Tôi bị đánh thức vào khoảng giữa nửa đêm và sáng sớm - sau này tôi biết là ba giờ sáng - bởi những đợt xóc đầu tiên. Hôm đó là ngày 17 tháng Tám năm 1999, tôi đang ở phòng làm việc trong ngôi nhà bằng đá của chúng tôi trên đảo Sedef, hòn đảo nhỏ ngay sát Büyükada, và giường tôi, cách bàn làm việc non ba mét, lắc lư kịch liệt như xuồng trong cơn bão. Một tiếng rền rĩ đáng sợ dội lên từ lòng đất, dường như ngay dưới giường tôi. Không dừng lại để tìm cặp kính, theo bản năng hơn là lý trí, tôi lao ra cửa và bắt đầu chạy.
Bên ngoài, sau những lùm cây thông và bách ngay trước mắt tôi, giữa ánh đèn của thành phố xa xa, và trên mặt biển, đêm đang rung rinh. Cứ như thể mọi sự diễn ra cùng một lúc. Trong khi một phần trí óc tôi ghi nhận trận động đất với toàn bộ sự bạo liệt của nó và chăm chú lắng nghe tiếng động từ lòng đất, phần khác lại ngơ ngác hỏi, Sao đêm hôm khuya khoắt mà mọi người lại bắn nhau? (Bom, các vụ ám sát, và những cuộc đột kích ban đêm của những năm 1970 có thể đã khiến tôi liên hệ tiếng súng bắn với thảm họa.) Sau đó tôi nghĩ rất lung, mà vẫn không nhận ra, về thứ âm thanh nghe như tiếng nổ của vũ khí tự động.
Những chấn động đầu tiên kéo dài bốn mươi lăm giây, làm 30.000 người chết; trước khi chúng kết thúc, tôi đã leo cầu thang phụ lên tầng trên nơi vợ và con gái tôi đang ngủ. Họ đã thức giấc chờ đợi trong bóng tối, hốt hoảng không biết phải làm gì. Điện đã mất. Chúng tôi cùng nhau đi ra ngoài, ra vườn, vào trong sự im lặng của bóng đêm vây phủ. Cơn gầm rống kinh khủng đã dứt, và lúc đó như thể mọi vật quanh tôi đều đang sợ hãi đợi chờ. Khu vườn, cây cối, hòn đảo nhỏ bé có những mỏm đá cao vây quanh này - sự im lặng trong tĩnh mịch đêm, ngoại trừ tiếng lá khẽ xao xác và nhịp tim tôi đập, biểu hiện của một điều gì kinh khủng. Trong bóng tối dưới lùm cây, chúng tôi thì thầm gượng gạo lạ kỳ - e sợ, có lẽ thế, chọc giận một cơn động đất khác. Có vài cơn chấn động nhẹ tiếp đó, nhưng chúng không làm chúng tôi sợ. Một lát sau, nằm trên võng với cô con gái bảy tuổi ngủ trong lòng, tôi nghe tiếng còi xe cấp cứu vọng đến từ mạn bờ biển Kartal.
Những ngày kế tiếp, giữa những chuỗi dư chấn liên tu bất tận, tôi nghe nhiều người khác thuật lại chuyển động của họ trong bốn mươi lăm giây chết chóc đầu tiên đó. Hai mươi triệu người cảm nhận cơn chấn động đầu tiên và nghe tiếng gầm ấy từ lòng đất, và sau này, khi họ liên lạc được với nhau, không phải họ bàn về con số thương vong đáng kinh ngạc mà là về bốn mươi lăm giây ấy. Hầu hết nói, “Bạn không thể nào hiểu được trừ phi đích thân bạn sống qua lúc đó.”
