Lời tựa cho Tristram Shandy: Ai cũng nên có một ông chú như thế này

Những Màu Khác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Tựa Cho Tristram Shandy: Ai Cũng Nên Có Một Ông Chú Như Thế Này

❊ ❊ ❊

Mào đầu

Tất cả chúng ta đều ưa thích một ông chú như Tristram Shandy, một ông chú lúc nào cũng kể chuyện và lạc lối trong đó, ngay cả khi ông nhanh chóng cuốn hút ta bằng những bông đùa, trò chơi từ ngữ, sự vô ý tứ, những chuyện ngờ nghệch, trò kỳ quặc, chuyện ám ảnh, và những kiểu cách ngộ nghĩnh; một ông chú, mặc dù tinh ranh, có văn hóa và lão luyện, vẫn là một đứa trẻ tinh nghịch trong tâm hồn. Khi ông chú này lảm nhảm quá lâu hoặc vượt quá giới hạn, cha ta hay cô của ta sẽ bảo, “Thôi đủ rồi đó, chú làm cháu nó sợ; chú làm cháu tái xanh mặt mũi kìa!” Mặc dù không chỉ bọn trẻ con bám vào từng lời chú kể và bây giờ nghiện những câu chuyện lang thang của chú, mà cả người lớn nữa. Vì một khi chúng ta đã quen với giọng ông chú này, lúc nào chúng ta cũng muốn nghe giọng của chú.

Có nhiều giai đoạn khác trong đời khi ta trở nên gắn kết với một giọng điệu, với lời lẽ của một người kể chuyện. Trong những văn phòng đông người, trong quân đội, ở trường học, ở những cuộc họp mặt, ta nhận ra những con người đặc biệt này trước hết từ màu sắc trong giọng nói của họ. Đôi khi ta đã quá quen nghe họ đến nỗi khi muốn nói chuyện với họ thì không phải bởi ta tò mò muốn biết họ có điều gì để nói mà đơn giản chỉ vì chúng ta mong lại được nghe giọng của họ. Chúng ta lệ thuộc vào ông chú này như lệ thuộc vào một người hàng xóm nhiều chuyên, hay loại diễn viên có thể làm khán giả bật cười ngay lúc bước ra sàn diễn, thậm chí trước khi mở miệng. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, những ông chú như thế này cũng nhắc ta nhớ tới những tay phụ trách chuyên mục định kỳ trên báo được yêu thích nhất, những người có khả năng biến bất cứ chuyện gì xảy ra với họ thành truyện kể. Trong đời thực, bất cứ khi nào ta đã quen thuộc với kiểu giọng điệu thế này - thể loại người kể chuyện này - thì điều chúng ta mong muốn nhất là được nghe những suy nghĩ, những kinh nghiệm của ta được bày tỏ, nhưng qua giọng kể của người kể chuyện và từ quan điểm độc đáo của anh ta. Nó cũng tương tự như với một người họ hàng sống trên lầu mà bạn gặp hằng ngày, hay một người đồng đội bên nhau cả ngày: Bạn cần giọng nói của anh ta tha thiết đến nỗi như thể là thế giới và cuộc sống gần như không tồn tại nếu không có giọng nói đó. Chúng ta đều nên có những ông chú như vậy.

Nhưng bốn mươi năm bạn mới tình cờ gặp một ông chú như Laurence Sterne chỉ một lần. Khi tôi còn nhỏ, ông chú tôi chọc cười chúng tôi, không phải bằng những câu đố văn chương mà là toán học. Dù rất ngần ngại tham gia một cuộc thi không mong muốn, tôi vẫn muốn chứng tỏ tôi sáng láng như thế nào, và trong cơn thịnh nộ này tôi sẽ vật vã tìm câu trả lời. Nhưng còn có chuyện khác: Chú tôi có một người vợ rất đẹp. Khi năm tôi tuổi tôi thường ghé thăm cô tôi, những đồ đạc xưa của bà tôi, những tấm màn vải tuyn và những đồ trang trí đầy bụi không làm lu mờ vẻ đẹp của cô. Bốn mươi năm sau, cô tôi vẫn nhắc những lần tôi ghé thăm. Cả hai con trai của cô, Chúa ban phước cho họ, đều trở thành nha sĩ hành nghề ở Nişantaşi. Khi ra khỏi phòng nha của người anh một ngày nọ, tôi khám phá ra rằng cửa trước tòa nhà bị khóa từ bên ngoài. Tôi đang đứng đó, nhấm nháp hương vị còn lại của đinh hương, thì một con mèo vằn luồn qua khe hở của cái lò nướng và chui vào tiệm tạp hóa bên kia đường. Tiệm tạp hóa mà con mèo lẻn vào vẫn còn bán loại meze[1] ngon nhất ở Nişantaşi, đặc biệt loại nhồi rau.

