Khi đi trên một chuyến phà Istanbul, không bao giờ tôi cảm thấy mình đang đi xuyên qua thành phố; ngược lại, tôi cảm nhận chỗ của tôi bên trong thành phố; tôi nhìn thấy cung cách cuộc đời tôi chồng khít vào những cuộc đời khác quanh tôi. Tôi biết chỗ của tôi là trên bờ của vịnh Bosphorus, Mũi Vàng và Biển Marmara, những vùng nước vĩ đại định hình nên Istanbul. Tất cả những tòa nhà đó - cả các cửa sổ và cửa ra vào - đã làm nên thành phố hiện tại: Ý nghĩa của chúng tùy thuộc vào mức độ gần gũi giữa chúng và những vùng biển, những con đường thủy này, cả độ cao và góc nhìn của chúng nữa. Với tất cả những ai sống trong các căn nhà và đi lại trên các con phố của thành phố này thì cũng như vậy: Trong một góc tâm hồn, họ biết họ xa xôi hay gần gũi thế nào với những vùng nước ấy. Còn với những ai có thể nhìn thấy những vùng nước đó từ cửa sổ nhà họ (ngày trước, đó không phải chỉ là một thiểu số có diễm phúc), bất cứ khi nào nhìn thấy những chuyến phà xuôi ngược, họ liền cảm thấy như thể thành phố là một trung tâm, một ngưỡng, một toàn thể; họ cảm nhận rằng mọi sự rồi sẽ ít nhiều ổn thỏa.
Đó chính là lý do tại sao khi bước lên một trong những chuyến phà mà chúng tôi nhìn ngắm cả ngày lẫn đêm, để đi từ bên này sang bên kia thành phố hay khởi đi trên một chuyến du ngoạn, chúng tôi tận hưởng cái thú từ ngoài nhìn vào chỗ của chúng tôi trong thế giới nội tại của thành phố. Nên bốn mươi năm trước đây, nếu hai anh em tôi cùng đi trên một chuyến phà từ các hòn đảo đến Karaköy, chúng tôi sẽ nín thở chờ xem ai trong chúng tôi nhìn thấy các tòa nhà cao tầng trong khu chúng tôi sống cũng như các cửa sổ nhà mình trước. Để nhìn những đường phố quen thuộc, các tòa nhà cao tầng và bảng quảng cáo từ một góc đẹp hơn, chúng tôi sẽ lên boong cao nhất của phà, đến một chỗ bên cạnh đài chỉ huy, nhưng khi hình dáng chúng lộ ra tinh thần chúng tôi sẽ tụt xuống. Nhìn từ boong một con tàu đang di chuyển, những đường phố nơi chúng tôi sống cả đời, những tòa nhà lớn mà chúng tôi đã nhìn biết bao lần đến nỗi hình dáng chúng in sâu trong ký ức chúng tôi, những tấm bảng quảng cáo mà chúng tôi từng đọc đi đọc lại từ sáng đến tối, chúng thảy dường như kém quan trọng và trông bình thường hơn. Niềm hào hứng trẻ con muốn nhìn đường phố của mình và nhà mình từ xa (tôi vẫn còn cảm thấy hào hứng như thế mỗi khi bước chân lên phà) bị một ý nghĩ ảm đạm che khuất: Nếu hàng triệu cửa sổ và hàng trăm ngàn tòa nhà của thành phố đều giống nhau, thì cuộc đời bạn càng giống những cuộc đời khác hơn mức bạn có bao giờ tưởng tượng ra.
