Tiếng va đập lanh canh làm tôi thức giấc. Trong phòng vẫn còn tối, nhưng từ khung của sổ nhỏ hẹp, tôi có thể thấy ánh sáng nhàn nhạt rạng trên bầu trời. Nhớ lại mệnh lệnh của người đầu bếp rằng phải có mặt khi bếp vừa nổi lửa, tôi vội vàng ngồi dậy. Tôi vuốt ve Chendana, cảm thấy may mắn vì nó không phải là ngựa thật và có thể ở đây đợi tôi bao lâu cũng được. Chẳng muốn ai biết đến con ngựa, tôi đưa nó đến góc tối nhất của căn phòng rồi kéo tấm rèm che - vốn được dùng để phân cách chỗ ngủ giữa những người hầu với nhau - giấu Chendana đằng sau.
Âm thanh tôi nghe thấy hóa ra là do hai hình nhân đứng ngoài cửa sau của một gian bếp đang giội xối xả từng xô nước lớn vào nồi niêu nấu bếp. Họ không chú ý đến tôi, nên tôi bước qua họ vào trong gian bếp lớn. Lửa đã cháy đượm trong những lò than, và tôi chẳng còn thời gian để xem xét mọi việc xung quanh nữa khi người đầu bếp vỗ vai tôi. “Cô vẫn ở đây à?”
“Ông bảo cháu đến vào buổi sáng mà.” Tôi đáp.
“Ừ ta bảo thế, nhưng ta chẳng nghĩ cô sẽ có mặt.”
“Tại sao ạ?”
“À, con gái ấy mà, hay đổi ý lắm. Ta chẳng nghĩ cô lại cần phải làm thuê ở đây.”
Tôi chớp mắt, nhận ra rằng đa phần hồn ma được nhận đồ cúng tế đều có nhà cửa riêng và sẽ chẳng thèm đếm xỉa đến nơi trú thân tồi tàn như vậy. “Chỗ ở cũng được ạ.” Tôi cẩn trọng đáp.
“Thế thì bắt đầu thôi.”
Chẳng bao lâu sau, tôi nhận ra người đầu bếp không cần tôi giúp những việc lặt vặt như nhổ lông gà, rửa rau hay kì cọ nồi xoong. Ông có rất nhiều hình nhân để sai bảo. Thay vào đó, ông sai tôi đi truyền mệnh lệnh, để mắt tới đám hình nhân, và quan trọng nhất là giúp ông thử và nêm nếm các món ăn. Bữa sáng cần được chuẩn bị cho số lượng thực khách không báo trước, chúng tôi bận rộn chuẩn bị từng vạc cháo đầy ăn kèm cá tươi thái lát, đồ chiên giòn, và hàng tá trứng luộc lòng đào đựng trong tô nhỏ, cùng với xốt đậu nành và hồ tiêu. Chính tôi trong lúc hướng dẫn một hình nhân làm món bánh nướng kaya liền nảy sinh ham muốn ăn thử. Những lát bánh mì dày được đặt lên lưới sắt và nướng trên than hồng cho đến khi chuyển sang màu vàng giòn rụm. Khi đã nướng xong, chúng được phủ một lớp dày bơ và kaya - một loại xốt vàng quánh được làm từ trứng đánh tan với đường và lá dứa, sau đó trưng lên cho sánh đặc. Chẳng nghĩ ngợi gì, tôi đưa một ngón tay dính đầy xốt lên miệng, rồi dừng khựng lại khi nhớ ra lời cấm đoán của Er Lang. Tôi cũng hốt hoảng nhận ra rằng chẳng có cách nào để biết mình đã ở đây bao lâu, và thời gian trên dương thế đã trôi đi thế nào. Er Lang đã nói thời gian ở Đồng bằng Người chết và trên dương gian không khớp với nhau. Tôi lại lo lắng về thân xác bất động đang nằm ở nhà.
“Cô không cần phải nhăn nhó thế đâu, bữa sáng sắp xong rồi.” Giọng người đầu bếp làm tôi giật mình nhảy dựng. “Ôi chao, đúng là một cô tiểu thư được nâng niu chiều chuộng. Bỏ cuộc về nhà đi.”