Lạc đề

Điều tôi mới làm trong đoạn vừa rồi được gọi là lạc đề. Tristram Shandy đan dệt câu chuyện của mình với rất nhiều chuyện ngoại đề, và bởi vì đó là điều tất cả chúng ta thường làm, ta cảm thấy không cần phải đặt một tên mới cho nó trong thứ ngôn ngữ mà chúng ta dùng hằng ngày. Trong cuốn sách - cuốn Cuộc đời và các Ý kiến của Quý ông Tristram Shandy - chúng ta chẳng bao giờ đi đến chỗ cuộc đời và các ý kiến của Tristram Shandy. Chỉ đến tận cuối ta mới nghe nói về sự chào đời của Tristram, và rồi ông biến mất khỏi hiện trường trước khi bất kỳ ai để ý đến ông. Nhân vật của Sterne hành xử như thể ông có thể nói liên tu bất tận về lịch sử của cái thế giới nơi ông ra đời, quan điểm của cha ông về sinh nở, và về cuộc đời nói chung. Nhưng ông không bao giờ dừng lại một đề tài quá lâu. Ông giống như một con khỉ vui vẻ, đu từ cành này sang cành kia, không bao giờ ngưng nghỉ, nhảy từ đề tài này sang đề tài kia, luôn tiến về phía trước.

Người đọc hầu như lúc nào cũng có cảm tưởng như Sterne chẳng biết câu chuyện của mình đang trôi về đâu. Nhưng có những nhà phê bình danh tiếng như Victor Shklovsky đã chứng minh rằng có nhiều đầu mối trong văn bản, và cùng với cấu trúc tự sự của cuốn sách, cho thấy rằng Sterne đã hoạch định cuốn tiểu thuyết với sự chăm chút tối đa. Vậy ta hãy nhìn xem người kể chuyện của chúng ta nói gì về đề tài này, trong phần thứ hai của quyển thứ tám: Ngày nay trên trái đất tồn tại nhiều cách thức để bắt đầu một cuốn sách, và tôi chắc chắn rằng tôi đã chọn cách tốt nhất - ít nhất thì đó là cách gần với tôn giáo nhất - bởi vì điều tôi làm là viết câu đầu tiên còn câu thứ hai dành cho Thượng đế Đấng Toàn tri.

Toàn bộ câu chuyện theo cùng một logic, mãi mãi tán ra ngoại đề - thường xuyên đến nỗi ta có thế nói đề tài đích thực của cuốn sách là sự ngoại đề. Nhưng nếu Sterne có bao giờ đoán được rằng một kẻ nào đó như tôi đây có thể bắt nọn ông về chuyện này, ông sẽ ngay lập tức chuyển đề tài.

Vậy chủ đề là gì?

Khi các tiểu thuyết gia đi lạc đề thì ta chán. Sau rốt, ta phàn nàn thế, bất cứ khi nào ta phát chán với một cuốn tiểu thuyết, ta lại bảo nó lạc đề. Nhưng có rất nhiều lý do khiến một tiểu thuyết thôi không còn thú vị. Những đoạn tả thiên nhiên dài dòng khiến một số người ngáp; một số sẽ chán khi không đủ những pha tình dục, một số khác lại chán khi quá nhiều những pha ấy; một số bực bội bởi những nhà tối giản và một số khác bực bội bởi các tác giả đi quá chi tiết vào các hoàn cảnh gia đình rắc rối. Điều khiến một cuốn tiểu thuyết trở nên thuyết phục không phải là sự hiện diện hay thiếu vắng của các phẩm chất trên, mà là kỹ năng và phong cách của tiểu thuyết gia. Nói cách khác, tiểu thuyết có thể nói về bất cứ thứ gì. Đó chính là thể loại sách của Tristram Shandy: một cuốn sách về bất cứ thứ gì.

