nói y bước vào giấc mộng của cô mà. Chắc hẳn phải có một mối liên kết nào đó. Tôi có thể cho cô biết là y chẳng hạ cố xuống bếp làm gì, còn tôi thì không tự đi tìm ma quỷ. Tôi gắng không nhìn thấy, không lưu tâm đến họ. Đó là cách duy nhất để được sống yên thân. Nhìn thấy linh hồn là điều kinh khủng, chứ chẳng phải tài năng gì cho cam.”
Lão im bặt, tôi thì nghĩ, tự lúc nào chẳng biết, lão đã trở thành một phần quan trọng với gia đình mình. Thật khó tưởng tượng là lão có thể che giấu khả năng kì lạ ấy trong khi vẫn sinh hoạt như bình thường.
“Bác Wong, bác có thể làm giúp cháu một việc được không ạ?” Cuối cùng tôi hỏi.
“Việc gì? Tôi hi vọng cô đang tính kế để quay về nhà với tôi bây giờ.”
“Cháu không làm thế được. Nhưng bác có thể cúng cho cháu ít vàng mã và đồ ăn được không?”
Lão thở dài, “Tôi không muốn làm thế, vì như vậy chỉ càng khiến cô dễ ở lại âm giới hơn thôi. Tôi nghĩ cô nên trở về với thân xác mình thì hơn.”
“Trở về làm tù nhân của Lim Tian Ching thì có ích gì ạ? Làm ơn! Cho cháu thêm chút thời gian thôi, cháu cần tìm ra cách để thoát khỏi tình thế này.”
“Nhưng tôi không có bàn thờ để cúng cho cô.”
“Bác chỉ việc viết tên cháu lên một tờ giấy là được ạ.”
“Tiểu thư, tôi nào có biết đọc biết viết.”
Tôi ngớ ra, hẳn lão Wong đã nhận thấy sự thất vọng của tôi. “Giờ cô đang ở đây, vậy tôi sẽ đi mua ít đồ ăn để cô thụ hưởng luôn. Một lúc nữa tôi sẽ nhờ cha cô viết tên cô lên một bài vị, dù chắc hẳn ông ấy chẳng thích thú gì đâu. Đấy là trong trường hợp ông ấy tỉnh táo.”
Tôi cảm thấy ăn năn, “Cha cháu sao rồi ạ?”
“Không tốt chút nào. Tôi xin lỗi không thể mang cho cô tin khả quan hơn.”
“Còn vú ạ?”
“Bận bịu chăm sóc thân thể cô. Mấy ngày nay bà ấy chỉ tập trung vào việc này. Bà ấy muốn mời một bà đồng nào đó từ đền Sam Poh Kong đến, nhưng cha cô nhất định không cho. Họ cãi nhau một trận nảy lửa. Tôi nói này, tốt nhất cô nên về nhanh đi.”
Dù vừa nghe toàn tin tức đáng lo ngại, nhưng được gặp lão Wong, tôi thấy nhẹ nhõm lạ lùng. Lại giống như hồi nhỏ, đi kè kè cạnh lão trên đường phố. Chúng tôi đi qua một gánh mì rong, một đầu quang gánh là nồi nước nghi ngút, bên kia là một chiếc giành lớn đặt lò than nhỏ và rất nhiều đồ ăn kèm. Ngồi xổm bên lề đường, người bán mì dựng bếp lò tạm bợ lên và bắt đầu nấu nướng theo yêu cầu của thực khách. Tôi luôn muốn một lần được ăn thử món này nhưng vú chưa bao giờ cho phép.
“Cháu ăn mì được không ạ?”
Lão Wong tỏ vẻ bực tức. “Cô không biết người ta chẳng bao giờ rửa, mà cho người sau ăn luôn bát đĩa bẩn của người trước à? Tôi làm mì còn ngon hơn thế này nhiều.”
“Nhưng giờ cháu có về nhà được đâu.”
“Cô có muốn bị đau bụng không?” Tôi không thể không phì cười trước điều vô lí vừa nghe. “Cô chẳng biết gì hết,” lão Wong rầu rĩ, “Không cho cô ăn mì.” Rồi lão lại dịu giọng, “Đằng xa có một quầy bún hải sản laksa. Chúng ta đến đó ăn, không thể ăn ở chỗ bẩn thỉu này được.”
Chúng tôi tiến vào một hẻm nhỏ râm mát nhờ dãy mái hiên bằng bạt che khuất mặt trời. Những người bán hàng lom khom bên lò than hồng. Một lạch nước nhỏ bốc mùi chảy qua con hẻm. Vú chắc hẳn sẽ nói con gái nhà tử tế không nên bén mảng đến đây, vì ở những quán ăn này đa phần toàn đàn ông, là cu li hoặc các thị dân khác. Lão Wong len lỏi qua những quán ăn ồn ào nối liền nhau. Các quầy đồ ăn bày đầy những con tôm bóng loáng, những nùi mì rối, và hàng đống ớt đỏ chót cạnh rau mùi xanh tươi. Cá rán vàng ươm nhờ ướp nghệ, từng viên begedil giòn rụm, nhồi thịt và khoai tây thái sợi chiên giòn, được đặt tươm tất trên lá chuối xanh, trong khi thịt xiên nướng satay và thịt cá đuối tẩm xối ớt được nướng nhanh trên lò than. Tôi đói đến mờ mắt.
Lão Wong tiến thẳng đến một quầy đang có cả hàng người đứng đợi. Khi món laksa cà ri được mang ra, lão Wong đẩy tới trước mặt tôi, lầm rầm cầu nguyện, đoạn cầm đũa lên và bắt đầu ăn. May thay, khi thức ăn được cúng tiến, tôi có thể thưởng thức ngay những sợi bún đậm đà nước sốt cà ri, những miếng đậu phụ chiên, giá đỗ và những con ngao béo tròn chìm dưới nước sốt như những kho báu tiềm ẩn. No nê rồi, tôi tiếp tục đi theo lão Wong, vừa đi vừa nói chuyện vui vẻ, nhất thời quên bẵng mọi âu sầu. Lão Wong mua chuối và bánh dẻo đậu đỏ, vì nhớ ra đó là những món tôi yêu thích. Tôi bảo hết đói rồi, nhưng lão nói không sao.
“Để lúc khác ăn vẫn được mà.”
Tôi gật đầu, nhớ lại những đồng tiền tự nhiên xuất hiện trong túi áo.
“Tôi chẳng còn tiền trong người nữa.” Lão nói. “Cô có chắc rằng giờ cô không thể về nhà không?”
“Cháu không thể, nếu lũ quỷ vẫn còn gác ở đó.”
“Thế nhưng trong lúc ấy cô biết ăn gì?”
Cảm động trước sự quan tâm của lão Wong, tôi nghẹn ngào quay đi. Khi chúng tôi về tới nơi, lão hỏi bọn quỷ dữ còn gác ở cửa không. Tôi ngó quanh, bực tức với chính mình vì đã bất cẩn đến quá gần ngôi nhà, nhưng may là tôi chẳng thấy bóng dáng chúng đâu cả.
“Cháu nên đi đây ạ.” Tôi nói.
Lão Wong mở miệng định nói gì đó, nhưng tôi đi thật nhanh, sợ sẽ khiến lão bị chú ý.