Tại thời điểm này, Jurgen Bartsch đã bắt đầu thể hiện một số điểm đáng ngại tương ứng với các mục miêu tả đặc điểm của kẻ giết người hàng loạt, chẳng hạn như mối quan hệ bất thường với người mẹ. Trong cuốn sách Whoever Fights Monsters (tạm dịch: Ai đấu với quái vật đi nữa), cựu đặc vụ FBI Robert Ressler kết luận: “Không hề có ngoại lệ, mối quan hệ giữa những kẻ giết người hàng loạt bị thẩm vấn và mẹ của chúng được xác định bởi sự lạnh lùng, xa cách, thiếu tình yêu thương và bỏ mặc. Chúng hầu như chưa từng trải qua cảm giác ấm áp yêu thương hay ôm ấp vỗ vể.” Và đương nhiên, việc được mẹ tắm rửa đến tân năm 19 tuổi không được coi là sự ôm ấp vỗ về.
Trong loạt phim tài liệu năm 2016 Murderers and Their Mothers (tạm dịch: Những kẻ sát nhân và mẹ chúng), Tiến sĩ Elizabeth Yardley, giáo sư tội phạm học, giám đốc Trung tâm Tội phạm học ứng dụng của Đại học Birmingham City, đã xem xét bản chất phức tạp của mối quan hệ kẻ sát nhân – người mẹ. Giống như hầu hết các nhà nghiên cứu khác, bà nhận thấy rằng không thể phóng đại ảnh hưởng của người mẹ trong việc tạo ra một kẻ sát nhân. Nhưng tại sao? Tôi thấy bạn đang hét lên. Chẳng phải đổ lỗi cho người mẹ là trò nhảm nhí phân biệt giới tính hay sao? Thật không may, xã hội của chúng ta quá phức tạp dẫu cho chúng ta có muốn hay không, và chúng ta mong đợi những người mẹ là nơi trú ẩn an toàn về mặt cảm xúc cho trẻ. Nếu xem xét mọi kẻ sát nhân và mối quan hệ của chúng với mẹ, chúng ta sẽ thấy người mẹ đã từng bước nhào nặn nên một kẻ sát nhân ngay từ khi còn thơ bé ở các mức độ khác nhau - cả thông qua hành vi ngược đãi trực tiếp, sẵn sàng phớt lờ những dấu hiệu nguy hiểm hiện diện ngay trước mặt hay tỏ ra thờ ơ với con.
Trong suốt thời thơ ấu, Jurgen Bartsch đã phải đối mặt với một số tổn thương nặng nề khi ở nhà. Và như thể các hành vi ngược đãi tâm lý và thể chất thường xuyên này là chưa đủ, mọi thứ còn tồi tệ hơn rất nhiều.
Năm 12 tuổi, Bartsch đã bị đẩy vào chiếc hố ngược đãi được yêu thích nhất – một trường nội trú Công giáo. Và trong một kịch bản đã trở thành thương hiệu, những điều tồi tệ đen tối đã xảy ra ở đó. Ớ tuổi 12, Bartsch bị sốt bại liệt; trong một đêm vô cùng tồi tệ trên giường, quằn quại vì cơn sốt hoành hành, trưởng đội hợp xướng của trường, Cha Pütlitz, đã cưỡng hiếp cậu ta. Tình trạng lạm dụng đã diễn ra suốt nhiều năm và Pủtlitz là kẻ rất giỏi mua vui; ông ta đã đi xa hơn nữa khi lồng ghép hành vi lạm dụng của bản thân với Bartsch vào những câu chuyện tàn bạo về một hiệp sĩ thời trung cổ chuyên tàn sát các cậu bé (xem phần bổ sung dưới đây).
GILLES DE RAIS: HIỆP Sĩ ÁC QUỶ TÀN SÁT TRẺ CON
Rõ ràng, khi đọc về một hiệp sĩ giết người hàng loạt, chúng tôi phải lần lại thông tin để Hem đó là chuyện thật hay chuyện bịa do tâm trí đen tối của Pủtlitz sáng tạo ra. Hóa ra, đó là câu chuyện hoàn toàn có thực.
