Những Cuộc Phiêu Lưu Của Tom Sawyer, Toàn Tập

Lượt đọc: 627 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Khoảng mười rưỡi, chiếc chuông nứt của ngôi nhà thờ nhỏ bắt đầu đổ hồi, và chẳng mấy chốc, mọi người bắt đầu tụ họp lại để dự buổi giảng đạo buổi sáng. Lớp học Trường Chúa nhật phân tán khắp gian phòng và ngồi chung ghế với cha mẹ để được quản thúc. Dì Polly tới, còn Tom, Sid và Mary ngồi cùng dì; Tom được xếp ngồi sát lối đi để ở cách xa khung cửa sổ đang mở cùng những cảnh tượng mùa hè đầy cám dỗ bên ngoài càng xa càng tốt. Dám đông lần lượt tiến lên các lối đi: bác bưu cục già cả và nghèo túng, người từng trải qua những ngày tháng huy hoàng hơn; viên thị trưởng và vợ—vì ở đó họ có thị trưởng, giữa vô số thứ không cần thiết khác; vị hòa giải; góa phụ Douglas, xinh xắn, nhanh nhẹn và ở tuổi tứ tuần, một tâm hồn rộng lượng, tốt bụng và khá giả, với căn biệt thự trên đồi là dinh thự duy nhất trong thị trấn, lại là nơi hiếu khách và hào phóng nhất về khoản tiệc tùng mà St. Petersburg có thể tự hào; cụ Major còng lưng nhưng đáng kính cùng phu nhân; luật sư Riverson, nhân vật nổi tiếng mới đến từ nơi xa; tiếp theo là đóa hoa của làng, theo sau là một nhúm những kẻ làm tan nát trái tim tuổi trẻ xúng xính váy lụa ruy-băng; rồi toàn bộ các nam thanh niên làm công trong thị trấn đi thành một nhóm—vì họ đã đứng ở tiền sảnh mút đầu gậy ba-toong, tạo thành một bức tường vây quanh những kẻ ngưỡng mộ chải chuốt và cười tủm tỉm, cho đến khi cô gái cuối cùng vượt qua được hàng rào của họ; và cuối cùng là Cậu bé Kiểu mẫu Willie Mufferson, chăm sóc mẹ cẩn thận như thể bà làm bằng thủy tinh dễ vỡ. Cậu luôn đưa mẹ đến nhà thờ và là niềm tự hào của tất cả các bà mẹ. Bác đứa con trai đều ghét cậu ta vì cậu quá mức ngoan ngoãn. Thêm vào đó, cậu ta cứ hay bị lôi ra làm gương để chì chiết họ. Chiếc khăn tay trắng của cậu ta thò ra từ túi quần phía sau, theo thói quen vào các ngày Chủ nhật—một cách tình cờ. Tom chẳng có chiếc khăn tay nào, và cậu coi những đứa có khăn tay là bọn làm màu.

Khi giáo đoàn đã tề tựu đông đủ, chiếc chuông lại reo lên một lần nữa để cảnh báo những kẻ la cà, chậm trễ, rồi một sự im lặng trang nghiêm bao trùm lấy nhà thờ, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng khúc khích và thì thầm của dàn đồng ca trên gác lửng. Dàn đồng ca lúc nào cũng khúc khích và thì thầm suốt cả buổi lễ. Xưa kia từng có một dàn đồng ca nhà thờ biết điều, nhưng giờ thì tôi quên mất nó ở đâu rồi. Chuyện ấy đã từ rất nhiều năm trước, và tôi hầu như chẳng nhớ gì về nó nữa, nhưng tôi nghĩ nó ở một đất nước xa xôi nào đó.

Vị mục sư xướng thánh thi, rồi dõng dạc đọc vang bài thánh ca với một vẻ hào hứng rất riêng, theo một phong cách kỳ lạ rất được ưa chuộng ở vùng đất đó. Giọng ông bắt đầu ở quãng trung và cứ thế leo dần lên cho đến khi đạt đến một điểm nhất định, nơi ông dồn lực nhấn mạnh vào từ cao nhất rồi lao xuống như thể từ một tấm ván nhún:

Con có được bay lên tận trời xanh, trên những chiếc giường hoa êm ái,

Trong khi kẻ khác chiến đấu để giành phần thưởng, và vượt qua những vùng biển đẫm máu?