Một viên dược sĩ không hề hấn gì chui ra từ một khu căn hộ chỉ còn là đống gạch vụn, và điều anh ta nói phù họp với lời chứng của hai người khác cũng xuất hiện từ cùng tòa nhà không thương tích; anh không bị ảo giác. Tòa nhà năm tầng của anh đã nhảy chồm lên không trung - anh đã cảm thấy điều này rất rõ rệt - và rồi rơi xuống chỗ cũ, vỡ vụn ra. Một số người thức giấc thấy cả mình lẫn nhà tròng trành một cách siêu thực từ bên này sang bên nọ; khi khối kết cấu bắt đầu đổ nhào những cư dân ở đây đã chờ chết, nhưng rồi tòa nhà bên cạnh cũng đổ khiến tòa nhà của họ bị chặn lại, những người này chợt thấy mình bám víu vào một góc của một cái gì đấy. Họ thở phào ôm choàng lấy nhau; sau này một số xác chết được tìm thấy dưới đống đổ nát cũng chứng minh cho điều đó. Mọi thứ - xoong nồi, ti vi, tủ ly, kệ sách, đồ trang trí, vật treo trên tường - bị bật ra khỏi chỗ treo, nên những người mẹ, người con, chú, bác, ông, bà đang hoảng loạn tìm nhau bị những thứ đồ vật chẳng biết là món gì va vào cũng như đâm sầm vào những bức tường mới mọc mà họ chẳng nhận ra. Những bức tường này, thay đổi hình dáng chỉ trong khoảnh khắc, giũ sạch những vật treo trên chúng; bàn tủ giường ghế lộn nhào; những đám mây bụi và bóng tối - mọi thứ biến các căn nhà thành những nơi chốn rất khác, khiến nhiều người mất phương hướng, dù trong vòng bốn mươi lăm giây có vài người đã cố phóng xuống được nhiều bậc thang thoát ra đường trước khi tòa nhà đổ sụm.
Tôi nghe chuyện về hai ông bà cụ nằm trên giường chờ chết, về những người bước ra trên chỗ mà họ ngỡ là ban công tầng bốn nhưng không ngờ lại thấy mình ở ngay khoảng sân tầng trệt, về những người mở cửa tủ lạnh ngay lúc cơn chấn động đầu tiên bắt đầu và rốt cuộc phun ra bất cứ thứ gì vừa bỏ vào miệng trước khi có cơ hội nhai nó. Đáng ngạc nhiên là kha khá người kể rằng họ thức và đứng đâu đó trong nhà mình ngay trước khi cơn chấn động đầu tiên ập tới. Một số khác kể lại họ đã loay hoay trong bóng tối cho đến khi nỗi sợ về sự rung lắc dữ dội chiếm lấy họ khiến họ rớt xuống sàn, không dám nhúc nhích tí nào. Có khá nhiều người lại kể họ không ngồi dậy nổi trên giường; với nụ cười thanh thản, họ kể với tôi rằng họ chỉ kéo chăn trùm đầu và để mặc số phận cho Allah - nhiều xác chết được tìm thấy trong tư thế này.
Tôi nghe được tất cả những chuyện này theo đường truyền miệng, thông qua mạng lưới tán gẫu cực nhanh của Istanbul; suốt cả ngày người ta không nói chuyện gì khác ngoài chuyện động đất. Buổi sáng hôm sau sự kiện đó, tất cả đài truyền hình tư nhân hàng đầu đưa các đội trực thăng quay phim vào khu vực bị ảnh hưởng; họ truyền hình ảnh liên tục. Trên hòn đảo nhỏ của tôi, và trên những hòn đảo lớn hơn và đông người hơn quanh chúng tôi, thương vong rất ít, nhưng tâm chấn chỉ cách hai mươi lăm dặm theo đường chim bay. Trên bờ biển đối diện chúng tôi, nhiều tòa nhà xây tồi đã sập khiến cơ man người chết. Cả ngày, trong chợ Büyükada, một sự im lặng đáng sợ, đầy tội lỗi ngự trị. Tôi không thể nào chấp nhận được thực tế là cơn động đất đã xảy ra quá gần và làm thiệt mạng quá nhiều người, rằng nó đã ập vào những nơi tôi trải qua phần lớn thời thơ ấu, và sự không tin này làm tôi hãi hùng hơn cả.