“Cháu làm được mà.”
Ông nhìn tôi hoài nghi, “Dù gì thì người giúp việc kia của ta ngày mai sẽ quay trở lại.”
“Người giúp việc khác ấy ạ?”
“Cô nghĩ lúc nào ta cũng tự làm hết ngần này việc hay sao? Bà ấy chính là người giúp ta giám sát lũ hình nhân, nhưng có lần bà ấy va phải bà hai và làm đổ canh nóng lên người bà ấy. Bà hai đúng là một tuyệt tác. Xinh đẹp không sao tả xiết, nhưng mở mồm ra thì chẳng khác gì chó sủa.”
“Bà ấy là ai ạ?”
“Bà hai ấy hả? Bà ấy là người lão gia nhà chúng ta mê mệt lắm.”
“Cháu tưởng chủ nhân nhà này còn trẻ ạ.”
“Lão gia khi mất hưởng thọ 72 tuổi. Chắc cô đang nói về cậu chủ.”
“Tại sao ở đây lại có hai vị chủ nhân ạ? Cháu nghĩ mỗi người đều được đốt một phủ đệ riêng chứ?”
“Chắc chắn rồi, nhưng không có nghĩa là họ không thể sáp nhập chúng lại. Sự thật là đa phần tiền tài nhà này đến cùng với cậu chủ khi cậu ta qua đời. Nhưng kể cả thế, trước đây ngôi nhà này đã rất nguy nga rồi. Lão gia là ông trẻ của cậu Lim Tian Ching. Ta không biết ông nội của cậu ta sao rồi, có khi đã sớm được chuyển đến tòa án địa phủ cũng nên. Cậu ta mang đến không biết bao nhiêu là của cải! Ta cho cô biết, cha mẹ cậu ta chi không tiếc tay cho đám tang của cậu ta. Thế là lão gia và cậu ta sáp nhập hai tòa nhà lại với nhau. Để thuận tiện hơn, ta đoán thế. Mà cậu chủ cũng chẳng mấy khi ở đây.”
Giờ đây, khi việc cuống cuồng chuẩn bị bữa sáng đã xong, người đầu bếp lấy cho mình một bát cháo bốc khói nghi ngút. Ông rắc ít rau mùi và gừng lên trên, sau đó trộn cháo với xốt đậu nành và dầu vừng. “Gì vậy?” Ông hỏi, nhìn thấy ánh mắt hau háu của tôi. “Cô ăn sáng đi nếu muốn. Ở đây chẳng bao giờ thiếu đồ ăn cả.”
Tôi kéo một chiếc ghế đẩu lại gần ông và giả vờ gắp một miếng đồ chiên giòn.
“Giờ cậu ta có ở đây không ạ?”
“Sao cô lại muốn biết?”
“Cháu chỉ tò mò thôi. Cháu nghe nói cậu ta còn trẻ, chỉ khoảng bằng tuổi cháu.”
“Muốn lấy cậu ta hả?”
“Gì cơ ạ? Ôi không!”
Người đầu bếp cười khùng khục. “Thôi đi. Ngày nào chẳng có những cuộc hôn nhân được sắp đặt ở chốn âm phủ này. Vị hôn phu của cô sẽ chẳng hề hay biết.” Tôi lắc đầu quầy quậy, nhưng người đầu bếp lại nhầm lẫn sự điên tiết của tôi thành nỗi ngại ngùng. “Rồi cô sẽ đổi ý thôi. Cậu ta quả là một con cá sộp đấy.”
“Cậu ta đã kết hôn chưa ạ?”
“Ai? Cậu chủ á? Chưa hề, nhưng ngày trước họ đã chuẩn bị hôn sự rồi. Cả một phòng tiệc rộng lớn trang hoàng đầy đèn lồng đỏ và vô vàn thức ăn.”
Tôi tái mặt, nhớ lại giấc mơ khi tôi thấy mình đơn độc cùng với Lim Tian Ching trong phòng tiệc xa hoa đầy những đèn lồng đỏ. Đó chính là lúc y bắt tôi phải cưới y, và tôi đã trốn chạy, ép mình phải tỉnh giấc từ cõi mộng khói sương mờ ảo ấy. Nhưng người đầu bếp vẫn tiếp tục chuyện trò.
