Tôi thức dậy khi trời dần sáng. Giống như ngày hôm trước, chẳng hề có bóng mặt trời, đơn thuần chỉ là sự biến đổi của màu sắc bầu trời, như thể một bức màn che trên sân khấu. Gió thoảng qua đám cỏ khô, và một lần nữa tôi lại choáng váng trước sự hoang vu, tuyệt nhiên không có dấu hiệu sự sống của nơi này. Gần đó, tôi thấy Fan đang nằm nghiêng, mở mắt. Tôi tự hỏi cả đêm cô có chợp mắt chút nào không. Dù sao, tôi vẫn cảm thấy may mắn vì đã được nghỉ ngơi, dù bắt đầu lo lắng cho tình trạng hiện giờ của thân xác đang nằm ở cõi dương gian xa xôi. Nếu có mệnh hệ gì xảy ra với thân xác ấy, liệu có dấu hiệu nào để cảnh báo cho tôi không? Hay là tôi sẽ bị cắt đứt mối liên hệ linh hồn thể xác, và mãi mãi lang thang nơi đồng cỏ vô cùng vô tận này?
Khi chúng tôi đã sẵn sàng, Fan ra lệnh cho người hầu của cô di chuyển. “Chúng ta gần đến nơi rồi.” Cô quay lại nói với tôi.
Tôi giục Chendana tiến bước. “Làm sao chị biết?”
“Ồ, ta cảm nhận được mỗi khi đến gần thị trấn hay làng mạc. Giống như chúng đang lôi kéo ta vậy.”
“Nhưng em chẳng thấy gì cả.”
Fan cười phá lên. Trông có vẻ vui tươi hơn ngày hôm trước. “Vấn đề không phải thấy hay không! Các thị trấn sẽ xuất hiện ở đúng vị trí của chúng. Đó là lí do ta cần đến người hầu, họ sẽ tìm giúp. Và cũng là lí do khiến lũ ma đói không thể tới đây, vì chúng chẳng có chút đồ cúng tế nào để dẫn đường.”
Ngoái lại phía sau, tôi thấy dãy đồi nơi chúng tôi bước vào Đồng bằng đã ở tít tận đâu, giờ chỉ còn là những khối nhỏ phía chân trời chứ không lừng lững sau lưng nữa. Tôi bất ngờ trước quãng đường chúng tôi đã đi được. Trong thế giới thực, quãng đường đi trong sáu, bảy giờ chẳng thể nào bằng nổi quãng đường chúng tôi đã đi qua. Điều đó khiến tôi thấp thỏm nghĩ về thời gian ở chốn này.
“Đây rồi!”
Trước mắt là một vầng sáng nhạt, nó trở nên rõ hơn khi chúng tôi tiến lại gần. Sương mù dày đặc vây lấy chúng tôi một hồi rồi tan loãng, tôi bắt đầu trông thấy những đường nét lờ mờ của phố xá nhà cửa, và con đường chúng tôi đang đi dần trở thành một đại lộ thênh thang. Nơi đây có những cửa hiệu và tòa nhà trông quen thuộc lạ lùng. Cuối đường thấp thoáng một tòa nhà không khác gì Stadthuys, và ở phía khác là một hải cảng ken dày tàu chở hàng kiểu cũ và các chiến hạm. Nơi này có vẻ giống Malacca, nhưng rộng lớn hơn nhiều và thiếu vắng những mảnh vôi vữa rơi rụng trên đường phố. Nhiều tòa nhà biến mất, trong khi nhiều tòa nhà khác được thay bằng những kiến trúc rối rắm kì dị. Đường phố rộng lớn và vắng vẻ, những con người lác đác tôi nhìn thấy thì ở mãi phía xa.
“Mọi người đang ở đâu?” Tôi hỏi.
“Nơi đây dân cư không đông đúc lắm.” Fan nói. “Hồn ma thường xuyên phải ra đi khi bị tòa án địa phủ triệu gọi.” Cô quay sang tôi, “Giờ cô tính làm gì tiếp theo?”
Tôi nói với cô rằng mình còn nhiều việc phải làm, và cố gắng hết sức không để lộ điều gì. Tôi sợ Fan sẽ đòi đi theo, nhưng cô có vẻ không hứng thú cho lắm, chỉ bảo rằng cô muốn về nhà. “Một túp lều thì đúng hơn. Giờ cô trả tiền cho ta được chưa?”
