Đêm đó tôi ở lại bên sườn đồi vì không muốn vào thị trấn hay phải tiêu chỗ tiền âm phủ ít ỏi còn sót lại cho việc di chuyển. Trên đồi có một tán cây lớn với những chùm rễ cuồn cuộn nổi trên mặt đất như những bức tường nhỏ, và tôi co ro tựa vào đó như một chú pelandok (hươu chuột). Chúng tôi có rất nhiều mẩu chuyện dân gian về hươu chuột, loài động vật nhỏ bé chỉ bằng con mèo là cùng, chân thì mảnh khảnh như cành cây con. Người ta nói rằng hươu chuột là loài động vật dễ săn nhất, cứ lấy hai thanh gỗ gõ dồn dập lên một đám lá khô, những con hươu chuột đực sẽ xuất hiện vì nghĩ rằng có kẻ địch tới, và đáp trả bằng cách giậm chân. Người thợ săn chỉ việc bắn nó và tha về cho bữa tối. Tôi luôn cảm thấy cách săn này chẳng công bằng chút nào, và cũng không hề tương xứng với lời tương truyền về sự giảo hoạt vô song của loài hươu chuột. Ôm lấy đầu gối, tôi đặt hoàn cảnh mình vào cả chuỗi sự việc kinh khủng vừa qua và cảm thấy mình chẳng hơn loài hươu chuột kia là mấy, phải ẩn tấm thân không có khả năng tự vệ vào hết xó này đến xó khác, chỉ ló mặt ra mỗi khi hóng được chút tin tức. Er Lang liệu có đáng tin hay không? Khi ở cạnh anh ta, tôi không hề cảm thấy phân vân, nhưng giờ đây, mối hoài nghi giăng đầy trong óc.
Cuối cùng tôi vẫn quyết định sẽ đặt lòng tin và anh ta. Vì thật ra tôi cũng chẳng có nhiều lựa chọn.
Tiếng chim hót làm tôi tỉnh giấc. Sương lạnh giăng mờ thảm cỏ. Trên những cành cây đang đung đưa, đàn khỉ đang chuyền cành. Chẳng biết vú đã thay quần áo cho tôi từ lúc nào. Tôi cuống cuồng lần tìm khắp người, sợ rằng chiếc vảy Er Lang đưa cho đã biến mất, nhưng thật may nó vẫn còn trong túi áo. Đêm qua, chiếc vảy tỏa sáng như xà cừ, thế nhưng trong nắng mai, ánh rạng ngời mới thật là rực rỡ. Sinh vật sở hữu chiếc vảy này hẳn phải đẹp đẽ vô song, và tôi lại nghĩ liệu bên dưới chiếc mũ của Er Lang có phải là một cái đầu cá với đôi môi chìa ra cong cớn, hay kinh khủng hơn là một cái đầu mãng xà không. Gạt những suy nghĩ đó ra khỏi tâm trí, tôi bắt đầu đi xuống thị trấn dưới đồi. Những cây cổ thụ vĩ đại nhường chỗ cho cỏ dại um tùm mọc đến thắt lưng, rậm rạp đến mức tôi phải cố gắng mới len qua được.
Mặt trời đã tỏa rạng, nhưng nơi cần đến vẫn còn khá xa. Tôi thầm than thở khi nhìn con đường trước mặt. Malaya là một vùng đất của màu xanh bất tận. Dưới ánh mặt trời ấm áp và những cơn mưa rào xối xả, bất kể nơi nào bị bỏ hoang sẽ đều nhanh chóng được dây leo bao phủ, và bất cứ con đường nào vắng dấu chân người cũng sẽ trở thành rừng cây. Quanh tôi, lũ ve sầu cất tiếng kêu đơn điệu buồn tẻ, nhưng inh tai đến mức tôi chẳng hề nghe thấy tiếng yên cương lách cách cho đến khi nó tới sát tận bên tai. Ngỡ ngàng, tôi nhìn quanh nhưng không thấy gì cả. Cuối cùng tôi thầm thì, “Có ai ở đó không?”