“Lần đó đáng lẽ là một bữa tiệc cưới. Nhưng sau đấy cậu ta đã giận điên người. Ta nghĩ là cô dâu không đến.”
“Cô ấy không đến ạ?” Tôi hỏi nhỏ.
“Nếu cô hỏi thì ta nói cho cô hay, nghe nói cô ấy vẫn còn sống. Cô có thể tưởng tượng được cậu ta to gan đến thế nào không? Ngay các phán quan địa phủ cũng chẳng tán thành cuộc hôn nhân như thế. Ôi, có thể họ sẽ đặc cách nếu người đã chết và người còn sống yêu nhau say đắm, nhưng nói chung đó là minh chứng cho tất cả mọi người thấy rằng Lim Tian Ching được o bế đến mức nào.”
Tai tôi vểnh lên với thông tin ấy. “Làm thế nào mà cậu chủ lại có quan hệ tốt với họ vậy ạ?”
“Làm sao ta biết được.” Ông đặt ngón tay lên cạnh mũi, cười gian trá. “Ta không nói nữa đâu, ta còn muốn giữ chỗ của mình. Chà, người giàu cành ngày càng giàu hơn, còn người nghèo cứ tiếp tục bị giẫm đạp xuống mãi, chẳng khác gì lúc ta còn sống.” Người đầu bếp vét sạch bát cháo của mình rồi nhấc thân hình khỏi chiếc bàn. “Cô đang ở đây thì tiện thể hãy mang cho phụ tá của ta chút đồ ăn sáng. Đáng lẽ ta định sai một hình nhân đi thay, nhưng chúng bận mất rồi.” Ông liếc ra sân, nơi ba hình nhân đang bận rộn làm thịt một con lợn to tướng. Con vật ấy không hề giống lợn thật, nó đứng im lìm cho những hình nhân xẻ thịt. Kể cả khi bọn họ xả ra từng tảng thịt đùi và vai, con lợn vẫn chẳng hề phản ứng, thậm chí chẳng đổ giọt máu nào. Khi tôi đang quan sát, một hình nhân chặt bay cái thủ lợn nặng nề xuống rồi đặt lên hòn đá, mặc kệ đôi mắt nó vẫn điềm tĩnh chớp chớp. Cố nén cơn rùng mình, tôi cầm cái khay lên, bên trên đặt một tô cháo và một ấm trà.
“Phòng bà ấy ở gần phòng cô, nhưng là phòng riêng chứ không phải phòng tập thể.” Người đầu bếp nói. “Nhanh lên! Ta muốn cô quay về đây sớm để chúng ta còn kịp làm bữa trưa.”
Tôi ra khỏi khoảng sân, cố không nhìn cảnh mổ lợn không bắn một giọt máu ấy. Dù Er Lang không cảnh báo tôi về việc ăn đồ ăn ở đây thì cảnh tượng này cũng đủ làm tôi chẳng dám ăn gì nữa. Không hề giống đồ ăn lão Wong từng làm cho tôi, con lợn này chắc chắn chỉ là đồ vàng mã. Chẳng lạ gì khi người đầu bếp than thở rằng đồ ăn nơi đây không có hương vị. Tôi lần mò về khu nhà của người hầu, cố gắng tập trung để không làm đổ món cháo nóng bỏng. Cổ tay tôi tê rần và tôi bắt đầu hiểu tại sao ban đầu người đầu bếp không muốn nhận tôi. Quả thật cần phải có sức khỏe mới mang được thức ăn từ nhà bếp tới phòng tiệc. Khi tới được khu mình ở, tôi nhìn xung quanh. Đêm qua trời quá tối nên tôi không nhận ra còn ai sống ở đây không nữa, giờ thì nhìn thấy một cánh cửa khác nên tôi đi tới đó.
Khoảng sân vắng lặng sáng lòa đến mức những bóng râm điểm xuyết trên đá lót đường trông như những bức tranh cắt tỉa từ giấy. Tôi đặt khay xuống, rồi dè dặt gõ cửa. Sự im ắng làm tôi tin chắc rằng chẳng có ai ở đây, nên tôi giật bắn mình khi nghe thấy tiếng hỏi.