Baron de Rais là một hiệp sĩ và Lãnh chúa từ Brittany, Anjou và Poitou (hãy cứ gọi nơi đó là Pháp).
Ông ta là một nhân vật quan trọng trong quân đội của Vua Charles VII của Pháp và cũng kết thân với chiến binh thiện chiến Jeanne Hứ Arc. Nhưng lý lịch cứ nhân của ông ta không dừng ở đó. Rais giống như một giấc mơ ướt át của nhà lý thuyết âm mưu QAnon xa xưa; ông ta đam mê thuật giả kim, triệu hồi quỷ và tàn sát trẻ em. ông ta tin rằng chỉ cần tìm và đọc đúng những cuốn sách cổ cũng như có trong tay đủ số lượng nến và hương, ông ta sẽ có thể triệu hồi một con quỷ, bất chấp cái giá phải trả. Vì vậy, giống như một thiếu niên thập niên 90 trong giấc mơ đêm Halloween, Rais bắt đầu tìm hiểu về những điều huyền bí và tìm cách triệu hồi một con quỷ tên là Barron. Sau ba lần thử không thành công và chẳng có con quỷ nào xuất hiện, Rais cho rằng nghi lễ này thiếu một chút gì đó dưới dạng các bộ phận cơ thể của trẻ em. Vì vậy ông ta đã tìm kiếm, và từ đầu mùa xuân năm 1432, ông ta đã bắt cóc, kê gian và sát hại từ 100 đến 600 bé trai ở bất cứ nơi nào có thể. Dẫu cho cuối cùng đã bị bắt và bị xử tử vào tháng 10 năm 1440, song Gilles de Rais đã mãi mãi ghi dấu trong nền văn hóa đại chúng, trở thành nguồn cảm hứng chính cho câu chuyện dân gian về Yêu Râu Ranh.
Chỉ ba năm sau vào năm 1962, ở tuổi 15, Jurgen Bartsch đã ra tay giết nạn nhân đầu tiên, cậu bé Klaus Jung 8 tuổi. Cậu ta thuyết phục Jung theo mình đến một nơi trú ẩn bị không kích bỏ hoang, sau đó ép Jung lột đồ trước khi bị cậu ta cưỡng hiếp và sát hại.
Bản thân hành vi phạm tội này vô cùng bất thường; thường thì với những kẻ giết người hàng loạt, yêu tố đầu tiên phải kể đến là sự tích tụ tội ác ngày càng tăng. Rất ít người thực hiện ngay hành vi hiếp dầm và giết người ở tuổi 15. Thông thường, chúng sở hữu một bản tiền án dài dằng dặc với các tội nhẹ, bao gồm các vi phạm nhỏ, trộm cắp và thị dâm, cho đến cuối độ tuổi thiếu niên và đầu tuổi đôi mươi. Dẫu cho những tưởng tượng về sự thống trị, kiểm soát và quyền lực thường được nhen lên từ thời thơ ấu và những năm đầu dậy thì, song kẻ sát nhân hàng loạt điển hình thường không thực hiện vụ giết người đầu tiên cho đến giữa hoặc cuối những năm hai mươi.
Rất nhiều kẻ giết người hàng loạt, đặc biệt là những kẻ giết người vì quyền lực và sắc dục, bắt đầu với thị dâm như một cách chậm rãi đưa đôi chân mớm qua ranh giới vi phạm bẩn thỉu và trải nghiệm hương vị thống trị những người khác lần đầu tiên. Một số kẻ giết người hàng loạt khét tiếng và man rợ nhất, chẳng hạn như Joseph deAngelo (hay sát thủ Golden State), Dennis Rader (hay BTK) và Ted Bundy, đều khởi đầu với hành vi thị dâm. Jurgen Bartsch là một kẻ giết người hàng loạt hiếm hoi ở chỗ hắn đã bỏ qua tất cả các “bước” và thẳng tiến tới hành vi giết người. Hắn đã có những tưởng tượng bạo lực khi còn nhỏ và hành động ngay lập tức.