Ta đừng quên rằng “bất cứ thứ gì” phải tuân theo một logic xác định. Một nhà văn có thể nhồi nhét mọi thứ và bất cứ thứ gì vào một tiểu thuyết, nhưng ngay cả vậy, người đọc chúng ta nhanh chóng phát chán và mất kiên nhẫn bất cứ khi nào tác giả trượt khỏi đề tài, mất quá nhiều dòng để nói điều phải nói, hay gộp cả những chi tiết vô bổ. (Sự nôn nóng là một khái niệm quan trọng trong Tristram Shandy: Sterne ưa nói rằng ông viết để thoát khỏi buồn chán.) Điều giúp Sterne có thể viết về mọi thứ và bất cứ thứ gì (và là điều khiến chúng ta hứng thú bất chấp cái kiểu kể chuyện bất thường) là cái giọng điệu lạ lùng mà tôi tả ở phần trên. Cuốn sách này là tập hợp những chuyện quái đản và những bài giảng đạo giễu cợt - chẳng hạn ta đang nghe những chuyện phiêu lưu của chú Toby thì ngay kế đó lại xem cha của Tristram vặn chiếc đồng hồ của ông nội về một ngày Chủ nhật - và khi chàng Tristram Shandy chưa chào đời dần dần hội nhập với Sterne-tiểu thuyết gia, chúng ta biết về mọi thứ tình cờ diễn ra trong đầu tác giả khi ông bắt đầu kể lại câu chuyện của Tristram.

Vậy hãy kể cho chúng tôi câu chuyện của tác giả đi

Laurence Sterne là con trai một hạ sĩ quan nghèo. Ông sinh năm 1713 ở Ai Len. Những năm đầu đời ông sống cùng gia đình tại nhiều nơi đóng quân ở Ai Len và Anh. Kể từ khi mười tuổi ông không bao giờ trở lại Ai Len nữa. Khi ông mười tám tuổi, cha ông chết, khiến gia đình càng nghèo túng thêm, nhưng một người họ hàng xa giúp ông tiếp tục đi học thần học và văn hóa Hy La ở Cambridge với hy vọng ông có thể tìm được một chức vụ trong nhà thờ. Tốt nghiệp, ông bước chân vào Nhà thờ Anh quốc, nhanh chóng được thăng bậc nhờ sự trợ giúp của một số giáo sĩ mà ông có quan hệ. Năm hai mươi tám tuổi ông cưới Elisabeth Lumley; trong số các con của họ chỉ cô con gái Lydia là sống sót. Cho đến trước khi ông xuất bản cuốn Tristram Shandy năm 1760 lúc bốn mươi bảy tuổi, cuộc đời ông không có sự kiện nào đáng chú ý ngoại trừ chứng trầm uất của vợ ông.

Cho dù có nguồn gốc Anh giáo hay đạo Hồi dòng Sunni, truyện kể của một giáo sĩ hàm chứa một thông điệp đạo đức rõ ràng xuất phát từ thánh kinh, đó là lẽ tự nhiên. Nên những câu chuyện mà giáo sĩ kể phải có một mục đích, loại mục đích mà các nhà luân lý của chúng ta và các nhà phê bình có trách nhiệm xã hội muốn nhìn thấy trong văn chương. Chúng ta lắng nghe bài giảng ngày thứ Sáu của Imam Nurullah Efendi bởi vì ông có một mục tiêu, một bài học luân lý để truyền đạt; kỹ năng, nước mắt của ông, khả năng ông làm chúng ta xúc động và sợ sệt, giọng của ông và quyền năng trần thuật của ông đều chỉ là thứ yếu. Đây chính là điều khiến cho Sterne thật mới lạ và độc đáo: Mặc dù là giáo sĩ, ông sáng tạo ra một hình thức có thể gọi là “truyện kể không mục đích”. Ông không viết để hướng tới một mục tiêu cụ thể, hay để dạy một bài học, mà chỉ vì niềm vui thú được kể một câu chuyện. Hơn thế nữa, ông tham dự mối đam mê hiện đại này một cách có ý thức; không có mục đích không phải là thất bại, mà bản thân việc không mục đích đã là mục đích. Đây là điều tách biệt ông khỏi một người chỉ biết lảm nhảm. Điều này bất chấp thực tế rằng, trong giọng điệu và cung cách của ông, có khối thứ gợi nhớ những chuyện ngồi lê đôi mách trống rỗng.