“Ai đấy?”
Tôi thở dài. Trong quãng thời gian ngắn ngủi bị tách rời khỏi thân xác, tôi luôn được tiếp đón bằng cách hành xử thiếu lễ độ. Có lẽ vì ở cõi âm này, tôi đơn thuần chỉ là một hồn ma vất vưởng, không khá hơn một người ăn xin trên cõi trần là bao.
“Cháu là người mới ạ.” Tôi nói. “Cháu mang bữa sáng cho bà.”
Cánh cửa mở và một người phụ nữ bé nhỏ già nua bước ra. Tôi giật mình khi thấy bà, choáng váng vì bà giống hệt vú. Bà cũng có dáng vẻ như chim chích, đôi mắt đen sáng rực, và mái tóc muối tiêu búi tó. Nhưng nhìn kĩ, đường nét trên gương mặt bà có điểm khác biệt. Mắt to hơn một chút, mũi cao hơn một chút. Nhưng, hệt như vú, bà cũng mặc bộ đồng phục đen trắng phổ biến ấy. Ấn tượng ban đầu, cùng độ tuổi của bà, gợi cho tôi nhớ về vú, họ giống nhau lạ lùng. Có khi bà là chị gái của vú. Khi đã bớt kinh ngạc, tôi nhận ra người phụ nữ kia cũng đang nhìn mình chằm chằm.
“Tên cô là gì?” Bà hỏi.
“Cháu là hầu gái thứ sáu ạ.” Tôi đáp, ghi nhớ lời dặn không được nói tên của người đầu bếp.
“Nhưng cô đến từ gia đình nào?”
“Cháu họ Chen ạ.” Tôi nói dối, than thầm về thói tọc mạch cố hữu của các bà già. Thật chẳng hay hớm gì nếu tin tức về thân thế của tôi lọt đến tai chủ nhân ngôi nhà này.
“Họ Chen à… Tôi đang tự hỏi cô có họ hàng gì với một người bạn của tôi hay không?”
“Ôi, dì ơi, chắc không đâu ạ.” Tôi đáp, gọi bà một cách thân mật. “Nhà cháu chuyển đi khỏi Negri Sembilan, mới đến Malacca thì cháu qua đời.”
Bà gật đầu lơ đãng. “Có một cái bàn xếp trong nhà. Cô mang đặt ở đó hộ tôi được không?”
Tôi nhìn xuống, nhận ra hai cánh tay của bà bị cuốn trong băng gạc. “Dì làm sao vậy ạ?”
“Không sao cả, bị bỏng chút thôi.” Bắt gặp ánh mắt tôi, khóe miệng bà hơi cong lên. “Bây giờ vết thương lành lại nhanh hơn khi còn sống.”
“Có đau không ạ?”
“Có chứ, nhưng ở nơi này chẳng bao giờ có chuyện nhiễm trùng, nên cũng chẳng lo bị hoại tử. Suy cho cùng thì chúng ta đã chết rồi mà.”
Đây là lần thứ hai bà nhắc đến cái chết trong cuộc trò chuyện ngắn ngủi của chúng tôi, và điều đó có vẻ trái ngược với việc lảng tránh chủ đề cái chết của các hồn ma khác.
“Chắc hẳn đó là một tai nạn tồi tệ.” Tôi đáp.
Bà khịt mũi. “Tai nạn hả? Bà hai hắt canh vào người tôi. Mấy ngày trước bà ta lên cơn điên. Cô nên tránh xa bà ta ra.”
Tôi vào trong phòng, kéo ra một chiếc bàn xếp và ghế đẩu ọp ẹp. Căn phòng này nhỏ hơn nhiều so với phòng của tôi, vì chỗ tôi được thiết kế để cho ba, bốn cô hầu cùng ở. Dù đơn sơ, nhưng căn phòng rất sạch sẽ tươm tất. Chẳng có gì ngoài một chiếc đệm rơm, một rương gỗ và vài bộ quần áo gấp gọn gàng. Tôi dựng bàn ghế bên ngoài cho bà ăn sáng.
“Cô không cần phải đợi tôi đâu.” Bà nói.