Phần lớn thiệt hại xảy ra trong vịnh Izmit. Vịnh hình lưỡi liềm, và nếu ta hình dung nó như lưỡi liềm trên cờ Thổ Nhĩ Kỳ, thì nhóm đảo trong đó có hòn đảo nhỏ của tôi sẽ nằm ở vị trí của ngôi sao. Tôi được đưa đến một trong những hòn đảo này một tuần sau khi chào đời, và trong bốn mươi lăm năm kế đó đã thăm viếng và lưu lại trên nhiều đảo và tại nhiều địa điểm trên bờ vịnh. Thành phố Yalova, rất được Atartürk yêu chuộng vì các suối nước nóng và nổi tiếng trong thời thơ ấu của tôi vì có khách sạn nhái kiểu phương Tây, giờ là một đống hoang tàn. Nhà máy hóa dầu nơi cha tôi từng làm giám đốc - tôi có thể nhớ từ khi nơi đó là một khu đất trống và nhà máy lọc dầu đã mọc lên trên đó như thế nào - đang bốc cháy. Những thị trấn nhỏ dọc theo bờ vịnh hình lưỡi liềm, những làng mạc chúng tôi đã ghé vào mua sắm trong những chuyến đi bằng xe hơi hoặc xuồng, toàn bộ bờ biển sẽ bị những khu căn hộ lừng lững lấp đầy, trong khi đó những quận huyện tôi mô tả với niềm cảm thương buồn bã trong Ngôi nhà im lặng sau này sẽ bị biến thành những khu nghỉ mát mùa hè khổng lồ. Giờ đây nhiều tòa nhà trong số này đã bị phá hủy hoàn toàn hoặc không còn ở được nữa. Nếu trong hai ngày tới trí óc tôi vẫn không chấp nhận tất cả những sự việc này, vật vã khước từ quy mô nặng nề của thảm họa, có lẽ cuốn tiểu thuyết tôi đang viết dở vào thời gian đó là kẻ đáng trách. Vì lẽ đó tôi không muốn rời hòn đảo nhỏ của tôi, nơi cuộc sống tiếp diễn lặng lẽ như trước.
Vào ngày thứ hai, tôi không thể ngăn mình được nữa. Đầu tiên chúng tôi vượt qua đảo Büyükada trên một xuồng máy nhỏ, và rồi chúng tôi đi một chuyến phà mất hàng giờ đồng hồ tới Yalova, phía bờ biển đối diện. Không ai yêu cầu tôi hay người bạn đi cùng, tác giả cuốn Ngợi ca địa ngục, thực hiện chuyến đi này; cả hai chúng tôi không có ý định viết về những gì chúng tôi thấy hoặc thậm chí kể chuyện đó với ai. Chúng tôi hành động như vậy chỉ vì mong muốn đến gần hơn với những người chết và đang chết, để rời hòn đảo nhỏ hạnh phúc của chúng tôi mà quan sát - và có lẽ để làm giảm bớt - sự khủng khiếp. Trên phà, cũng như mọi nơi khác, mọi người đọc báo và thì thào nói chuyện về trận động đất. Ông bưu tá nghỉ hưu ngồi cạnh tôi kể rằng ông có một cửa hàng nhỏ trên đảo Büyükada bán sản phẩm sữa sản xuất tại Yalova, nơi ông sống. Giờ đây, hai ngày sau trận động đất, ông về nhà để xem liệu có tủ bát hay đồ đạc nào khác sụp đổ tai hại không.