Tôi đã chuẩn bị trước cho yêu cầu này, bèn đưa cô hai xâu tiền cùng vài thỏi bạc, còn lại một ít thì giữ phòng khi cần kíp. “Có chừng này thôi à?” Cô chun mũi.
“Em e là thế.”
“Ừ, thôi, dù sao cũng cảm ơn. Cô có cần ta chỉ đường lúc quay về không?”
“Chị sẽ ở lại đây bao lâu?”
“Ta nghĩ chừng mười ngày. Ta có chút việc nhà phải giải quyết.”
“Nếu chị chỉ cho em nhà chị ở đâu, em sẽ tới vào buổi trưa ngày thứ mười, hoặc không tới được thì em sẽ gửi lời nhắn.”
“Nếu cô không đến, ta sẽ về một mình. Ta không dám ở lại đây quá lâu.”
Tôi đồng ý và thật ngạc nhiên, chỉ mất một lúc chúng tôi đã tới nhà cô. Những con đường ngoằn ngoèo dần hiện ra trong màn sương, chúng uốn khúc quanh co đến mức tôi sợ rằng mình sẽ không tìm được đường về. Nghe tôi thú nhận điều đó, cô cười phá lên.
“Bởi thế chúng ta mới cần người hầu. Các tòa nhà thay đổi khi cư dân cũ rời đi, và các linh hồn mới xuất hiện với đồ cúng tế mới. Nhưng không sao, con ngựa của cô sẽ nhớ đường.” Fan ra hiệu dừng lại.
“Đây, nhà của ta đây.” Cô nói. Nó chẳng đến nỗi tệ như cô tả, mặc dù khá tối tăm và có hình hộp. Tôi đồ rằng ban đầu nó là một mô hình bằng giấy đơn giản. Fan mời tôi vào, nhưng tôi từ chối. Không hiểu sao tôi không muốn đi qua khung cửa hẹp đó.
“Sao cô không sống cùng ta trong thời gian ở đây nhỉ?” Fan gặng hỏi.
Tôi quanh co từ chối. Sự bộc tuệch của cô làm tôi khó chịu, và tôi thấy hối hận vì đã trót để lộ vài điều.
Sau khi chia tay Fan, tôi dắt Chendana đi lang thang trên đường phố một lúc. Tôi vừa rảo bước vừa tìm kiếm những nơi chốn quen thuộc. Nhớ lại hình ảnh Stadthuys khi nãy, tôi nghĩ nếu mình tìm lại được tòa nhà ấy, chắc tôi sẽ biết rõ hơn mình đang ở vị trí nào. Sơ đồ ông già Hà Lan vẽ cho tôi vẫn in rõ trong tâm trí.
Cuối cùng, tôi nhìn thấy Stadthuys, nhưng dù cố cách mấy, tôi cũng không thể đến gần nó. Dù đã thử đi qua vài con phố khác nhau và thấy tòa nhà ở cuối đường, nhưng khi tôi tới gần thì nó lại biến mất. Hễ tôi quay đi, tòa nhà lại hiện ra như một phép lạ, ở ngay góc đường hay cuối ngõ. Chán nản, tôi nghĩ đến việc hỏi thăm những người đi đường ở phía xa. Tôi tiến đến gần một cỗ kiệu được trang hoàng lộng lẫy, nhưng chiếc rèm buông kín khiến tôi ngập ngừng, nhớ lại mình đã từng thấy Lim Tian Ching trên đường phố, và y cũng có một cỗ kiệu giống hệt thế này.
Tôi còn đang ngần ngừ, tấm rèm đã bị gạt mạnh và một gương mặt nhăn nheo xuất hiện.
“Cô muốn gì?” Ông già hỏi. “Một cô gái trẻ lại đi lung tung một mình? Nhà cô nghĩ gì thế không biết?”
Tôi chỉ biết lắp bắp trước tràng câu hỏi, nhưng ông già đã mở cửa và trèo ra ngoài kiệu. “Mới chết phải không?” Da ông nhăn nheo, lưng còng đi vì tuổi tác. Trên chiếc cổ gầy nhẳng là cái đầu nhấp nhô như phao câu cá. Nhưng ông ta nhanh nhẹn lạ thường, đi lòng vòng quanh tôi với vẻ hứng thú.
“Ngựa tốt đấy.” Ông ta nói. “Giờ họ chẳng làm những con ngựa như thế này nữa, toàn ngựa bằng giấy rẻ tiền thôi, thậm chí đến bìa cũng chẳng có!”
“Xin ông làm ơn,” tôi nói, “Cháu chỉ muốn hỏi đường thôi ạ.”