“Cháu không phiền đâu ạ.” Tôi thành thật nói. Có điều gì đó ở người phụ nữ già nua này làm tôi thấy dễ chịu. Có lẽ vì bà và vú khá giống nhau, hoặc đơn giản là ngoài sự cảnh giác ban đầu, bà có vẻ thân thiện.
“Lão đầu bếp không tệ lắm đâu.” Bà nói khi bắt đầu ăn. “Lão hơi thôi lỗ một chút, nhưng sẽ không cố lợi dụng cô như những kẻ khác.”
“Dì đã ở đây bao lâu rồi ạ?”
“Lâu lắm rồi. Khó có thể nói rõ đã bao nhiêu thời gian trôi qua ở chốn này. Còn cô?”
Tôi kể cho bà cùng một câu chuyện tôi kể cho người đầu bếp, rằng mình cần việc làm và không có nơi để ở. Bà khẽ gật đầu, “Nếu cô muốn ở lại nhà bếp và tránh xa khỏi phòng ngủ của chủ nhân thì nên quay về ngay đi. Lão đầu bếp rất hay sốt ruột. Nhưng đừng lo, bảo lão rằng tôi sẽ quay lại làm việc sớm thôi.”
Tôi vội vàng quay lại nhà bếp, đột nhiên căng thẳng vì đã đi quá lâu. Tôi muốn hỏi thêm về bà hai bí ẩn đã làm bà bị bỏng. Từ tận đáy lòng, tôi rầu rĩ khi cảm thấy được mình đoán ra được vị phu nhân ấy là ai. Quay lại nhà bếp, tôi thấy con lợn đã được chia thành từng súc thịt vuông vắn. May thay, chẳng thấy cái thủ lợn đâu, nhưng khi nhìn vào mấy cái nồi vĩ đại, tôi hi vọng người đầu bếp không bắt tôi mở nắp chúng ra để xào nấu. May cho tôi là ông đang bận. Giờ đã đến lúc tất bật chuẩn bị cho bữa trưa, và ông đang quát tháo, sai phái các hình nhân rửa rau cỏ, thái nguyên liệu và xào nấu điên cuồng. Tôi lén lút đi ra sau lưng ông và xin lỗi vì đã về trễ.
“Lần sau đừng có mất tăm mất tích như thế!” Ông nói mà không nhìn vào mặt tôi. Rồi ông hỏi tiếp. “Bà ấy thế nào?”
“Người phụ nữ lớn tuổi ấy ạ?”
“Cô có thể gọi bà ấy là dì ba. Ai cũng gọi thế. Bà ấy là người thứ ba chúng ta thuê được, hoặc ít nhất là theo những gì ta biết.”
“Dì ấy nói sẽ quay lại làm việc sớm ạ.”
Ông quay ra, “Ít nhất bà ấy không bị mù. Ta nghĩ bát canh hẳn phải làm bà ấy lột hết cả da mặt ấy chứ.”
“Sao bà ấy lại làm thế ạ?”
“Bà hai á? Không vì gì cả. Có khi là vì bà ta buồn chán. Bà ta là như thế mà. Nếu bà ta không quá xinh đẹp thì ta nghĩ lão gia đã sớm đuổi bà ta đi từ lâu. Nhưng có điều gì đó ở bà ta, có khi bởi vì ta là một người đàn ông, nhưng đến ta cũng không thể từ chối bà hai nếu bà ấy nhảy lên giường ta.” Ông cười phá lên đầy thô tục và bảo tôi đi xem mấy món ăn. “Đây thường là việc của dì ba. Thử xem cô có làm được không.”