Khỏi cần phải nói, Sterne - sống trong một xã hội không quen với việc giáo sĩ viết tiểu thuyết chẳng có mục đích gì và gửi chúng đến London để xuất bản cho nhiều người đọc - khiến người ta vừa bực tức vừa ganh tị. Ông bị tấn công bởi những kẻ không thưởng thức được sự hóm hỉnh của ông và bởi những loại người ưa bực tức, ganh ghét hay chĩa mũi vào chuyện người khác vốn luôn rất đông đảo; ông bị tố cáo viết truyện dâm tục, đường đường là giáo sĩ mà viết quá tào lao, viết một tiểu thuyết không có ý nghĩa gì, nhạo báng tôn giáo, và dùng ngữ pháp tệ hại, câu què quặt, và những từ tự bịa đặt không có nghĩa rõ ràng.

Trong khi những chỉ trích cứ tiếp tục, ông cũng phải vật lộn với những vấn đề gia đình và sức khỏe suy sụp (ông bị lao từ khi còn trẻ). Nhưng trí tuệ của ông lúc nào cũng sắc sảo, và ông chưa bao giờ thôi cười cợt mọi thứ. Sterne rất hạnh phúc vì ta biết rằng ông vội vã đến London khi sách của ông bắt đầu bán chạy, nối tiếp thành công đầu tiên với những cuốn sách mới, và củng cố “những gắn kết tình cảm” với đàn bà. Bởi vì Sterne (nghe thật lạ trong một quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, với những kẻ bảo thủ về tôn giáo, những người theo phái truyền thống hay những người quốc gia chủ nghĩa vốn chẳng biết đùa là gì, và những người theo phái Jacobin khắc khổ) hẳn sẽ rất vui khi biết rằng có những độc giả đủ thông minh để thưởng thức Tristram Shandy cũng như các nhà văn chịu ảnh hưởng của ông.

Thôi được rồi, vậy chủ đề của Tristram Shandy là gì?

Tôi muốn nói rõ rằng nếu bạn đã bắt đầu thiếu kiên nhẫn, và tự hỏi lòng rằng khi nào lời giới thiệu này mới kết thúc, thì bạn sẽ chẳng bao giờ có đủ kiên nhẫn để đọc xong chính cuốn sách. Để đáp lại lời nằn nì của bạn, bây giờ tôi sẽ tóm tắt lại các chương trong tập đầu tiên:

1. Người kể chuyện, phát ngôn từ một nơi nào đó giữa tác giả và bản thân Tristram, mô tả những tình huống buồn bã về sự chào đời của mình.

2. Tác giả nói về Homunculus - Người bé nhỏ - tức là, phiên bản của tinh trùng đã thụ thai ra ông.

3. Chúng ta khám phá ra rằng câu chuyện sẽ xuất hiện trong chương tiếp theo được chú Toby kể cho tác giả.

4. Tôi rất vui sướng về cách mà tôi bắt đầu câu chuyện, tác giả nói, và ông tiếp tục kể ta nghe về đêm ông được thụ thai.

5. Tác giả thông báo cho chúng ta rằng ông sinh ngày 5 tháng Mười một năm 1718.

6. Tác giả cảnh báo độc giả, Nếu trong khi kể chuyện tôi chơi các trò chơi và nếu có lúc tôi vận đồ của một anh hề - thậm chí nếu có chuông trên các ngón chân - thì xin đừng bỏ đi.

7. Những khó khăn mà một cha xứ và vợ gặp phải khi tìm kiếm một bà mụ.

8. Ông cho ta làm quen với những sở thích của ông - Tùy ý thích, đôi khi tôi chơi violon và đôi khi vẽ - và đưa ra một lời đề tặng.

9. Giãi bày về lời đề tặng này.

10. Quay trở lại chuyện bà mụ.

11. Giới thiệu ông Yorick, người lấy tên theo tên anh hề hoàng gia mà Shakespeare đã khảo sát hộp sọ.

12. Những trò đùa của Yorick và kết cục buồn của ông.

13. Lại quay lại chuyện bà mụ.

14. Tác giả giải thích tại sao ông chưa đi đến cuối câu chuyện và cứ rẽ ra các đường nhánh: một ngoại đề về ngoại đề.

15. Câu chuyện về tờ giấy chứng nhận kết hôn của mẹ tác giả.

16. Cha của ông từ London trở về.

17. Những mong ước của cha ông khi quay về nhà.

18. Những chuẩn bị cho việc sinh ở tỉnh lẻ và những suy nghĩ khác.

19. Sự căm ghét của cha ông đối với cái tên Tristram và những ám ảnh triết học của ông.

20. Tác giả mắng mỏ những độc giả không chú tâm - điều mà tác giả lời giới thiệu này đôi lúc cũng phạm phải. Dĩ nhiên điều này không có nghĩa ông là một tác giả chuyên chú.