“Cô muốn đi tới đâu?”
“Cháu đang muốn tới Stadthuys ạ.”
Ông già khịt mũi, “Stadthuys! Làm gì có nơi đó ở đây.” Trước vẻ ngỡ ngàng của tôi, ông nổ ra một tràng cười khùng khục. “Cô nhìn thấy nó vì nó vẫn hiện hữu như một kí ức chung. Tất cả chúng ta ở đây, những người đã sinh ra và chết đi ở Malacca đều hi vọng sẽ nhìn thấy Stadthuys và tháp chuông đồng hồ, nhưng cô không thể đến đó vì chẳng ai đi đốt vàng mã hình Stadthuys cả. Ôi chao! Đáng lẽ ta phải bảo con cháu đốt cho ta một cái, như vậy chẳng phải ta sẽ thành chủ nhân duy nhất của nó sao. Nhưng còn cô, tiểu thư trẻ tuổi, cô làm gì ở đây mà chẳng thấy bóng dáng người hầu đâu? Gia đình cô là ai? Cô sống ở chỗ nào?”
Dù ông già cư xử thật kì cục, tôi vẫn hi vọng khai thác được chút thông tin hữu ích ở ông ta, nên lại cố hỏi, “Ôi ông ơi, cháu chỉ đang tò mò làm quen với mọi thứ thôi. Cháu vẫn còn lạ nước lạ cái, ông thấy đấy.”
“Cứ hỏi đi, nhưng đổi lại cô phải kể cho ta nghe về bản thân. Để ta giải khuây một chút, như thế mới công bằng chứ.”
“Ở đây có giống Malacca thật không ạ?”
“Tất nhiên là giống rồi! Ít ra là gần giống. Nhưng khoảng cách thì không hề thực tế chút nào.” Ông cười xảo quyệt. “Cô có thể mất cả ngày để đến nơi này nhưng lại chỉ mất vài phút để đến nơi khác. Đó là do mối liên hệ giữa các vật thể. Mọi thứ ở đây đều có dây mơ rễ má với nhau. Nhà của cô, người hầu của cô, trang phục của cô… tất cả đều phụ thuộc vào tấm lòng mà người trần cúng cho cô. Nhìn ta đây! Khi chết đi, ta chẳng muốn thứ gì. Vài đứa con cháu của ta còn tới đền chùa cầu khấn cho ta có thêm thời gian để hưởng thụ những thứ xa hoa này, nhưng cô biết điều gì xảy ra không?”
Tôi giật bắn mình vì ông đột ngột cao giọng, và từ xa tôi thấy nhiều người bộ hành rảo bước tránh qua hướng khác. Tôi tự hỏi có phải mình đã chạm trán một lão điên không, rồi dè chừng lùi lại một bước.
“Ta đã mắc kẹt ở đây biết bao nhiêu năm trời!” Ông ta gầm lên bực tức. “Cô có thể tưởng tượng nổi không, thậm chí mấy đứa chắt của ta đã chết và đi tới tòa án địa phủ cả rồi!” Đôi mắt anh nhìn tôi sắc lẻm. “Nào, giờ thì tại sao cô lại muốn tới Stadthuys?”
“Cháu chỉ tò mò thôi ạ.” Tôi đáp. “Khi còn sống cháu chẳng bao giờ được ra khỏi nhà.” Trông ông ta có vẻ thỏa mãn với câu trả lời nên tôi hỏi tiếp. “Ông vừa nói là những căn nhà sẽ nằm y nguyên vị trí cũ như trên dương thế ạ?”
“Ừ đúng, đa phần là thế. Có những người nghèo khó trên trần, sau khi chết đi được đốt cho nhiều vàng mã nên trở thành kẻ giàu có ở đây. Tuy nhiên đến khi bị gọi lên tòa án, tất cả tài sản đều sẽ bay biến. Cô định tới thăm ai à?”
Tôi không thể cưỡng lại được ao ước của mình. “Cháu có một người bạn được gả vào nhà họ Pan và sinh được một đứa con gái, nhưng chẳng bao lâu thì cô ấy qua đời.”
“Hừm, một gia đình kinh thương lâu đời. Ta chẳng biết ai ở nhà đó cả.”
Thấy mặt tôi tràn trề thất vọng, ông ta liền cười như nắc nẻ. “Đừng thất vọng sớm thế, cánh đàn bà sống khép kín lắm. Có khi cô ta vẫn ở đây đấy. Ta nghĩ bên khu thương nghiệp họ vẫn còn một, hai căn nhà gì đó.”