Nếu quang cảnh thành phố nhìn từ boong phà nhắc nhở chúng tôi rằng chúng tôi giống nhau đến dường nào, thì quang cảnh thành phố nhìn từ một trong hàng triệu cửa sổ giống hệt nhau đó lại mách bảo chúng tôi điều hoàn toàn trái ngược; nó đánh thức trong chúng tôi khao khát muốn được khác biệt, được độc đáo. Vì khi ngắm những chuyến phà xuôi ngược trên sóng nước, cô độc di chuyển xuyên qua giữa thành phố, chúng tôi cảm thấy tự do. Các chú, các bác tôi và cha tôi biết tên và số hiệu của hơn bốn chục tàu phà trông giống hệt nhau dưới mắt tôi, và họ có thể nhận ra chúng qua tiếng còi tàu thậm chí từ rất xa. Ống khói ở tàu này thì cao hơn một chút, ở tàu kia thì nghiêng hơn một chút; chiếc thì có đài chỉ huy đặt cao hơn, chiếc thì có phần đuôi rộng hơn. Khi cha tôi đoán tên và số hiệu của một chiếc phà đang tiến vào mà lúc ấy mới chỉ là mấy tiếng tiếng còi tàu từ phía chân trời, chúng tôi kinh ngạc, đòi ông tiết lộ bí mật, và chúng tôi nhanh chóng nhận ra rằng thuần thục những chi tiết vặt vãnh như vậy khó biết dường nào. Cha và các chú, bác tôi mỗi người đều có một chiếc phà ruột, và khi thấy chiếc phà của họ xình xịch trên vịnh Bosphorus, họ sẽ mừng vui như thể thấy con số may mắn của mình, họ sẽ kể ngay cho lũ trẻ chúng tôi về lịch sử của chiếc phà đó và điều gì khiến nó khác biệt. Chúng tôi có để ý và thưởng thức được những vạch kẻ tinh tế trên ống khói của nó và vẻ lịch lãm nơi những đường cong của nó không? Chúng tôi có thể thấy nó tròng trành thế nào khi cưỡi lên ngọn triều? Khi chiếc phà tiến lại thật gần bờ, khi nó quay đầu quanh Akintiburnu nơi chúng tôi đứng, chúng tôi thảy đều vẫy tay chào thuyền trưởng. Hồi đó thường có một nhân viên đứng trên Akintiburnu ra hiệu cho các chuyến phà chạy tuyến thành phố bằng những cờ hiệu đỏ và xanh lá cây.
Những chiếc phà này chạy bằng than, và từ những ống khói, khói đen tuôn ra dày đặc. Vào những ngày lặng gió, làn khói sẫm này lờ lững trên bầu trời, lần theo những đường cong của một hành trình trên vịnh Bosphorus. Thuở ấu thơ và thiếu thời, khi hãy còn ước mơ trở thành họa sĩ, sau khi hoàn thành một bức màu nước vẽ phong cảnh vịnh Bosphorus, niềm hân hoan tột cùng của tôi là vẽ thêm một làn khói cuộn lên từ những chuyến phà rồi lan tỏa khắp bầu trời.
Bắt chước cha tôi và các chú các bác, hai anh em tôi cũng chọn một chiếc phà cho riêng mình. Những chuyến phà mà chúng tôi thật hớn hở khi nhìn thấy, kể cho nhau mỗi khi bắt gặp bóng dáng, chúng trạc tuổi chúng tôi; chúng đã ngược xuôi giữa vịnh Bosphorus và các hòn đảo từ những năm 1950. Chiếc PaşabahÇe, được đưa từ Liverpool về và ta có thể phân biệt nó với hai người anh em nhờ cái ống khói dẹt, là chiếc phà “của tôi”, và vào một tối mùa hè năm 1958, theo lời đề nghị của bác tôi với viên thuyền trưởng, nó hụ còi hai lần khi đi ngang nhà chúng tôi trên đảo Heybeliada. Bác tôi, chỉ vừa mới gặp thuyền trưởng trước đó một ngày và thuyết phục được ông làm vậy, báo cho tôi biết trước, khiến tôi háo hức cả ngày đợi đến tối khi chiếc PaşabahÇe đi ngang trước nhà. Vào chập tối ngày hè muộn ấy, khi nhìn xuyên qua lùm thông thấy chiếc tàu hiện dần lên từ phía những ánh đèn của hòn đảo đằng sau, tôi lao về phía bờ biển, run run chờ đợi trên chóp các bậc thang trong vườn. Tôi sẽ không bao giờ quên hai hồi còi của chiếc phà khi nó đến khoảng giữa hai hòn đảo - hồi thứ nhất thê thiết, hồi thứ hai bực bội - ở ngay đúng nơi tôi mong đợi. Tiếng hụ phát ra từ sâu trong lòng chiếc phà, vọng lại giữa những ngọn núi và các hòn đảo trong đêm tĩnh mịch, lặng gió, và sau đó là một quãng yên lặng, và trong một khoảnh khắc tôi nhập làm một với thiên nhiên, với cả thế giới, như thể trong một giấc mơ, trước khi tôi nghe thấy tiếng reo từ cách đó non hai mươi thước, từ cái bàn giữa khóm cây cạnh nhà bếp nơi đại gia đình tôi (ông bà, bác, bố mẹ và những người khác) đang ăn tối, reo hò tán thưởng chiếc phà đã gửi đến tôi lời chào. Từ cửa sổ văn phòng, tôi vẫn còn nhìn thấy chiếc PaşabahÇe mỗi ngày một hai lần.