Vài ngày tiếp theo trôi vụt qua khi tôi bận bịu làm việc. Dù mỗi sáng tôi đều thay sang bộ đồng phục dành cho các bà vú gồm áo trắng và quần vải đen, nhưng tôi phát hiện ra mỗi tối tôi lại mặc quần áo của chính mình. Có khi là vì bộ đồng phục chỉ là đồ đi mượn, không giống bộ đồ ngủ được thay mỗi ngày của tôi, điều đó làm tôi nhớ ra vú vẫn đang chăm lo cho thân xác của tôi ở nơi nào đó tại xứ Malacca thực sự. Nhưng dù mặc trang phục nào, tôi luôn giữ chiếc vảy của Er Lang trong túi áo. Tôi chẳng biết dùng nó vào việc gì, nhưng sức nặng cùng hơi lạnh của chiếc vảy làm tôi thấy an tâm. Công việc ở nhà bếp là một chuỗi lặp đi lặp lại đến vô tận, trong một không gian chẳng có lấy một mùi hương. Thiếu đi mùi thức ăn quyến rũ, những món ăn trước mắt chẳng khác gì vật mẫu bằng sáp. Tôi cố đào bới thêm thông tin từ đầu bếp, nhưng ông chỉ toàn nói những chuyện không đâu. Lão quản gia có vẻ là nguồn tin hữu ích hơn, nhưng mỗi lần đến nhà bếp, ông ta đều vội vã, chẳng hề để ý tới tôi.
Chỉ còn vài ngày nữa là đến hẹn phải gặp Fan, tôi hối hận vì đã không xin làm việc khác ở nội phủ họ Lim. Nếu sắm vai hầu bàn hay người lau dọn, có lẽ tôi đã có cơ hội nghe ngóng ở nhà chính. Và như thế, cứ mỗi ngày trôi qua, tôi lại thêm căng thẳng và tuyệt vọng.
Đến ngày thứ ba, dì ba trở lại làm việc, dù băng gạc vẫn cuốn đầy hai tay. Người đầu bếp rất kinh ngạc khi nhìn thấy bà.
“Làm sao phải ngạc nhiên thế?” Bà hỏi. “Tôi đã nói với ông là sẽ trở lại nhanh thôi mà.”
“Chà, tôi chẳng nghĩ bà lại làm thế thật.”
“Thế ông nghĩ tôi phải làm gì? Ngồi lì trong phòng và nhìn chằm chằm vào bốn bức tường à?”
Ông nhún vai, nhưng vẫn đòi xem cánh tay bà bằng được.
“Tôi bảo là lành rồi mà.” Bà nói, nhưng khi người đầu bếp kéo một góc băng gạc ra, tôi cau mày. Da bà bị lột hết ở những chỗ bị giội canh, dù vết thương chẳng hề chảy máu, tấy đỏ hay mưng mủ.
“Tôi không nghĩ bà nên làm việc ngay bây giờ.” Ông nói.
“Nếu ông đang lo ngại về bà ta, thì tôi biết cách để tránh xa.” Bà đáp rồi quay lưng đi. Tôi nhìn dáng điệu như chim chích của bà, vừa thương xót lại vừa thấy tò mò. Dáng người nhỏ thó, kiên cường trong bộ đồ đen trắng ấy khiến tôi nghĩ về vú, nỗi nhớ nhà trở nên rõ ràng như có thể sờ nắn được.
Hai ngày sau, thời cơ đến. Trong bữa tối, lão quản gia đột nhiên xuất hiện ở nhà bếp. “Một đĩa cá hấp nữa, nhanh lên!” Ông ta rít lên.
“Chuyện gì xảy ra vậy?”
“Hai hình nhân va vào nhau. Giờ chúng ta thiếu một món, mà lão gia lại đang có khách.”
“Có khách à?” DÌ ba hỏi từ phía sau người đầu bếp.
Quản gia giật mình trước câu ngắt lời ấy. “Ồ, bà đấy à. Tôi định yêu cầu bà phục vụ bàn, nhưng bà biết vụ lần trước đấy. Mà hôm nay phu nhân còn không vui vẻ gì.”
“Loại khách nào?” Dì ba hỏi tiếp.
“Bà biết đấy.” Ông ta đáp. Ba người họ liếc nhìn nhau. “Chẳng có hình nhân nào ở đây được huấn luyện để phục vụ khách khứa đâu. Ngoài kia không còn ai à?” Người đầu bếp hỏi.
“Chúng ta đang thiếu người phục vụ lắm. Vài hình nhân còn bị phá hủy trong lần tiệc tùng trước mà chưa kịp thay thế.”
“Để cháu phục vụ ạ.” Tôi nói.
Họ cùng quay sang nhìn tôi. “Không!” Dì ba kêu lên, nhưng lão quản gia đã ngắt lời bà.