Tôi cúi gằm xuống để giấu đi cảm xúc đang chộn rộn trong tim. Liệu có khả năng mẹ tôi vẫn còn ở đây không? Tôi thoáng rùng mình, chẳng nghe thấy những lời rầu rĩ của ông già.
“Nói ta nghe, làm sao cô chết?” Ông lặp lại. “Ta muốn biết mọi điều về cô, chết trẻ mà lại xinh đẹp như vậy.” Mớ da thừa trên cổ ông già rung rinh như hầu gà.
“Cháu bị ngã.” Tôi đáp vội. “Trời tối lắm nên cháu ngã cầu thang.”
Trông ông ta có vẻ thất vọng. “Có ai đẩy cô ngã à?”
“Có thể lắm. Chị họ cháu ghen tị với cháu. Cả hai cùng thương mến một chàng trai.”
Tôi vội vàng miêu tả qua loa cho ông ta nghe về cô gái mặt ngựa và cơn ghen tuông cực hạn mà chúng tôi phải chịu đựng vì một tình lang vô danh. Điều này ít ra cũng là sự thật. Nửa chừng tôi dừng lại, “Những gia tộc lâu đời của Malacca có ở đây không ạ?”
“Có chứ, thậm chí cả những gia tộc tuyệt tự tuyệt tôn.” Ông kể vài cái tên và tôi chăm chú lắng nghe, may sao lại có nhà họ Lim trong số ấy. Như vậy tìm kiếm dinh thự của Lim Tian Ching sẽ dễ dàng hơn.
“Cô kể tiếp đi,” ông già liếc mắt đểu cáng, “Kể cho ta nghe về chị họ cô đi. Cô có tranh cãi với cô ấy không?”
Tôi nghĩ thật nhanh, “Ôi có chứ, hai bọn cháu đã cãi nhau nhiều đến mức có lần cháu và cô ta lăn lộn trên giường cắn xé quần áo nhau. Nhưng ông nói cho cháu biết đi, giờ chúng ta đều đang ở Đồng bằng Người chết, có ai được hộ tống riêng không ạ? Cháu nghe nói người ta có thể mua chuộc cả công sai âm giới.” Giọng tôi chùng dần xuống, sợ rằng mình đã hỏi quá nhiều.
“Vớ vẩn! Chẳng ai có thể mua chuộc công sai âm giới cả.” Ông ta nhìn tôi với vẻ nghi ngờ, đến mức tôi phải vội vàng rời đi. Mặc dù thế, ông già vẫn bám theo tôi đến tận cuối con đường, tới khi tôi tìm được cách để cắt đuôi kẻ háo sắc ấy. Ông ta có vẻ vô hại, hơi có chút điên rồ, nhưng tôi tự hỏi liệu ông ta có đang đùa giỡn với mình không. Nhưng phân vân về chuyện đó cũng chẳng sch gì. Ít nhất tôi đã biết rõ hơn mình có thể tìm thấy Lim Tian Ching ở đâu.
Đi ngược lại một quãng, tôi hướng về phía khu thương nghiệp. Đó là nơi có dinh thự nhà họ Lim, và khả năng có cả ngôi nhà của tổ tiên tôi. Tôi đấu tranh tư tưởng trong đầu, thấy bực tức với chính mình. Thời gian không có nhiều và tôi phải tới nhà họ Lim, nhưng tôi lại ngập ngừng khi nghĩ đến gương mặt mẹ, gương mặt tôi vẫn thường mơ thấy nhưng chẳng cách nào nhớ được. Khi còn sống, chưa bao giờ bà cho họa chân dung mình. Bà rời xa tôi đã quá lâu, lâu đến mức tôi không còn biết những kí ức của tôi về bà là do tôi nhớ được, hay chắp nhặt từ những câu chuyện của vú. Tôi thúc Chendana sang hướng nhà mình. Tôi sẽ ghé qua và xem những ai đang ở đấy. Chẳng mất nhiều thời gian đâu, tôi tự nhủ.