Dù chiếc PaşabahÇe đã chạy đến các đảo và ngược xuôi bờ vịnh Bosphorus đến giờ đã năm mươi năm, cảm giác tiếp diễn và lịch lãm mà những chuyến phà mang lại cho chúng tôi đang dần biến mất. Nhiều bến tàu cũ trên bờ vịnh Bosphorus đã bị dẹp, một số bị biến thành tiệm ăn, vài cái khác bị phá dỡ và đập bỏ không thương tiếc. Còn những chiếc phà mà các bác và cha tôi thuộc lòng số hiệu và tiếng còi tàu, trừ một hai chiếc được chuyển thành tiệm ăn cho khách du lịch, thảy đều biến mất, bị đưa vào bãi rác tàu. Nhưng vẫn còn vài chiếc phà cũ chạy trên vịnh Bosphorus, và còn hàng trăm ngàn hành khách, đứng thành hàng bên hông phà, ngắm thành phố lướt qua căn nhà này tiếp sau căn nhà kia, lên boong để hít thở không khí mát rượi của vịnh Bosphorus, ngồi trên những chuyến phà này uống trà trên đường đi làm mỗi sáng. Đằng sau những chuyến phà trên vịnh Bosphorus mà tôi nhìn thấy từ văn phòng, đặc biệt vào những ngày đông, tôi có thể thấy một đám những chấm trắng rộn ràng. Lũ hải âu là bậc thầy trong việc bắt simits, tức khoanh bánh mì vừng, và vụn bánh mì người ta ném cho chúng. Luôn có ai đó trên những chuyến phà vịnh Bosphorus mùa đông ném vụn bánh mì cho hải âu. Điều đang biến mất là những mối quan hệ một đối một mà những chuyến phà này tạo ra cho những người coi chúng không phải như những con tàu mà như những nhân vật. Những ngày xa xưa, khi các chuyến phà ba tầng này lướt qua trước những yali[1], viên thuyền trưởng trên tầng cao nhất sẽ mắt đối mắt với người nội trợ mơ mộng đang chụm bếp lò. Ngày nay, hành khách đi lại trên những chuyến tàu cao tốc đưa về từ Na Uy, với nội thất thảy giống như những rạp chiếu phim yên ắng không có không khí, họ không nhìn ra cửa sổ mà nhìn màn hình ti vi bên trong.
Tôi yêu những chiếc phà trên vịnh Bosphorus nhất khi chúng đỗ lại để nghỉ đêm. Nếu ta đang ngồi ở một meyhane cạnh bến phà, chiếc phà sẽ thọc cái mũi cao dài của nó vào cuộc chuyện trò của ta như một người cha độc đoán hiếu kỳ, hoặc ta nghĩ vậy vì ta liếc nhìn về hướng nó quá thường xuyên. Rồi, trong khi thuyền trưởng hút thuốc trong khoang lái, thủy thủ xịt nước xuống boong. Nếu đã rất muộn và trời rất nóng, một thủy thủ mặc pyjama sẽ ngủ trên băng ghế chỗ cầu tàu mà phía bên kia là hàng ngàn phương tiện chạy ầm ầm cả ngày, trong khi đó một thủy thủ khác ngồi trên băng ghế đối diện vừa hút thuốc vừa nhìn chằm chằm vào bóng tối của vịnh Bosphorus. Vào thời điểm đó của đêm, sự yên lặng - và chiếc phà, neo vào bến bằng dây thừng – gợi nhớ đến một người xinh đẹp, say ngủ trong bình an.
❀ ❀ ❀
[1] Yali: dinh thự bên bờ biển.