Ông được xem là một người đọc tuyệt vời. Tại các buổi “giao lưu” của nhà thờ, ông luôn được mời đọc thơ; và khi ông đọc xong, các bà các cô lại chắp tay rồi buông thõng xuống lòng, đảo mắt và lắc đầu, như muốn nói rằng: “Không từ ngữ nào diễn tả nổi; nó quá đẹp, QUÁ đẹp đối với cõi trần thế này.”

Sau khi bài thánh ca được hát xong, Mục sư Sprague liền biến mình thành một chiếc bảng thông báo, đọc to những “thông báo” về các cuộc họp, hội đoàn và đủ thứ chuyện cho đến khi danh sách dài dằng dặc tưởng chừng như tận thế mới chấm dứt—một phong tục kỳ lạ vẫn được duy trì ở Mỹ, ngay cả ở các thành phố lớn, giữa thời đại ngập tràn báo chí này. Thường thì, một phong tục truyền thống càng ít có lý do để tồn tại thì lại càng khó dứt bỏ hơn.

Và giờ thì vị mục sư cầu nguyện. Đó là một lời cầu nguyện hay, hào phóng và đi vào chi tiết: ông cầu nguyện cho giáo đoàn, cho những đứa trẻ của nhà thờ; cho các nhà thờ khác trong làng; cho chính ngôi làng; cho hạt; cho tiểu bang; cho các quan chức tiểu bang; cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; cho các nhà thờ tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; cho Quốc hội; cho Tổng thống; cho các quan chức Chính phủ; cho những người thủy thủ nghèo khổ bị sóng gió dập vùi; cho hàng triệu người bị áp bức đang rên siết dưới gót giày của các triều đại phong kiến châu Âu và chế độ chuyên chế phương Đông; cho những ai có ánh sáng và tin mừng nhưng lại không có mắt để nhìn hay tai để nghe; cho những kẻ ngoại đạo ở những hòn đảo xa xôi ngoài biển khơi; và kết thúc bằng lời cầu xin rằng những lời ông sắp giảng ra đây sẽ tìm được ơn phượng và sự sủng ái, trở như hạt giống gieo trên mảnh đất màu mỡ, đúng thời điểm sẽ trổ sinh một mùa gặt bội thu những điều thiện lành. Amen.

Có tiếng xột xoạt của váy áo, và những người đang đứng liền ngồi xuống. Cậu bé mà câu chuyện này nhắc tới không hề thích thú gì lời cầu nguyện, cậu chỉ ráng chịu đựng nó—nếu như thế vẫn còn là chịu đựng. Cậu bồn chồn suốt quãng thời gian ấy; cậu vô thức đếm nhẩm từng chi tiết trong lời cầu nguyện—vì cậu chẳng thèm lắng nghe, nhưng cậu đã quá thuộc đường đi nước bước và lộ trình quen thuộc của vị mục sư rồi—và khi có một chi tiết nhỏ mới mẻ nào đó được chêm vào, tai cậu liền nhận ra ngay và toàn bộ con người cậu tỏ thái độ bất mãn; cậu cho rằng việc thêm thắt ấy là không công bằng và thật đê tiện. Giữa lúc cầu nguyện, một con ruồi sa xuống lưng chiếc ghế băng phía trước và hành hạ tâm hồn cậu bằng cách bình thản xoa hai chân vào nhau, dùng tay ôm lấy đầu rồi chải chuốt mạnh mẽ đến mức tưởng chừng cái đầu sắp lìa khỏi thân, để lộ ra chiếc cổ mảnh mai; nó dùng hai chân sau cạo đôi cánh rồi vuốt phẳng vào thân như thể đó là vạt áo đuôi tôm; thực hiện toàn bộ công đoạn chải chuốt một cách thản nhiên cứ như thể nó biết mình đang hoàn toàn an toàn. Quả thực là vậy; dù đôi tay của chực chờ ngứa ngáy muốn chộp lấy nó nhưng cậu không dám—cậu tin rằng linh hồn mình sẽ tiêu đời ngay lập tức nếu làm một việc như thế giữa lúc bài cầu nguyện đang diễn ra. Thế nhưng ngay khi câu cuối cùng vừa dứt, bàn tay cậu bắt đầu khum lại lén lút trườn tới; và ngay khoảnh khắc từ “Amen” thốt ra thì con ruồi đã trở thành tù binh chiến tranh. Bà dì phát hiện ra hành động đó và bắt cậu phải thả nó đi.