21. Chúng ta tiến gần đến cuộc sinh nở, mặc dù vậy những mảng ngoại đề cứ tiếp tục thật nhiều.

22. Những suy nghĩ của tác giả về phương thức trần thuật của ông: Nếu cần tóm tắt lại bằng một từ, sự sáng tạo của tôi thiên về ngoại đề, trong khi cũng hướng về phía trước - và cả hai cùng một lúc.

23. Tôi muốn bắt đầu chương này bằng sự vô nghĩa, và tôi không muốn cản trở trí tưởng tượng của tôi. Về thú tiêu khiển.

24. Về chú Toby như là một thú tiêu khiển.

25. Vết thương háng mà chú Toby chịu trong chiến tranh và lời khoe khoang kết thúc tập thứ nhất: Nếu độc giả chưa thể đoán được bất cứ điều gì về bất cứ những chuyện đang diễn ra, trách nhiệm phần lớn thuộc về tôi, bởi vì tôi có một thứ tính khí thế này: nếu tôi nghĩ bạn nảy ra được dù chỉ một ý nhỏ nhất hoặc một giả thuyết về chuyện trên trang kế tiếp bạn sẽ tìm thấy gì, tôi sẽ xé trang đó khỏi cuốn sách của tôi.

Vậy thì chủ đề là gì?

Chủ đề là sự bất khả trong việc tiến tới điều muốn nói, đến tâm điểm, trung tâm của câu chuyện: do đó mới có sự lộn xộn, sự trần thuật cẩu thả, và sự dễ dàng theo đuổi bất kỳ điều sao nhãng nào, bất kỳ ý nghĩ mới nảy ra nào, bất cứ cớ nào để ngoại đề - vì nếu Sterne hứng thú với những sự kiện không mấy quan trọng và với cái logic thực thụ của ngoại đề (và ta hãy nhớ rằng tác giả quyết chí như thế nào trong việc ngăn cản người đọc đoán được điều gì xảy ra trên trang kế tiếp); nếu ông không sẵn lòng chia sẻ với những ai phàn nàn rằng đoạn mở đầu và đoạn kết là vô nghĩa, ý nghĩa của đoạn giữa thì kỳ cục, và rằng tổng thể tác phẩm vừa quá sức chịu đựng của não vừa đầy ắp những khuếch trương rỗng tuếch - thì bởi vì đó chính là điều muốn nói. Cả về đề tài cũng như hình thức, Tristram Shandy phản ảnh cuộc đời thực một cách chính xác.

Vậy anh nói gì, rằng cuộc đời giống thế này ư?

Câu hỏi này, đặc biệt nếu được hỏi trong cơn giận dữ, là người bạn tốt nhất của tiểu thuyết gia, và tôi thậm chí còn đi đến chỗ cho rằng các tiểu thuyết gia viết sách với mục đích công khai là khích người ta hỏi câu này. Tiểu thuyết chỉ có giá trị bằng như những câu hỏi mà chúng gợi ra về hình dáng và bản chất cuộc sống. Những tiểu thuyết gia vĩ đại (chỉ có vài người) lưu trú trong suy nghĩ chúng ta không phải vì họ trực tiếp đánh đố các nhân vật của họ bằng câu hỏi này, hoặc khiến người dẫn chuyện của họ thảo luận với những người suy nghĩ giống họ, mà vì trong khi mô tả những chi tiết vụn vặt và bất thường của đời sống, và những vấn đề lớn nhỏ của nó, những câu hỏi này bật ra trong cấu trúc, trong ngôn ngữ, trong không khí, trong giọng điệu của họ. Trước khi đọc một tiểu thuyết nhất định, chúng ta có quan niệm riêng của chúng ta về cuộc đời - những quan niệm được xác nhận bởi những tiểu thuyết bình thường (những vở mê lô lãng mạn được giả định sẽ khởi hoạt cảm giác chân thật của tình yêu, những mê lô chính trị trong đó những phàn nàn trách móc giả trang thành chính trị; và mọi câu chuyện kể cả ngàn năm qua lặp đi lặp lại rằng người tốt từng cư trú trên trái đất giờ đã bị thay thế bởi giống lính đánh thuê tâm địa xấu xa) - nhưng trong một tiểu thuyết lớn, tác giả cho ta một cách thức mới mẻ để hiểu cuộc đời.