Nạn nhân thứ hai của Bartsch là Peter Fuchs 13 tuổi. Vụ án xảy ra vào năm 1965. Như bạn có thể thấy, Bartsch đã chờ ba năm sau vụ giết người đầu tiên để thực hiện hành vi tiếp theo – đây là quãng thời gian điển hình của những kẻ giết người hàng loạt. Thường thì quãng “nghỉ ngơi” giữa các lần giết người của chúng ngày càng ngắn vì kẻ sát nhân cần có được cảm giác hồi hộp và phấn khích thường xuyên hơn để duy trì cơn khát máu của bản thân. Nhưng một lần nữa, Bartsch lại ra tay nhanh gọn - hắn gia tăng số vụ việc lên gấp nhiều lần và trong vòng hai năm sau đó, hắn đã sát hại thêm hai cậu bé: Ulrich Kahhveiss 12 tuổi và Manfred Grassman 12 tuổi.
Thường thì, thủ đoạn và hành vi của kẻ giết người hàng loạt phát triển theo thời gian khi chúng biết mình thích gì, nỗ lực tinh chỉnh “nghệ thuật” của bản thân và tăng độ tinh vi của hành vi phạm tội để tránh sa bẫy. Nhưng Bartsch đã di chuyển rất nhanh và dứt khoát, gần như không hề có sự sai lệch giữa các lần giết người của hắn. Như đã trình bày trong nghiên cứu năm 2005 “Two Homosexual Pedophile Sadistic Serial Killers” (tạm dịch: Hai kẻ giết người hàng loạt đồng tính luyến ái bạo dâm), Mark Benecke giải thích rằng nhìn chung, tất cả các lần giết người của Jurgen Bartsch cực kỳ giống nhau: hắn dụ bọn trẻ đến một nơi vắng vẻ, hãm hiếp và sát hại chúng bằng cách siết cổ. Sau đó, Bartsch sẽ tiêu hủy xác: chặt đầu, moi nội tạng, chia rời các bộ phận. Hắn móc mắt, xẻo cơ quan sinh dục, lóc thịt đùi và mông, sau đó chôn những phần còn lại tại một đường hầm bên ngoài thị trấn vài dặm. Hắn đã thực hiện tất cả những tội ác này trong 4 năm từ năm 15 đến năm 19 tuổi. Nạn nhân thứ năm của hắn - Peter Frese, 15 tuổi - đã tìm cách trốn thoát bằng cách dùng nến để đốt dây trói. Cậu bé đã lao thẳng tới sở cảnh sát và Jurgen Bartsch đã bị tóm sau đó.
Việc Bartsch có thể sát hại nhiều đứa trẻ khi mới ít tuổi như vậy thực sự là một câu chuyện gợi tò mò. Nhiều người tin rằng hắn đã thực hiện ít nhất cả trăm vụ giết người bất thành khác trước khi bị bắt. Như chúng tôi đã nhấn mạnh rằng hành vi phạm tội hàng loạt như vậy ở độ tuổi quá trẻ như thế thật bất thường, nhưng Bartsch cũng nổi bật theo một cách khác vì hắn vạch ranh giới giữa việc là một kẻ giết người nhắm đến quy trình và một kẻ giết người nhắm đến kết quả. Lời khai tại phiên tòa cho thấy hắn là sự kết hợp giữa hai nhóm này. Chúng ta hãy xem xét sự khác biệt:
* Kẻ giết người nhắm đến quy trình yêu thích quá trình chuẩn bị cho một vụ giết người và bản thân hành vi giết người. Chúng muốn nghe nạn nhân la hét và chứng kiến sự sống cạn dần ở nạn nhân. Những kẻ giết người này thường sẽ kéo dài quá trình giết người càng lâu càng tốt thông qua hành vi tra tấn và giam cầm. Chúng muốn nạn nhân phải chịu đựng bởi đó chính là điều khiến chúng từng bị tổn thương. Kẻ bạo dâm tình dục Dennis Rader, hay còn được biết đến với cái tên BTK - viết tắt của Bind, Torture, Kill (Trói, Tra tấn, Giết), là ví dụ hoàn hảo về một kẻ sát nhân nhắm đến quy trình.