“Ta quên mất cô.” Ông ta nhìn tôi cân nhắc. “Ừ, cô được đấy.”
“Con bé chẳng biết cư xử thế nào đâu!”
“Tiệc đêm nay cũng không long trọng lắm. Chỉ có mỗi lão gia thôi. Cậu chủ vẫn đi vắng chưa về.”
Tim đập liên hồi, tôi vuốt phẳng tạp dề và trình bày lần nữa về lòng sẵn sàng phục vụ.
“Được rồi,” cuối cùng lão quản gia nói, “Nhưng nhanh lên! Chúng ta đang giữa buổi tiệc rồi, ta đã phải bảo đám nhạc công chơi nhạc trước.” Nắm lấy khuỷu tay tôi, ông ta kéo tôi ra khỏi nhà bếp, thì thầm hướng dẫn. “Những hình nhân sẽ mang đồ ăn từ bếp lên chạn thức ăn, còn ta sẽ bày biện các món ăn lên bàn. Cô đứng một bên để sắp xếp phần ăn cho từng vị khách và để mắt đến lũ hình nhân cho ta. Đám ấy không thể trông cậy được. May là cô không phải đến gần bàn ăn đấy. Đã hiểu chưa?”
Tôi gật đầu, nhưng lại sợ ông ta không thể nhìn thấy mình trong hành lang tù mù liền nói thêm “Vâng, thưa ông” cho chắc. Tôi rất muốn hỏi những vị khách kia là ai, nhưng trông ông ta chộn rộn đến mức tôi nghĩ tốt hơn mình nên ngậm miệng lại. Điều làm tôi an tâm là Lim Tian Ching không có mặt ở đây, dù thật ra tới thời điểm này, tôi đã mong ước tìm được thông tin đến mức chẳng còn nề hà y có mặt ở đây hay không. Khi chúng tôi rảo bước trên hành lang, tôi nhìn quanh xem liệu có chỗ nào trốn được. Tôi đã từng cố lẻn vào nhà chính, nhưng cứ tối xuống là đầu bếp khóa cửa thông từ bếp lên đây. Giờ tôi đã sang được phía bên này, có thể tôi sẽ tìm ra một vị trí náu mình trước khi ông kịp khóa cửa.
Phòng tiệc được thắp sáng bởi cơ số đèn dầu. Bộ ba hình nhân đang diễn tấu - hai người chơi đàn nhị và một người chơi dương cầm. Cảnh tượng này làm tôi sởn gai ốc. Lần cuối cùng tôi xem nhạc sống là lễ Thất tịch tại dinh thự nhà họ Lim trên dương gian, cũng được thưởng thức tam tấu y hệt thế này. Liệu đó có phải là sự giống nhau kì quái giữa cõi âm và cõi dương hay không? Tôi nghĩ đến dì ba trong bếp và điểm tương đồng giữa bà với vú, tự hỏi liệu những điều trùng hợp này là có chủ ý hay chỉ đơn giản là một phần trong sự tương đồng đặc biệt giữa hai thế giới.
Tôi chẳng có thời gian để tiếp tục suy nghĩ vẩn vơ vì đã bị lão quản gia đẩy vào phòng tiệc. Khách khứa đang dùng bữa, và qua chồng đĩa xếp trên chạn đồ ăn, tôi hiểu bữa tiệc còn lâu mới kết thúc. Thầm thì nốt với tôi mấy lời dặn dò cuối, lão quản gia vội vàng bưng món cá hấp đi về phía bàn tiệc. Ông ta đặt chiếc đĩa lên bàn một cách gọn ghẽ và khéo léo gỡ xương cho các vị khách đang chờ đợi, luôn mỉm cười và cúi đầu với họ. Đây chắc là bàn chính, tôi cho là thế, vì ông ta phục vụ họ đầu tiên. Tôi cố rướn cổ để nhìn những người ngồi quanh bàn. Có mười người ngồi đó: hai trong số họ to lớn khủng khiếp đến độ nuốt chửng những người xung quanh. Tôi hoảng hốt tột cùng khi nhận ra hình dáng to lớn gù lưng và cặp sừng lừng lững của quỷ đầu trâu.