Vị mục sư xướng đoạn kinh thánh và đều đều ngân nga qua một bài luận văn tẻ nhạt đến mức chẳng mấy chốc nhiều chiếc đầu bắt đầu gật gù buồn ngủ—vậy mà đó lại là một bài luận bàn về lửa và diêm sinh vô tận, thu hẹp nhóm người được ơn cứu rỗi định sẵn lại thành một nhúm nhỏ đến mức chẳng bõ công cứu vớt. Tom đếm từng trang của bài giảng; sau buổi lễ, lúc nào cậu cũng biết có bao nhiêu trang đã được đọc nhưng hiếm khi nhớ được điều gì khác về bài thuyết giáo. Tuy nhiên, lần này cậu thực sự thấy hứng thú trong một chốc lát. Vị mục sư đã dựng lên một bức tranh tráng lệ và cảm động về cảnh tượng các đạo quân trên thế giới tụ họp lại trong thời kỳ nghìn năm thịnh vượng, khi sư tử và chiên con nằm chung một chỗ và một đứa trẻ sẽ dẫn dắt chúng. Nhưng vẻ bi ai, bài học, và ý nghĩa luân thất của khung cảnh vĩ đại ấy đã trôi tuột khỏi tâm trí cậu bé; cậu chỉ nghĩ đến sự nổi bật của nhân vật chính trước mắt muôn dân thiên hạ; gương mặt cậu bừng sáng lên với ý nghĩ đó, và cậu tự nhủ rằng ước gì mình được làm đứa trẻ ấy, miễn là con sư tử đó đã được thuần hóa.