Không có lời đáp, chỉ có một tiếng hí nho nhỏ.
Tôi thử lại lần nữa, nghe càng ngu ngốc hơn. “Có phải một con ngựa đang ở đây không?”
Khi chữ ngựa buột ra khỏi miệng, tôi nhìn thấy nó. Đó là một con ngựa cái nhỏ, trông như khối hộp màu gỗ đàn hương. Đôi mắt đen sáng rỡ như hạt na nhìn tôi đăm đắm dưới chiếc bờm rậm được tết thành múi. Con ngựa đã được đóng sẵn yên cương và phủ một tấm chăn. Chính những chi tiết ấy khiến tôi chợt nhận ra, trông nó giống hệt con ngựa gỗ Tian Bai đã mân mê trong tay. Tôi hiểu Tian Bai đã đốt nó cho tôi. Những con ngựa trong chuồng lớn của Lim Tian Ching trông vô hồn y hệt nhau vì chúng chỉ được làm bằng giấy. Nhưng con ngựa này vốn được khắc từ gỗ, di chuyển y như ngựa thật. Tôi sung sướng không sao tả xiết.
“Ta sẽ gọi em là Chendana.” Tôi quyết định. Từ đó có nghĩa là gỗ đàn hương trong tiếng Mã Lai, vì con ngựa được đẽo gọt từ loại gỗ có mùi thơm ấy. Cưỡi nó mới dễ dàng làm sao. Dễ hơn nhiều so với cưỡi ngựa thật, vì nó đứng vững khi tôi leo lên và tấm lưng dài rộng êm ái như ghế ngựa gỗ. Chendana không biết mệt và cũng không cần ăn uống. Chúng tôi lướt như bay mà những cọng cỏ khô không hề rung rinh. Chính biểu hiện này khiến tôi nhận ra Chendana còn thuộc về âm giới hơn cả tôi.
Tầm chiều, chúng tôi tới Malacca. Giờ đã có phương tiện đi lại, chẳng còn lí do gì ngăn tôi nhờ Fan dẫn đến Đồng bằng Người chết. Lần đầu tiên thấy vui vẻ sau suốt quãng thời gian dài, tôi tìm đường đến cửa hàng vào lúc đàn bồ câu dập dờn bay về tổ. Tôi dừng bước ở cửa chính, ngần ngừ không biết có nên đợi đến khi đêm xuống hay không. Gia đình họ đang quây quần bên bàn ăn dùng bữa tối, và tôi ngửi thấy mùi hương cuốn hút của cá biển muối.
“Fan!” Tôi gọi.
Chẳng có tiếng đáp lại. Tôi khó nhọc nhấn người qua cửa gỗ. Hành lang được chiếu sáng bởi những tia nắng cuối ngày trông không còn đáng sợ như bữa trước tôi đến. Tôi đi tới đi lui, gọi tên Fan mặc cho gia đình kia vẫn đang dùng bữa. Tất nhiên họ không hề hay biết tôi đang ở đây, dù có lần tôi đi sát ông nội và thấy ông chớp mắt. Mãi mà chẳng thấy tăm hơi Fan đâu, tôi đi ngược ra cửa chính. Đang định thực hiện cái việc chẳng dễ chút nào là nhấn người qua cửa gỗ lần nữa, tôi nghe thấy một giọng thẽ thọt, “Cô làm gì ở đây?”
Nhìn về hướng giọng nói, cuối cùng tôi cũng thấy mục tiêu của mình. Fan đang náu mình trong một góc khuất, nép người sau cánh cửa chạn bát. Rất khó nhìn thấy cô trong những tia sáng nhợt nhạt cuối ngày.
“Em trở lại rồi đây. Chị nói sẽ dẫn em đến Đồng bằng Người chết mà.”
“Ôi, giờ ta lại không đi được rồi.” Cô nói yếu ớt.
“Tại sao ạ?”
“Không tiện lắm.”
“Thế ít nhất chị cũng chỉ đường cho em chứ?”