* Mặt khác, những tên giết người nhắm đến kết quả không có được niềm vui từ bản thân hành vi giết người; chúng chỉ muốn thi thể và những gì còn lại sau khi thực hiện xong tội ác. Giết người là bức tường rào cần thiết phải vượt qua để có được thứ chúng thực sự muốn – một xác chết. Jeffrey Dahmer là một ví dụ điển hình về kẻ sát nhân nhắm đến kết quả; hắn đã giết người để có được thứ hắn muốn - một thây ma tình dục. Bản thân việc giết người không mang lại cho hắn niềm vui; chính cơ thể mà hắn có được sau đó mới khiến hắn hài lòng.
Bartsch rơi vào cả hai nhóm này. Theo các báo cáo, tại phiên tòa, hắn chia sẻ cởi mở về những tưởng tượng của mình; nhấn mạnh rằng bản thân chỉ đạt được cực khoái tình dục khi thủ dâm và xẻ thịt nạn nhân sau khi họ chết. Nhưng Bartsch cũng khẳng định hắn muốn thân mật với một đứa trẻ còn sống với làn da mềm mại, ít lông và “không la hét”. Hắn tuyên bố không đạt được mục tiêu này do lũ trẻ luôn tắc thở quá nhanh. Tuy nhiên, điều này không thực sự ngăn cản hắn khi bất chấp tiếp tục phần xác bọn trẻ và xuất tinh lên dương vật của chúng. Như bạn có thể thấy, Bartsch rất thẳng thắn. Phần duy nhất trong hành vi mà hắn không công khai đưa ra bình luận là liệu hắn có ăn thịt người hay không. Khi được hỏi, hắn chỉ nói mình đã “chạm môi”.
Chúng ta đều biết Bartsch đã trải qua thời thơ ấu và niên thiếu bị lạm dụng, ngược đãi và thờ ơ. Những điều này, cộng với quãng thời gian năm đầu tiên thiếu thốn tình cảm trong trại trẻ mồ côi, cùng khuynh hướng bạo lực di truyền, đã tạo ra một kẻ giết người đẩy những tưởng tượng bạo lực và nỗi uất hận đến mức thậm chí không thể đợi đến tuổi trưởng thành để xuống tay. Hắn chẳng bận tâm đến việc chậm rãi dấn bước qua ranh giới mà đâm đầu thực hiện hành vi ngay khi có thể và không dừng lại cho đến khi bị bắt.
Cho đến giờ phút này, chúng tôi đã dành phần lớn chương này để xem xét vai trò của lạm dụng thời thơ ấu trong quá trình tạo ra một kẻ giết người, và ngay từ đầu chúng tôi đã nói rằng hầu hết những kẻ giết người hàng loạt đều từng vô cùng chật vật trải qua tuổi thơ đau khổ. Nhưng bạn có biết rằng các nghiên cứu gần đây cho thấy hơn một phần ba số kẻ giết người không cho thấy báo cáo về bất kỳ hành vi ngược đãi hoặc chấn thương nào từ thời thơ ấu? Dennis Rader là một ví dụ hoàn hảo. Là một kẻ giết người hàng loạt bạo dâm, hắn có một tuổi thơ hoàn toàn bình thường (có thể xác minh được). Vì vây, dường như có những kẻ sát nhần “sinh ra để giết người”, và câu hỏi đặt ra là: Chúng ta có thể làm gì trong thời thơ ấu của trẻ để ngăn chúng lạc bước vào con đường sát nhân hay không?