Yalova từng là một thành phố nhỏ có bờ biển rợp bóng cây và có thảo nguyên cung cấp rau quả cho Istanbul. Trong hơn ba mươi năm qua, các nhà kính trồng rau đã nhường chỗ cho đất và bê tông; cây ăn quả bị đốn, lấy chỗ cho hàng ngàn khu căn hộ; và dân số mùa hè của thành phố đã phình ra tới gần nửa triệu người. Ngay khoảnh khắc đặt chân vào thành phố, chúng tôi thấy chín phần mười những khối bê tông này hoặc chỉ còn là gạch vụn hoặc hư hỏng đến mức không thể bước vào được. Chúng tôi mau chóng nhìn thấy sự vô vọng của giấc mơ mà chúng tôi kín đáo nuôi dưỡng - rằng chúng tôi có thể giúp ai đó, tóm một góc một mảng bê tông nào đó và góp phần nhấc nó lên: Sau hai ngày, gần như không còn ai còn sống dưới đống đổ nát. Chỉ có thể tiếp cận được một vài người còn ở dưới đó nhờ những đội cứu hộ của Đức, Pháp và Nhật - những người có chuyên môn cần thiết. Tuy nhiên, quan trọng hơn vẫn là ảnh hưởng của thảm họa còn quá nặng nề đến nỗi trừ khi ai đó kéo tay bạn yêu cầu làm một công việc cụ thể, bạn không thể biết mình phải làm gì.
Có nhiều người giống như chúng tôi, lang thang trong cơn sốc, đi đi lại lại trên phố: Cùng họ chúng tôi bước đi giữa những tòa nhà sụp đổ, lật nhào hoặc nát vụn; những chiếc ô tô bị gạch vụn nghiền nát; những bức tường, cột điện và tháp nhà thờ ngổn ngang; giẫm lên những mảnh bê tông, kính vỡ, dây điện với cả dây điện thoại vương vãi đầy đường. Trong các công viên nhỏ, các khu đất trống và vườn các trường trung học, chúng tôi thấy những túp lều được dựng lên. Chúng tôi thấy những người lính, một số chặn đường còn một số thu dọn gạch vụn. Chúng tôi thấy những người lang thang ngơ ngác, tìm những địa chỉ giờ không còn tồn tại; những người đi tìm người thân yêu đã mất, những người oán trách cơn thảm họa này, những người đánh nhau vì một chỗ dựng lều. Qua những con phố thấy xuất hiện một dòng giao thông không ngớt; xe cấp cứu chở sữa và đồ hộp, xe tải đầy lính, cần cẩu và xe ủi để dọn dẹp bê tông vụn đã ngập vào sỏi rải đường. Cứ như trẻ con lúc ham chơi sẽ quên đi mọi quy tắc của thế giới thực, những người lạ bắt chuyện với nhau bỏ qua mọi quy tắc về ứng xử. Thảm họa làm mọi người cảm thấy rằng họ đang sống trong một thế giới xa lạ. Như thể là các quy luật bí mật và tàn nhẫn nhất của cuộc đời đã bị phơi bày ra như đồ đạc trong những ngôi nhà mà tường bị phá hủy hoặc sụp đổ.
Tôi chăm chú nhìn thật lâu những tòa nhà nằm nghiêng, những tòa nhà đã mất một nửa hoặc đang tựa vào những tòa nhà bên cạnh như trong một mô hình đồ chơi thành phố mà đứa trẻ nào đó nghịch ngợm sắp đặt, những tòa nhà nóc đã đâm vào những tòa nhà bên kia đường và mặt tiền rớt mất. Những tấm thảm dệt máy, treo trên những thanh cao như những lá cờ một ngày lặng gió, những cái bàn vỡ, đi văng, ghế, và những trang thiết bị phòng khách khác, những cái gối bạc thếch vì bụi và khói, những cái ti vi bị lật ngược, bình hoa và hoa trong tình trạng hoàn hảo trên ban công những căn nhà đổ nát toàn bộ, mái hiên vải bị nghiến và bẻ cong như cao su, máy hút bụi với vòi thò ra khoảng trống, xe đạp bị quăng quật vào góc kẹt, tủ quần áo mở cửa phơi bày váy và sơ mi màu sắc sặc sỡ, váy ngắn và áo khoác treo phía sau những cánh cửa đóng, màn tuyn, sột soạt trong luồng gió mát như thể chẳng có gì xảy ra… Khi chúng tôi thơ thẩn từ nhà này sang nhà nọ, mắt không rời những món đồ nội thất bị bày ra, cái lát cắt này cho thấy cuộc sống mong manh đến dường nào, được bảo vệ yếu ớt dường nào trước những tai ương. Chúng tôi cảm nhận mạng sống của chúng tôi phụ thuộc như thế nào vào quyết định của những người chúng tôi hầu như ghê tởm. Những nhà thầu bẩn thỉu, những hội đồng ăn hối lộ giả dối và những công ty xây dựng ngoài vòng pháp luật, những chính trị gia dối trá mà chúng tôi đã ta thán bao năm nay - họ đâu đó ở giữa chúng tôi, từ bên trong chúng tôi, và sự chỉ trích của chúng tôi không bảo vệ được chúng tôi trước trò xấu xa của họ.
