Tôi sống cùng mẹ và chị cho tới khi mười chín tuổi.
Lúc tôi chín tuổi, chị tôi mười một, bố mẹ tôi ly hôn. Nguyên nhân là do bố tôi đã đem lòng yêu người đàn bà khác.
Trước đó, mẹ tôi làm công việc phiên dịch nên phải đi nhiều. Thế nhưng từ sau khi chuyện đó xảy ra, mẹ đã chuyển hẳn sang công việc biên dịch, mẹ nhận tất tật các công việc từ dịch nháp đến dịch những cuốn băng phỏng vấn.
Không có bố thật buồn, nhưng cuộc sống như thế kể ra lại thú vị. Khi có cả ba người, một ngày chúng tôi đổi tuổi tác và vai trò cho nhau đến mấy bận. Khi người này khóc thì người kia dỗ dành, khi người này nói những lời yếu đuối thì người kia động viên khích lệ, khi người này làm nũng thì người kia vỗ về chiều chuộng, khi người này tức giận thì người kia sửa chữa lỗi lầm.
Cứ như vậy, tôi quen dần với cuộc sống kiểu đó.
Tuy thời gian được ở cùng nhau rất ít nhưng mẹ vẫn dạy tiếng Anh cho chúng tôi. Hơn mười giờ tối, chúng tôi mở vở ra và học một tiếng đồng hồ trên chiếc bàn bếp. Phát âm, từ vựng và những đoạn hội thoại đơn giản. Bọn trẻ thơ chúng tôi, trong thâm tâm thì nghĩ rằng đó chỉ là chuyện đùa thôi, nhưng đều vì mẹ mà tham gia một cách nhẫn nại.
Vì thế, với chúng tôi, hình ảnh vụt hiện lên trước nhất về mẹ không phải là cái dáng lưng mẹ trong bếp. Mà là khuôn mặt không trang điểm nhìn nghiêng đeo chiếc kính gọng bạc lúc đang dạy tiếng Anh, hoặc là những ngón tay trắng trẻo đang lật giở cuốn từ điển dày cộp với tốc độ chóng mặt. Sự miệt mài như thể vừa dạy tiếng Anh cho chúng tôi vừa một lần nữa khắc sâu vào lòng cái thứ tiếng Anh dưới cả trình độ cơ sở ấy, như thể tô đi tô lại cái dòng kẻ của cuộc đời mình, mới thật đẹp.
Mẹ tôi không còn sống chung với chúng tôi nữa, nhưng mỗi khi gặp nhau, mẹ lại cười cái công việc ở phòng nghiên cứu văn học Anh Mỹ của tôi, và việc chị tôi lấy chồng nước ngoài, rồi bảo: chúng mày được thế là nhờ mẹ đã truyền thụ sự hấp dẫn của tiếng Anh cho đấy. Tôi vẫn yêu điều đó hơn hết thảy điều nào khác ở mẹ.