Vậy Arthur đã được chẩn đoán mắc bệnh gì? Kỳ lạ là nhiều đứa trẻ như Arthur, với những biểu hiện rối loạn hành vi và các đặc điểm thái nhân cách, lại thường được chẩn đoán và điều trị ADHD (rối loạn tăng động giảm chú ý), vì không thể được chẩn đoán là mắc ASPD. Nhưng trong một số trường hợp, chẳng hạn như nguyên nhân thực sự dẫn đến các vấn đề trong hành vi là chứng thái nhân cách hay ASPD, thì chẩn đoán này có thể gây ra bất lợi rất lớn, bởi dẫu có biểu hiện tăng động, song trớ trêu thay, những đứa trẻ này lại có bộ não bất hoạt của một kẻ thái nhân cách, và vì thế thuốc ức chế ADHD lại phản tác dụng.
Như được thảo luận trong Chương 1, bộ não của những kẻ thái nhân cách rất khác, vỏ não trước trán gần như không hoạt động và thể hiện mức độ phản ứng rất thấp trước các kích thích. Những đứa trẻ này có thể mang các đặc điểm thái nhân cách hoặc chống đối xã hội, mất khả năng tập trung nghiêm trọng, do đó bị tụt lại phía sau ở trường học; đây không phải là dấu hiệu cảnh báo về sự kém thông minh, nhưng khi trẻ bị tụt lại phía sau các bạn cùng lứa, chúng hình thành trong đầu hình ảnh thấp kém về bản thân. Thật không may, điều này gây ra cảm giác thất vọng và càng khiến đứa trẻ đó coi thường quyền lực.
Sau đó, nhận thức tiêu cực ngày càng tăng này về bản thân thôi thúc chúng làm những việc mang lại sự hài lòng tức thì. Cũng vì vỏ não trước ít hoạt động hơn, những đứa trẻ này tìm kiếm cảm giác phấn khích và kích thích từ những hành vi ngày càng cực đoan hơn để đưa các mức độ kích thích não đạt tới mốc “bình thường”. Chúng sẽ hành động một cách bốc đồng, thường là theo hướng phá hoại và không được xã hội chấp nhận. Kiểu hành vi này sẽ khiến những đứa trẻ khác để phòng và tạo khoảng cách với chúng, nhưng đứa trẻ mang các đặc điểm thái nhân cách thường sẽ khó có thể nhận ra cảm xúc trên khuôn mặt của đối phương, và tiếp tục cản trở khả năng hình thành mối quan hệ hoặc điều chỉnh hành vi của chúng. Việc bị chối bỏ như vậy kết hợp với nhận thức tiêu cực của đứa trẻ về bản thân, đồng thời làm tăng cảm giác bị cô lập. Cảm giác cô đơn, cùng thành tích học tập kém cỏi hay sự hạn chế về các mối quan hệ, đi liền với hành vi tìm kiếm cảm giác mạnh mà chúng sử dụng để khiến những vùng não kém hoạt động của chúng sáng lên, thường dẫn đến hành vi phạm tội.
Nếu chúng ta sàng lọc trẻ để phát hiện ra những cá nhân mắc chứng thái nhân cách từ sớm, liệu quá trình điều trị có hiệu quả không? Từ Chương 1, chúng ta đã thảo luận việc làm sao những kẻ thái nhân cách từng phạm tội bạo lực có thể được cải tạo hiệu quả hơn, nhưng còn đứa trẻ có các khuynh hướng thái nhân cách thì sao? Bằng chứng cho thấy việc điều trị - dưới dạng các liệu pháp và thuốc cụ thể – có thể hiệu quả và càng bắt đầu sớm càng tốt. Nhưng cần phải nói rõ rằng, đây không phải là một phương pháp chữa trị mà là một sự điều chỉnh. Một đứa trẻ không lớn lên và trở thành kẻ thái nhân cách nếu chúng có thể học cách thích nghi với xã hội và kiểm soát những động lực thối thúc bản thân. Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn chứng thái nhân cách ở trẻ, nhưng ít ra đứa trẻ có thể đạt được “thành công về mặt chức năng”. Trước khi bạn nhăn mặt nghi ngờ rằng có lẽ tất cả những điều này nghe có vẻ hơi giống Clockwork Orange-y, hãy nghĩ rằng: Kẻ thái nhân cách không hạnh phúc hay có một cuộc sống viên mãn - chứ đừng nói đến việc họ có làm “tốt” xét về phương diện xã hội hay không. Điều trị có thể giúp họ kiểm soát tình trạng của bản thân và mang lại hy vọng họ có thể tiếp tục trở thành người có ích (và ít nguy hiểm hơn) trong xã hội.
Vấn đề là hầu hết những đứa trẻ như thế này sẽ không nhận được sự hỗ trợ hoặc điều trị cần thiết, dẫu cho việc điều trị ở giai đoạn đầu được chứng minh là ít tốn kém cho xã hội hơn rất nhiều so với những tác động mà chúng để lại nêu phạm tội trong tương lai. Một số nghiên cứu, như được đánh giá trong bộ phim tài liệu The Dangerous Few năm 1995, ước tính rằng chi phí điều trị sẽ chỉ bằng khoảng 1/1000 chi phí giam giữ người trưởng thành, đó là còn chưa tính đến những sinh mạng đáng lẽ đã được cứu sống.
Không có giải pháp rõ ràng nào cho vấn đề này, nhưng chúng tôi nghĩ rằng với tư cách là một xã hội, chúng ta chắc chắn nên trao đổi cởi mở hơn như cuộc trò chuyện mà Tiến sĩ Marshall đang đề xuất. Nhưng chúng tôi cũng hiểu tại sao chủ đề này lại khiến mọi người khó chịu và tại sao bất kỳ hành động thực sự dứt khoát nào cũng rất khó triển khai trong thực tế.