Chúng tôi đi từ phố này sang phố nọ một lúc lâu, cảm giác rằng thảm họa đã thay đổi lịch sử và trái tim chúng tôi theo một cách không bao giờ có thể quay ngược được nữa. Đôi khi chúng tôi bước vào một con phố nhỏ với những ngôi nhà xiêu vẹo - chúng chưa hoàn toàn sụp đổ nhưng cũng nguy hiểm như vậy - hay một khu vườn sau nhà phủ đầy những mảnh vụn kính, bê tông và bát đĩa, nơi một cây thông bị một căn nhà đổ vít xuống nhưng chưa gãy lìa, một cảnh tượng mà tôi hình dung bà chủ nhà thấy khi bà nhìn ra vườn qua cửa sổ sau nhà khi nấu bếp. Những cảnh quen thuộc - bà già ở cửa sổ bếp đối diện, ông già ngồi xem ti vi trong góc quen mỗi tối, cô gái thấp thoáng sau bức rèm - tất cả đã không còn, bởi vì bản thân cái nhà bếp bên kia đường, cái góc nhà, bức rèm tuyn, những thứ chúng tôi đã nhìn thấy từ góc nhìn này bao nhiêu năm nay, đã không còn nữa. Rất có thể những người từng thích ngắm nhìn những cảnh đó cũng chẳng còn.
Những người sống sót - họ đã cố lao khỏi những tòa nhà này mà không chết - giờ đây ngồi trên những bức tường, góc đường và ghế vớ được từ đâu đấy chẳng biết là đâu, chờ đợi những người còn mắc kẹt bên trong được cứu. “Cha mẹ tôi còn trong đó,” một thanh niên nói, trỏ vào một đống lùm xùm những thanh xà bê tông gãy đổ. “Chúng tôi chờ họ được kéo ra.” Một người khác nói anh từ Kütahya đến và thấy căn hộ của mẹ mình tan nát; sau khi chỉ nơi căn hộ từng tọa lạc, anh ta nói, “Chúng tôi sẽ đi ngay khi nhận được xác.”
Mọi người đi lại trên các con đường thành phố - đứng trước những đống đổ nát, vô vọng nhìn những đội hỗ trợ khẩn cấp, cần cẩu, lính; ngồi đờ đẫn giữa những tủ lạnh, ti vi, đồ đạc, hòm xiểng đầy quần áo tìm lại được từ trong nhà của họ - ai cũng chờ đợi một điều gì đó. Chờ đợi tin tức những người thân mất tích, chờ đợi để biết chắc mẹ họ thực sự bên trong tòa nhà (biết đâu bà ra khỏi tòa nhà lúc nửa đêm - trước cơn động đất - đi đâu đó, mặc dù điều này hoàn toàn không phải kiểu của bà); chờ đợi thi thể của người chú, người anh, con trai, để họ có thể để lại nơi này sau lưng họ; chờ đợi để xem khi các đội cứu hộ với thiết bị đào bới đến đây liệu họ có thể tìm lại được ít đồ đạc nào, vài thứ quý giá, từ dưới đống đất và bê tông gãy đổ hay không; đợi ai đó tìm được một chiếc xe tải nhỏ để họ có thể chở đi những thứ có thể thu nhặt được; đợi công nhân cứu hộ đến và đợi đường được khai thông để những đội cứu hộ khẩn cấp thực sự có thể vượt qua mà cứu người vợ hay người em còn sống dưới đống gạch vụn. Cho dù ti vi và báo chí đã phóng đại những điều thần kỳ ấy quá nhiều, sự thực là cho đến cuối ngày thứ ba, có rất ít hy vọng cứu được ai đó còn sống. Sự thực là, như thế cho dù vẫn còn nghe những tiếng kêu cứu, những tiếng động qua đó những người còn lay lắt thông báo sự hiện diện của họ.