Những con đường trở nên nửa quen nửa lạ một cách kì quặc. Có những phần trong chẳng hề giống với kí ức của tôi, nhưng lại có những khoảng không gian quen thuộc, tỉ lệ đan xen lạ lùng này khiến tôi đặc biệt chú ý. Có vài nơi lẽ ra là tòa ngang dãy dọc, nhưng ở đây chẳng có gì ngoài cây cối và đất đá. Ở chỗ khác, lại có ba hay bốn ngôi nhà to lớn co cụm lại một chỗ. Và tất nhiên, mọi thứ cách nhau rất xa, như thể những con đường cũ bị kéo giãn ra gấp đôi gấp ba về cả chiều dài lẫn chiều rộng. Trong một góc phố, nơi mà ở Malacca thật là phế tích của một căn nhà hoang, thì ở đây có cả một tòa phủ đệ. Đằng sau những cánh cửa sừng sững văng vẳng tiếng phụ nữ nói cười. Tôi rùng mình đi qua. Dù trước mắt là khung cảnh tươi vui, tôi vẫn không tài nào quên được hình ảnh căn nhà ở nhân gian với mái ngói vỡ nát và cỏ dại um tùm phá sàn mọc lên. Có những lời đồn đại về căn nhà đó từ khi tôi còn nhỏ. Có người nói rằng, một trận dịch bệnh đã cướp đi sinh mạng của mọi người trong nhà. Người khác lại nói, chủ nhân cuối cùng của căn nhầ đã hóa điên, thảm sát toàn bộ vợ con và thê thiếp, vứt xác họ ngoài vườn cho đến khi từng viên đá ở đấy nhuộm màu đỏ máu. Hồi bé, tôi tránh không đi qua căn nhà ấy, trong đầu liên tưởng đến toàn những câu chuyện kinh dị vú kể cho nghe. Giờ đây, nhìn gia đình này đang ở thời kì hưng thịnh, tôi vừa hoảng sợ, lại vừa bị thu hút. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi gõ cửa? Tôi cố hết sức lôi mình đi. Tò mò luôn là tội lỗi tôi thường mắc phải, tôi tự nhủ như vậy.
Khi tới gần ngả rẽ vào nhà mình, cổ họng tôi nghẹn ứ. Có gì đó mách bảo tôi rằng nếu muốn trở lại với thế giới người sống, tốt nhất đừng nên biết những điều này. Nhưng tôi vẫn cố chấp tiến tới. Tôi muốn gặp mẹ. Việc này có thể sai trái đến đâu? Thoạt nhìn, đoạn tường cong bao quanh nhà tôi trông vẫn bình thường, nhưng khi bước đến cổng chính, tôi đã bị bất ngờ. Có ba căn nhà bên trong. Mỗi căn chiếm một khoảng đất giống hệt nhau mà lại không hề chồng chéo lên nhau. Tôi trân trối nhìn cho đến khi đầu óc quay cuồng. Bằng một cách nào đó mà tôi không sao hiểu nổi, và dù nhìn từ bất cứ góc nào, tôi vẫn thấy có ba căn nhà.
Đầu tiên là một dinh thự rộng lớn, khá giống với phong cách nhà tôi ở Malacca, nhưng uy nghiêm hơn nhiều. Cánh cổng chính nặng trịch phải cao gấp đôi so với cổng nhà tôi. Phía sau những khoảng sân san sát, tôi nhìn thấy những ban công tầng trên sừng sững như bia đá. Mọi thứ giống hệt ở nhà tôi, nhưng bằng một cách kinh hoàng nào đó, đã lớn phổng lên như nấm chỉ sau một đêm. Nhưng kích thước to lớn và vẻ huy hoàng không thể ngăn nổi không khí mục nát tỏa từ căn nhà ấy, như thể nó đang vỡ vụn từ bên trong. Căn nhà thứ hai kích thước trung bình, tình trạng tốt hơn nhiều. Căn nhà giống như hiện ra từ bức vẽ của một đứa trẻ, tươm tất và vững chãi, nhưng không hề có vẻ uy nghi xa cách. Cái thứ ba, thật khó để gọi là một căn nhà. Nó rất giống chỗ ở của Fan: một chiếc hộp nhỏ, dựng sơ sài chỉ bằng một khung cửa hẹp và vài cửa sổ nhỏ tối tăm. Tôi ngập ngừng trước những lựa chọn của mình, rồi xuống ngựa. Căn nhà thứ hai trông có vẻ đón chào nhất, thế nên tôi đi đến cửa chính. Hai căn nhà còn lại liền tan biến khỏi tầm mắt. Tôi gõ cửa, nhưng chẳng có tiếng trả lời. Khi tôi thử lại lần nữa thì nghe thấy một giọng khàn đặc vang lên bên cạnh.
“Cô muốn gì? Ả đi rồi, cuốn xéo rồi!”