Để tìm hiểu chuyện này, hãy cùng chúng tôi nghiên cứu công trình của nhà tâm lý học John Marshall. Tiến sĩ Marshall đã dành hơn hai thập kỷ nghiên cứu những kẻ thái nhân cách và vào năm 2019, ông đã tổng hợp một báo cáo về Aaron Campbell, một thiếu niên người Scotland đã sát hại dã man một bé gái sáu tuổi, Alesha MacPhail. Trong phân tích của mình, Tiến sĩ Marshall đã nêu ra một số điểm quan trọng và nhận được những phản ứng khá tiêu cực. Trong một bài báo gây tranh cãi mà ông viết trên tờ The Scotsman cùng năm, ông cho biết bản thân ông tin rằng một số nhân viên xã hội đang phủ nhận về dấu hiệu thái nhân cách ở trẻ và hệ thống dịch vụ chăm sóc trẻ em ở Anh gắn bó quá chặt chẽ với ý niệm cho rằng hầu hết mọi điểm tiêu cực mà chúng ta thấy ở một đứa trẻ phạm tội hẳn có liên quan đến tổn thương nào đó trong quá khứ.
Trong báo cáo về Campbell - một cậu bé biểu hiện những dấu hiệu đáng ngại trong một thời gian dài, Marshall viết: “Không ai đột nhiên trở thành kẻ thái nhân cách vào sinh nhật thứ mười sáu của mình. Các đặc điểm thái nhân cách bắt đầu xuất hiện rất sớm từ thời thơ ấu, đi liền với đó là những hướng phát triển có thể dự đoán được, thế nhưng chúng ta không đánh giá bọn trẻ dựa trên vấn đề phát triển thần kinh này. ơ tuổi 16, những đặc điểm đó trở nên rõ rệt và sâu sắc, vì thế đã đến lúc chính sách nên bắt kịp nghiên cứu, trước những cái giá phải trả về mặt xã hội quá lớn xét về chứng thái nhân cách. Chúng ta phải đối phó với các quỹ đạo thái nhân cách trong thời thơ ấu ngay từ bây giờ để chuyển hướng những kẻ thái nhân cách chớm nở.”
Như chúng ta đã thấy trong Chương 1, báo cáo này rất chính xác bởi thái nhân cách là một chứng bệnh bẩm sinh. Vì vậy, dẫu cho không phải tất cả những kẻ thái nhân cách sẽ tiếp tục phạm những tội ác kinh hoàng, nhưng chúng có nhiều nguy cơ hơn trở thành tội phạm bạo lực, cho dù chúng có bị lạm dụng, ngược đã hay bị tổn thương sâu sắc hay không. Tuy nhiên, như bạn có thể tưởng tượng, ngay cả sau khi một bé gái bị sát hại nghiêm trọng, những quan điểm này vẫn vấp phải sự hoài nghi. Quan niệm cho rằng đến tuổi 16, những đặc điểm thái nhân cách đã ăn sâu đến độ gần như đứa trẻ đó phải hứng chịu những ảnh hưởng nặng nề. Luận điểm chính trong báo cáo của Tiến sĩ Marshall cho rằng chia khóa nằm ở việc phát hiện sớm bởi nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nuôi dạy trẻ bằng tình yêu thương có thể tạo ra sự khác biệt rất lớn ở những trẻ sở hữu các đặc điểm thái nhân cách -nhưng phải được can thiệp sớm. Vậy làm thế nào chúng ta có thể xác định được những đặc điểm đó ở trẻ? Và khi nào nên gắn nhãn trẻ? Và gán những nhãn nào?
Ở hầu hết các quốc gia, các chuyên gia không được phép chẩn đoán chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội ở người dưới 18 tuổi. Nhưng nếu không thể gán nhãn, làm sao chúng ta có thể điều trị một cách hiệu quả - đặc biệt là khi, theo Tiến sĩ Marshall, chìa khóa nằm ở hành vi can thiệp sớm?