Có hai dạng đổ nát. Có những tòa nhà nằm nghiêng như những hộp các tông vứt đi, vẫn còn có thể hình dung ra hình dạng ban đầu của nó, dù một vài tầng của chúng đã sập vào nhau như những nếp gấp của đàn phong cầm; trong những tòa nhà thế này vẫn còn có thể tìm ra người sống sót trong những hốc khí. Dạng đổ nát thứ hai, không còn lớp nào cả, không những khối bê tông; và không thể nào đoán được hình dáng của tòa nhà lúc trước; nó chỉ là một đống bột, sắt, đồ đạc gãy vỡ, vụn bê tông bé tí. Có thể chắc rằng chẳng ai còn có thể sống sót bên trong đó. Người ta lần lượt kéo ra từng xác chết một từ những đống gạch vỡ này; công việc diễn ra chậm chạp, như đào giếng bằng một cây kim. Khi những người lính dùng cần cẩu từ từ nhấc một thanh bê tông lên, những cư dân trước đây của tòa nhà và những người đi tìm thi thể của người thân nhìn lên bằng những đôi mắt thiếu ngủ. Khi một thi thể hiện ra, họ nói, “Anh ấy kêu gào trong đấy suốt ngày hôm qua nhưng không ai đến!” Đôi khi có thiết bị đào bới, đôi khi chỉ có kích nâng xe hơi, dây bàn ủi hoặc thuổng để dò dẫm những khoảng trống. Trước khi tìm thấy thi thể, người ta tìm thấy những vật dụng của người chết: một khung ảnh cưới, một cái hộp có dây chuyền bên trong, quần áo và mùi hôi thối nồng nặc của xác chết. Mỗi khi người ta khoét được một cái hố trong đống bê tông, và một chuyên gia hay một tình nguyện viên dũng cảm mang theo đèn pin chui vào tìm, một đợt sóng gợn qua đám đông đang đứng đợi quanh đống đổ nát; mọi người bắt đầu nói chuyện, và nổi lên những tiếng kêu la. Người tình nguyện viên chui vào trong thường không có quan hệ gì với tòa nhà mà chỉ là người tình cờ nghe một tiếng động vọng ra từ đâu đó bên trong, bây giờ yêu cầu những người đứng ở hàng trước hay những người đào bới bằng tay giúp đỡ, nhưng vì quá ồn nên không thể nghe được anh ta yêu cầu điều gì. Tất cả việc này mất nhiều thời gian, người ta nhanh chóng nhận ra để nhấc từng viên đá lên và nhấc từng xác chết ra khỏi đống gạch vụn phải mất hàng tháng. Nhưng với những xác chết thối rữa như thế, và nỗi lo dịch bệnh hoành hành, điều này sẽ là không thể. Dễ xảy ra hơn cả là sẽ đến lúc mà những xác chết còn lại sẽ bị cào bằng cùng với phần còn lại của đống gạch vụn - bê tông vỡ, đồ đạc trong nhà, những cái đồng hồ ngừng chạy, túi xách, ti vi vỡ, gối, màn và thảm - và chở đến một chỗ xa nào đó để chôn. Một phần trong tôi mong muốn hành xử như thể những chuyện này không xảy ra, để quên đi những điều tôi nhìn thấy, phần khác lại muốn chứng kiến tất cả những điều có thể để rồi kể lại với người khác.