Trong lần đọc đầu tiên, Tristram Shandy khó đọc, mọi cuốn sách thách thức những quan điểm căn bản của chúng ta về cuộc đời và viết lách thường là vậy. Ta giận dữ và tức tối với chúng. Ta nói, “Chẳng có nghĩa lý gì, tôi bỏ dở chừng.” Những độc giả sáng láng nhất cũng phàn nàn tương tự như những người có gu đơn giản: “Không thể đọc được, vì cuộc đời có giống thế đâu,” cả hai đều nói vậy. Nhưng trong khi những độc giả đầu bắp cải khoe khoang về cái sự không hiểu gì và chê bai cuốn sách vì nó thách thức những quy tắc hẹp hòi của họ (người ta đã viết nhiều về cách kể chuyện rối rắm của Sterne, sự vô luân của ông, và việc ông khước từ những quy tắc ngữ pháp), độc giả có tình cảm tinh tế hơn cảm thấy khó chịu hơn. Đằng sau làn khói và sự ầm ĩ của cơn giận của anh ta, có cái tri thức rằng văn chương vĩ đại là cái mang lại cho con người hiểu biết về chỗ đứng của mình trong vạn vật, và do đó, nhắc nhở anh ta rằng viết văn là một trong những hoạt động sâu xa nhất, lạ lùng và kỳ diệu nhất của loài người, anh ta lại nhặt cuốn sách lên trong khoảnh khắc của cô đơn.

Những cuốn sách như thế này chạm vào những sự thật mà người đọc tự nhiên luôn tìm thấy - những sự thật mà những kẻ giả cầy văn chương không bao giờ hiểu được. Ngay cả khi họ tranh cãi với sự hoang dã lạ lùng của cuốn sách, những độc giả thông minh tình cờ có mặt trên những kho báu của nó và những khoảnh khắc xuất chúng của nó sẽ nhận ra nền tảng của văn chương thực sự, theo một cách mà nhà lập pháp buồn tẻ của luật pháp văn chương không bao giờ có thể làm được. Nhưng đừng giả định sự công nhận sẽ đến dễ dàng. Ngay cả con người thông thái Samuel Johnson cũng cho phép cái phần học thuật trong ông lấn át khi nói về cuốn tiểu thuyết trên tay bạn: Vội vã lập ngôn, ông tuyên bố, “Không có gì lạ lùng sẽ tồn tại. Tristram Shandy sẽ không bao giờ sống.” Viết lời tựa cho bản dịch tiếng Thổ của Tristram Shandy hai trăm bốn mươi năm sau khi cuốn sách được xuất bản là một vinh dự và là niềm vui.

Vậy cuốn sách này dạy cho tôi điều gì?

Như luôn tự nhắc nhở bản thân (và xin lỗi vì đã nhắc nhở cả bạn), tôi sống trong một nước nghèo nơi người ta thường đọc những cuốn sách lớn không phải vì thú vui mà vì ích lợi của chúng, và là nơi người biết chữ có nhiệm vụ giúp đỡ những người kém may mắn hơn; đây là lãnh địa của tôi, tôi đã tìm thấy một cách thức dễ dàng nhưng lừa bịp để làm cho sách trở nên quan trọng hơn với người đọc, bắt đầu bằng cách chỉ ra sách có thể giúp họ tiến bộ như thế nào. Ví dụ thế này: Như mọi tiểu thuyết vĩ đại, Tristram Shandy phong phú chất liệu cuộc sống - với những nghi thức, trạng thái tinh thần và sự tinh tế. Cho nên, Chiến tranh và hòa bình cho ta chi tiết về trận Borodino[2], và Moby Dick miêu tả chi tiết tường tận về săn cá voi, còn Tristram Shandy cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cuộc đời và thời đại của một cậu bé sinh ở Ai Len vào thế kỷ 18, người sau đó đã trở thành một giáo sĩ Anh quốc. Thêm vào đó, Tristram Shandy là hình mẫu hàng đầu của “óc thông thái” hay “tính hài hước triết học”, cùng với Giải phẫu nỗi sầu của Robert Burton, Don Quixote của Cervantes và Gargantua và Pantagruel của Rabelais. Khối kiến thức bách khoa mà những độc giả thiếu kiên nhẫn gọi là ngoại đề, những mệnh đề triết học đầy thuyết phục, những màn phô bày kiến thức quá lố, những nghiên cứu về tính cách và tâm hồn con người - vâng, chúng ở cả đây trong cuốn sách này, nhưng chúng được cân đối bởi sự thông thái tinh tế và sự nghiêm trang vờ vịt mà Sterne mang đến cho những đề tài quan trọng này và bởi một nhân vật có những cuộc phiêu lưu nhạo báng, lật đổ và gây nghi ngờ đối với những khẳng định mang tính cách triết học đó. Những cuốn sách vĩ đại, lộng lẫy, và mang tính bách khoa này trên hết là những cuốn sách nói về sách, chúng chỉ cho ta thấy rằng kiến thức nền tảng sâu sắc về cuộc sống chỉ đến từ việc đọc sách và rồi viết những cuốn sách mới mâu thuẫn với chúng. Ví dụ đầu tiên của dạng tiểu thuyết triết học này, được kể bởi một nhân vật mà cả cuộc đời đã bị đầu độc bởi những giấc mơ gom góp từ sách, là Don Quixote, bản thân anh là nạn nhân của những tiểu thuyết kiếm hiệp; và ví dụ cuối cùng là Bà Bovary (và có thể là tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa đầu tiên), trong đó nhân vật, sau khi bị đầu độc bởi tiểu thuyết lãng mạn và không thể tìm thấy điều bà muốn tìm kiếm trong tình yêu, đã lựa chọn đầu độc chính mình.