Giờ thì cậu lại chìm đắm trong sự tra tấn khi bài luận khô khan tiếp tục. Chẳng mấy chốc cậu sực nhớ ra mình đang có một món bảo bối bèn lấy nó ra. Đó là một con bọ hung đen to tướng với cặp hàm đáng sợ—cậu gọi nó là “bọ cắm”. Nó nằm trong một chiếc hộp hạt nổ. Điều đầu tiên con bọ hung làm là tợp cho ngón tay cậu một cái. Một cú búng tay theo phản xạ vang lên, con bọ hung chới với bay vào lối đi rồi ngửa bụng nằm sóng xoài, còn ngón tay đau nhức thì được nhét thẳng vào miệng cậu bé. Con bọ hung nằm đó khua khoắng đôi chân bất lực, chẳng thể lật người lại. Tom dán mắt nhìn nó, thèm thuồng; nhưng nó đã nằm ngoài tầm với an toàn của cậu. Những kẻ khác chẳng màng gì đến bài giảng đạo liền tìm thấy sự khuây khỏa ở con bọ hung và cũng dán mắt vào nó. Chẳng mấy chốc, một chú chó lang thang vô chủ thẩn thơ đi tới, lòng buồn rười rượi, lười biếng trước cái êm dịu và tĩnh mịch của mùa hè, chán ngấy cảnh tù túng và khao khát một sự đổi thay. Chú ta đánh hơi thấy con bọ hung; chiếc đuôi cụp xuống liền ngẩng lên vẫy vẫy. Chú ta khảo sát chiến lợi phẩm; đi vòng quanh nó; ngửi ngửi từ khoảng cách an toàn; lại đi vòng quanh một lần nữa; bạo dạn hơn và rướn người ngửi kỹ hơn; rồi vén môi táp một cái đầy dè dặt nhưng suýt trượt; lại táp cái nữa rồi cái nữa; bắt đầu thấy trò tiêu khiển này hay ho; bèn úp bụng nằm bẹp xuống với con bọ hung nằm giữa hai chân trước và tiếp tục công cuộc thử nghiệm; cuối cùng thì đâm chán, rồi trở nên thờ thẫn và lơ đễnh. Đầu chú gật gù rồi dần dần cằm hạ xuống chạm phải kẻ địch, và thế là bị nó kẹp cho một phát. Một tiếng ẳng sắc lẹm vang lên, cái đầu chú chó giật bắn lên, và con bọ hung văng ra cách đó vài thước, một lần nữa ngửa bụng nằm chỏng chơ. Những khán giả xung quanh rung lên vì niềm vui thầm kín nhẹ nhàng, vài khuôn mặt nấp sau những chiếc quạt và khăn tay, còn Tom thì vô cùng hạnh phúc. Chú chó trông có vẻ ngớ ngẩn, và có lẽ bản thân chú cũng cảm thấy thế; nhưng trong lòng chú còn có cả sự hấn hức và một khao khát trả thù. Thế là chú tiến đến chỗ con bọ hung và bắt đầu một cuộc tấn công dè dặt trở lại; chồm tới nó từ mọi hướng của vòng tròn, đặt hai chân trước cách sinh vật đó chưa đầy một inch, táp bằng răng những cú sát nút hơn nữa và lắc đầu đến mức đôi tai vẫy phần phật. Nhưng rồi chẳng mấy chốc chú lại đâm mệt; tìm cách tự giải trí với một con ruồi nhưng chẳng thấy khuây khỏa gì; lủi thủi theo sau một con kiến với cái mũi dán sát sàn nhà, rồi cũng nhanh chóng chán ngấy trò đó; ngáp ngắn ngáp dài, thở dài, quên sạch sành sanh về con bọ hung và ngồi bịch lên người nó. Thế rồi một tiếng kêu oai oái kinh hoàng vang lên và chú chó nhỏ phóng vút lên tận đầu lối đi; những tiếng kêu thảm thiết vẫn tiếp tục, và chú chó cũng cắm cổ chạy; chú lao ngang qua gian phòng trước bệ thờ; chú bay vút xuống lối đi bên kia; chú băng qua trước những cánh cửa; chú hùng hục leo ngược về đoạn đường nước rút; nỗi thống khổ tăng dần theo mỗi bước chân cho đến khi chẳng mấy chốc chú trông chẳng khác nào một chòm sao chổi lông xù di chuyển theo quỹ đạo với ánh chớp và tốc độ của ánh sáng. Cuối cùng, kẻ khốn khổ đang hoảng loạn ấy liền lạng khỏi đường chạy, lao thẳng vào lòng chủ; gã chủ liền vung tay ném chú ta ra cửa sổ, và tiếng kêu thảm thiết cứ thế nhỏ dần rồi lịm hẳn đi trong khoảng không xa xăm.

Đến lúc này thì toàn bộ nhà thờ đã đỏ bừng mặt và nghẹt thở vì những tràng cười nén nhịn, còn bài giảng thì đi đến chỗ đứng khựng lại hoàn toàn. Bài thuyết giáo được tiếp tục ngay sau đó nhưng cứ cà nhắc lết đi, mọi khả năng tạo ấn tượng đều đã tiêu tan; bởi vì ngay cả những tâm tình trang nghiêm nhất cũng liên tục bị đón nhận bằng những tràng cười báng bổ bị nén lại sau những chiếc lưng ghế ở tít đằng xa, cứ như thể vị mục sư tội nghiệp vừa nói một điều gì đó cực kỳ hài hước. Đó là một sự giải tỏa thực sự cho toàn bộ giáo đoàn khi cơn khảo nghiệm chấm dứt và lời chúc phúc được cất lên.

Tom Sawyer đi về nhà với tâm trạng khá vui vẻ, tự nhủ rằng tham gia lễ phật đường hóa ra cũng có chút thú vị khi có thêm chút ít đổi gió. Cậu chỉ có một nỗi bận tâm duy nhất phá hỏng niềm vui: cậu sẵn sàng để chú chó chơi đùa với con bọ cắm của mình, nhưng cậu không cho rằng việc chú ta hốt luôn nó đi là một hành động quân tử.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.