Các chuyên gia phản đối việc gắn nhãn trẻ bằng các thuật ngữ như “đặc điểm thái nhân cách” hoặc “tiền thái nhân cách” do lo ngại về mức độ kỳ thị mà chúng gây ra. Một vấn đề khác nữa là hầu hết trẻ em đều thể hiện hành vi chống đối xã hội ở một mức độ nào đó. Chúng có thể chống đối, không vâng lời và lạm dụng bằng lời và hành động. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi những hành vi này rõ ràng là đã vượt qua ranh giới? Chúng tôi đã nói chuyện với một cặp vợ chồng liên hệ với chúng tôi sau khi nghe podcast của chúng tôi suốt nhiều năm. Cassie và Mike có một cậu con trai tuổi teen là Arthur, với những vấn đề nghiêm trọng về hành vi, chẳng hạn như bạo lực với người khác, ngược đãi động vật, không biết ăn năn, nhẫn tâm, và vô cảm.
Hành vi của Arthur tuân theo một quỹ đạo rắc rối trong suốt thời thơ ấu. Cậu ta ném con mèo con nhà hàng xóm vào tường, bắt và giết chuột để giải trí, và từng gửi cho mẹ mình video cậu ta dùng tuốc-nơ-vít đập chết một con cua sống và cười hớn hở. Ngay từ khi còn nhỏ, các cấp độ hành vi tăng dần – Arthur suýt bị đuổi học khi mới 4 tuổi, nhưng điều này không kìm hãm được hành vi của cậu ta. Đến năm 10 tuổi, Arthur đã cầm dao đến trường với ý định tấn công một học sinh khác. Ở tuổi 12, cậu ta có hành vi đụng chạm không phù hợp với bạn bè và cuối cùng đã tấn công tình dục một học sinh khác, ở nhà, Arthur cũng không khá hơn chút nào. Cậu ta sẽ lặng lẽ đứng ở ngưỡng cửa phòng ngủ của bố mẹ và quan sát họ ngủ mỗi đêm. Arthur cũng bắt đầu có những hành vi không đúng mực với em gái và mẹ. Cậu ta bắt đầu nghiện xem nội dung khiêu dâm hạng nặng, từng cố dìm chết em gái của mình, và thậm chí còn bắt đầu quay những video kỳ lạ, gần giống như một bản tuyên ngôn.
Cuối cùng, Arthur được gửi đến trung tâm giáo dưỡng cho đến hiện tại khi đang ở tuổi 14. Cậu ta thường xuyên đe dọa và hành hung nhân viên trung tâm về tinh thần, thể chất và tình dục; thậm chí cậu ta còn từng cố gây ra tình trạng sốc phản vệ ở một trong những người chăm sóc sau khi biết về căn bệnh dị ứng có thể đe dọa tính mạng của cô này. Arthur bỏ trốn bất cứ khi nào có cơ hội và chống đối hoàn toàn các phương pháp trị liệu. Trong các buổi trị liệu, cậu ta chỉ nói với bác sĩ tâm lý những điều mà cậu ta biết là bác sĩ muốn nghe. Arthur không hề tỏ ra hối hận, không có sự đồng cảm, không nhận trách nhiệm và tin rằng mọi người khác đều sai khi không để cậu ta làm theo ý muốn.
Arthur rõ ràng đang thể hiện những dấu hiệu vô cùng đáng ngại và có vẻ như chúng đã tồn tại trong cậu ta từ khi sinh ra, nhưng không ai dám chẩn đoán cậu ta mắc chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội ít nhất cho đến khi cậu ta 18 tuổi – ngay khi cậu ta rời trung tâm giáo dưỡng để hòa nhập cộng đồng. Đừng hiểu sai ý chúng tôi - việc thể hiện những dấu hiệu của chứng rối loạn hành vi và hạn chế cảm xúc xã hội từ thời thơ ấu không phải là tấm vé chắc chắn dẫn đến một cuộc đời bạo lực, nhưng chúng khiến đứa trẻ đó có nguy cơ cao mắc chứng thái nhân cách khi trưởng thành và gặp phải những rắc rối với luật pháp trong tương lai.