Cảnh “hiện thực” ở cuối cuốn tiểu thuyết (trong đó Emma Bovary quỵ ngã không phải trước một cuốn sách mà trước một loại thuốc nguy hiểm chết người) có tác động lớn về văn chương trên khắp thế giới; cái “chủ nghĩa hiện thực” quá liều này cũng là để đầu độc văn chương Thổ Nhĩ Kỳ, đẩy nó đến một thực tại hời hợt. Sống trong phạm vi của châu Âu và tin tưởng châu Âu là nguồn của mọi chân lý, chúng ta vẫn mãi tin rằng cái chủ nghĩa hiện thực phẳng lì này là cách duy nhất tiến về phía trước, nhiều đến nỗi sáu mươi lăm năm sau khi Ulysses được xuất bản lần đầu, chúng ta hãy còn bận rộn quên đi các truyền thống văn chương của chúng ta - phớt lờ cách chúng ta viết và cảm. Chúng ta quên rằng tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa không phải là truyền thống quê nhà mà là một hình thức tự sự chúng ta chỉ mới du nhập từ phương Tây về thông qua hình mẫu của Flaubert, người từng đích thân đến thăm Istanbul năm 1850. Ngày nay, chúng ta phải chịu đựng một thế hệ các nhà phê bình đầu óc hẹp hòi, không biết hài hước, quốc gia chủ nghĩa, chỉ trích bất kỳ hình thức tự sự nào không mang tính hiện thực chủ nghĩa hời hợt là “xa lạ với truyền thống chúng ta”. Nếu những cuốn như GargantuaPantagruel và Tristram Shandy được dịch sớm hơn, chúng có thể đã gây ảnh hưởng đối với cái thế giới văn chương nhỏ bé của ta, và tiểu thuyết Thổ Nhĩ Kỳ yếu ớt đã có thể tiếp nhận tốt hơn những phức tạp của cuộc sống. (Đến bây giờ bạn hẳn đã học cách không nổi giận với Orhan, người đã đã dành cuộc đời mình cho lý tưởng này, khi anh phát ngát ngôn những điều đó.) Còn về Ulysses, tiểu thuyết này đã làm hết sức để cứu thế giới khỏi chủ nghĩa hiện thực hời hợt. Thò ra từ cái lồng chim chủ nghĩa hiện thực, tiểu thuyết yếu ớt của Thổ Nhĩ Kỳ cần xuất phát từ những truyền thống của mình, giấc mơ của mình mà dang cánh bay đi!

Hỡi bạn đọc đang tràn ngập tình yêu và niềm hân hoan do đã biết được quá nhiều chỉ từ lời tựa này thôi! Bây giờ hãy để tôi thì thầm vào tai bạn điều hữu ích nhất trong cuốn sách này, bài học nó dành cho bạn. Hãy nghe cho kỹ, và đừng cố giả đây là ý tưởng của riêng mình trong sáu năm sắp tới.