Cô lẩm bẩm gì đó tôi không nghe rõ. Khi nhận ra điều ấy, cô cố nâng giọng lên, dù yếu ớt, “… lúc tối trời…”
Không chắc lắm về điều cô định nói, nhưng tôi vẫn gật đầu, “Em sẽ ra ngoài đợi màn đêm buông xuống.”
Thật may mắn là Chendana vẫn ở đúng nơi tôi để nó lại. Tôi đã sợ rằng ai đó sẽ cướp nó đi, thứ quý giá nhất tôi mới chỉ được sở hữu trong thời gian ngắn ngủi. Tôi chợt nhớ ra Fan từng bảo rằng, đồ âm giới không thể đoạt lấy, chỉ có thể cho đi, nhưng tôi vẫn cho rằng chẳng gì có thể ngăn được bàn tay cướp bóc của binh đoàn ma đói. Tôi đến bên con ngựa, ngả đầu vào hít hà mùi đàn hương, mùi của loài gỗ dùng làm nhang thờ cúng.
Chúng tôi đợi một lúc lâu, trăng lưỡi liềm đã sáng rỡ nhưng chưa thấy bóng dáng Fan. Tôi bắt đầu tự hỏi liệu mình có hiểu nhầm ý cô không, thì cuối cùng cô hiện ra từ cánh cửa. Trông vẻ ủ rũ trên mặt cô, tôi nghi là nãy giờ cô đã trốn đằng sau cánh cửa ấy. Vừa nhìn thấy Chendana, ánh mắt cô hấp háy, “Cô có một con ngựa!”
Tôi không thể ngăn cảm giác tự hào, “Đúng vậy. Em đã sẵn sàng đến Đồng bằng Người chết rồi đây.”
“Nhưng làm thế nào mà…?” Fan đi quanh con ngựa, xem xét cẩn thận. Sau đó cô liếc nhanh về phía tôi. “Ngựa tốt đấy, rất tốt là đằng khác. Cô có lấy cho ta một con không?”
“Tiếc rằng quan trên chỉ cấp phương tiện cho mình em thôi.”
“Nhưng ta là người đồng hành với cô mà! Đáng lẽ cô phải bảo họ cấp cho cả ta với chứ.”
Tôi ngập ngừng, “Em sẽ trả công chị khi chúng ta đến nơi. Em tưởng chị không muốn các vị quan trên biết đến mình.”
“Ồ.” Trông cô thất vọng. “Ta nghĩ cô nói đúng.”
“Với lại chẳng phải chị nói mình có phương tiện đi lại rồi sao?”
“Ta có. Nhưng đám người hầu của ta trông bệ rạc lắm nếu đem so với thứ này.” Cô thở dài đầy ghen tị, “Nếu chàng đi cùng ta, chí ít ta cũng nên có một cỗ kiệu lớn chứ.”
Tôi phải cố kìm nén để không đảo tròn mắt, ước sao mình có thể thích Fan nhiều hơn. Thật chẳng dễ dàng gì khi phải trải qua cuộc hành trình dài với cô gái này. “Chị đã sẵn sàng lên đường chưa?” Tôi hỏi. “Nếu chị không muốn đi, em sẽ tìm một người dẫn đường khác.” Dù nói vậy, nhưng quả thật tôi không biết mình sẽ phải xoay sở ra sao nếu cô từ chối.
“Ai nói vậy? Tất nhiên là ta đi chứ. Ở đó còn nhiều việc ta phải làm lắm. Chờ nhé, để ta chuẩn bị một chút.” Cô cứ ngần ngừ đi ra đi vào căn nhà vài lần mà trông vẫn chẳng khác gì lúc trước. Cuối cùng, khi tôi đang nghiêm túc cân nhắc việc khởi hành một mình, thì thấy cô đi ra. “Đi thôi.”
Tôi nhận ra ngón tay cô chụm lại như đang nắm chặt thứ gì đó vô hình, và tôi đoán chắc cô về nhà để lấy sợi tơ nối mình với ông nội kia. Nhìn sang tôi, cô nói như hối lỗi, “Ta chẳng dám ra ngoài mà không có nó. Chắc sẽ lạc đường mất.”