Và đây, bài học căn bản mà cuốn sách này dạy ta

Cái logic đằng sau tất cả huyền thoại, tôn giáo và triết lý vĩ đại là dạy ta những chân lý vĩ đại và căn bản. Ta hãy gọi một thao tác như thế là đại tự sự, vì nó mang hình thức một câu chuyện chi tiết và mang tính văn chương nhiều hơn thường nghĩ. Trong tiểu thuyết văn học, có nhiều cách thức để đưa đời sống hằng ngày và các cuộc phiêu lưu của mọi người vào trong các đại tự sự này. Chúng trao cho ta những nhân vật mà đầu óc hướng vào một điều cốt lõi, một cuộc truy tầm, một điểm xa xôi. Chúng ta có thể đánh giá một nhân vật hưởng thụ quá mức những thú vui xác thịt hay việc theo đuổi đồng tiền là một chiều, một bức hý họa, nhưng nhân vật sống nhờ vào đại tự sự này (vì tình yêu, quốc thể, hay lý tưởng chính trị) sung sướng hưởng thụ trong vinh quang và do đó không bao giờ có vẻ một chiều. Don Quixote không phải là một hý họa mà là một con người tròn trịa. Nhưng điều mà Tristram Shandy nói với chúng ta là, cho dù mục đích và cá tính của một người là gì, và tính cách của anh ta ổn định thế nào, đầu óc và cuộc đời anh ta vẫn bề bộn hơn nhiều.

Nói cách khác, việc ta có tin vào đại tự sự hay thực ra là bóng dáng của nó hay không đâu phải vấn đề; cả hai rõ ràng là quá phi tuyến tính nên không thể chuyển tải hình dáng của thực tại. Cuộc sống chúng ta không có một trung tâm, một điểm tập trung đơn nhất; cái diễn ra trong đầu chúng ta quá hỗn độn nên chúng ta chẳng bao giờ đạt đến sự tập trung như thế. Cuộc đời cũng vậy: Như Tristram, cả đời chúng ta cứ nhảy cóc từ đề tài này sang đề tài khác, kể chuyện, theo đuổi những mộng tưởng, và luôn miệng nói Phải chi với chính ta, bất cứ điều gì chợt đến trong đầu chúng ta. Chúng ta mãi mãi cởi mở, mãi mãi sẵn lòng với sự sao nhãng, và ý nghĩ của chúng ta cứ vẩn vơ; ta ngừng ngang một câu chuyện giữa chừng để cắm đầu vào một trò đùa, và trong khi làm như vậy ta phản ánh những ngạc nhiên và trùng hợp của cuộc sống theo những cách thức mà một đại tự sự không bao giờ có thể làm được. Dù ta sống chủ yếu trong khoảnh khắc này, vất vả để tự bảo vệ mình, vất vả gượng đứng trên chân mình, rồi sẽ có lúc - có lẽ là lúc ta nằm xuống chết, hoặc trong trường hợp của cuốn tiểu thuyết này, khi ta chờ đợi khoảnh khắc ta chào đời - ta sẽ hỏi chính ta cuộc đời có ý nghĩa gì; thay vì chấp nhận những hình dáng to lớn mà tôn giáo, triết học và huyền thoại đề xuất, ý nghĩ của chúng ta sẽ phản ánh hình dáng của cuốn sách này.

Tóm tắt: Cuộc đời không mô phỏng điều được kể trong những tiểu thuyết lớn, nó mô phỏng hình dáng của cuốn sách trong tay bạn.

Nhưng hãy chú ý: Cuộc đời không mô phỏng chính cuốn sách, chỉ mô phỏng hình dáng của nó. Bởi vì cuốn sách này không thể đưa bất cứ câu chuyện nào đến hồi kết và thực ra là không thể có ý nghĩa gì.

Đoạn kết

Đời chẳng có ý nghĩa gì, chỉ có mỗi hình dáng này.

Chúng ta biết điều đó rồi, vậy can cớ làm sao mà Sterne phải viết những sáu trăm trang sách để chứng tỏ điều đó? Nếu bạn hỏi như vậy, câu trả lời của tôi là thế này:

Mọi tiểu thuyết vĩ đại mở mắt cho bạn trước những sự vật bạn đã biết nhưng không thể chấp nhận, đơn giản chỉ vì chưa có tiểu thuyết vĩ đại nào đã mở mắt cho bạn trước những sự vật đó.

❀ ❀ ❀

[1] Meze: một món ăn Thổ bao gồm nhiều món nhỏ khác nhau.

[2] Trận Borodino: trận chiến đẫm máu lớn nhất của Napoléon ở Nga.

ors: Essays and A Story ebook©MotSAch Nhã Nam & NXB Văn Học tve-4u©vctvegroup | 07-04-2021
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.