Bỗng nhiên tôi thấy hối hận vô cùng vì đã nghĩ xấu về cô. Rốt cuộc, cô chỉ là một hồn ma đến đi thẳng cũng gặp khó khăn. Cô cất bước với vẻ õng ẹo, giật mình trước cơn gió và những cái bóng. Tôi đi sau, cầm dây cương dắt theo Chendana. Trời vẫn chưa tối hẳn. Bầu trời xanh thẫm, nhưng tôi đã lờ mờ nhìn thấy những quầng sáng linh hồn. Tôi muốn giục Fan đi nhanh lên, nhưng càng đi xa nhà cô càng rõn rén. Rồi thậm chí cô quay lại không biết nên đi tiếp hay thôi.
“Ta bảo cô là ta không thích ra khỏi nhà rồi mà.” Cô ngượng ngập. “Phiền phức ghê lắm. Càng nhiều năm trôi qua tình hình lại càng tệ. Ta đang mất dần thực thể của mình, ta biết mà.”
Tôi không muốn nhắc cô rằng, việc kéo dài sự tồn tại ở thể này là do chính cô chọn lựa. Chúng tôi lần mò đi tiếp chẳng khác gì sên bò, tránh xa mấy cái bóng và những vầng sáng ma quái. Fan rất sợ chạm mặt những tên gác cổng âm giới, và sự căng thẳng của cô lây sang tôi.
“Cổng vào Đồng bằng Người chết còn xa không?” Tôi hỏi.
“Ta thề rằng có một cái ở ngay đâu đây.” Cô đáp. “Ít nhất là cánh cổng ta từng vào. Đừng nói rằng họ chuyển nó đi chứ!”
“Cổng vào di chuyển được ư?”
“Có nhiều đường vào lắm.” Cô nói với vẻ điên tiết. “Đôi khi họ đổi chỗ chẳng vì lí do gì cả.”
Chúng tôi lần mò trong im lặng, nhìn xoáy vào hết ngõ tối này đến ngách tôi khác. Tôi hoàn toàn không biết Fan đang tìm kiếm gì, nhưng khi đặt tay lên cổ Chendana, tôi thấy mình bình tĩnh hơn. Nếu có ngày được trở về với thân xác của mình, tôi sẽ xin cha mua một con ngựa. Nghĩ đến cha và những vấn đề của ông, tinh thần tôi lại trở nên ảm đạm. Bàn tay tôi lần đến túi áo, nơi cất chiếc vảy Er Lang đưa cho. Mép vảy cứng ngắc như tiếp thêm cho tôi chút ý chí. Đúng lúc đó, Fan khựng lại, “Nó đây rồi.”
Tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài một cánh cửa cũ kĩ gắn trên tường, mở hoác ra như một cái mồm đói khát. Nơi đó chẳng có gì khác lạ, trừ bóng tối dường như đặc quánh hơn so với bóng tối xung quanh. Fan lướt tay qua xà ngang và một ánh sáng đỏ nhàn nhạt phát ra từ phía trong, như thể cánh cửa dẫn tới một đường hầm rất sâu dưới lòng đất. Tôi chẳng thích nơi này chút nào, cả Chendana cũng thế. Con ngựa giật lùi từng bước và gõ móng ngập ngừng.
“Làm sao chị biết vậy?” Tôi thầm thì hỏi Fan.
“Nó gọi ta mà.” Cô nói, quay đầu nhìn tôi qua vai. Ánh sáng đỏ sậm phủ một quầng thẫm lên gương mặt cô, làm nổi bật vẻ nhăn nheo, héo úa. “Cô không cảm thấy điều đó sao?”
“Không ạ.” Tôi đáp, không đề cập đến việc thậm chí nơi này còn đang muốn trục xuất tôi. Chính Er Lang đã đề cập đến chuyện này. Có khi tôi không thể qua được cổng, nhưng đột nhiên tôi ước rằng mình không cần phải đến nơi này. Thế nhưng Fan đã đi qua cánh cửa.
“Đi thôi!” Cô rít lên. “Đây là con đường dẫn tới Đồng bằng Người chết.”