Chúng tôi thấy có những người đi trên phố nói chuyện một mình, những người ngủ trong những chiếc xe hơi mà họ đã chuyển tới một khu đất trống, và những người mang đồ đạc và thức ăn ra khỏi những ngôi nhà hư hỏng phân nửa rồi sắp dọc theo vỉa hè. Trong trung tâm một sân vận động mà chiếc trực thăng lượn tới lượn lui trên đầu chúng tôi dùng làm bãi đáp, chúng tôi thấy người ta nằm trong một bệnh viện dã chiến; ngay sát bệnh viện này là hàng hàng những tòa nhà đã biến thành bụi. Chúng tôi gặp một người bạn là nhiếp ảnh gia và là chồng của một nhà văn; anh đang trên đường về nhà của cha vợ, vừa đi vừa chụp ảnh. Căn nhà cũ đó an toàn, không làm sao cả; người cha vợ kể với chúng tôi về những tiếng động ông nghe từ trong đống bụi và gạch vụn vào nửa đêm. Chúng tôi cũng gặp những người quen khác, và trong khu vườn trống của một căn nhà nhỏ sập mất một nửa chúng tôi lôi ra những quả nho ngọt bám đầy bụi và ăn.
Thấy chúng tôi, thấy máy ảnh, mọi người kêu, “Nhà báo, viết chuyện này này!” và họ xả những bực tức về nhà nước, hội đồng, các nhà thầu ăn bớt; tiếng nói của họ gây xôn xao báo chí nhưng rất có thể rằng các chính trị gia, quan chức nhà nước và những viên thị trưởng nhận hối lộ đang bị tố cáo sẽ lại ứng cử và lại tìm được sự ủng hộ từ những cử tri này. Cũng có thể những người đang phàn nàn đầy chua chát này đã có một lúc nào đó hối lộ hội đồng thành phố để bẻ cong những quy tắc xây dựng và đã coi nếu không làm thế là ngu ngốc. Trong một đất nước mà các tổng thống nói rất hay về hối lộ, gọi đấy là “thực tế”, trong một nền văn hóa vận hành dựa vào những dàn xếp không chính thức và người người ta thán về lường gạt nhưng lại dung thứ cho nó, người ta khó có thể mong đợi các nhà thầu không sử dụng sắt và bê tông kém tiêu chuẩn, tuân thủ pháp luật, và do đó chịu chi phí cao hơn, tất cả chỉ nhân danh việc chuẩn bị cho một cuộc động đất giả định có thể gây tổn hại cho người khác trong tương lai. Theo chuyện được truyền tụng sau cơn động đất - được truyền miệng rộng rãi và phổ biến vì nó tả các chủ nhà như những nạn nhân ngây thơ - tất cả tòa nhà, ngoại trừ một, do một nhà thầu nọ xây đều bị phá hủy, tòa nhà duy nhất còn lại chính là tòa nhà mà nhà thầu đó ở.
Không tiến hành bất kỳ biện pháp phòng bị nào trước khi động đất xảy ra, và không huy động được một nỗ lực cứu hộ đúng mức sau đó, nhà nước đã đánh mất rất nhiều sự tôn trọng của dân chúng. Nhưng vì quá nhiều người, trong vô vọng, rất đỗi tin vào mơ ước về một quyền lực cao hơn sẽ trông nom họ, như đấng Allah trông nom, ta có thể mong đợi nhà nước lấy lại được vị trí của mình cho dù không bỏ ra những nỗ lực thích đáng để giành được điều đó. Ta có thể nói y như vậy về quân đội, lực lượng muộn màng trong việc cứu trợ và chẳng thấy hiện diện gì mấy trong giai đoạn đầu, một phần vì chính những tòa nhà của họ cũng bị phá hủy. Niềm kiêu hãnh quốc gia, sự tự tin của đất nước - những thứ này bị lay chuyển tồi tệ trong cơn động đất. Ở khá nhiều nơi, tôi nghe người ta nói, “Người Đức và người Nhật đến cứu chúng ta đúng giờ, chứ không phải nhà nước ta!” Tôi đọc thấy những điều tương tự trên báo. Lý do nào được dẫn ra? “Chúng ta không được tổ chức tốt,” một ông già nói, vì ông biết rằng chấp nhận thực tế thì tốt hơn là giận dữ suông; khi bánh mì nằm mốc meo ở phần này thành phố, ở phần khác lại khan hiếm bánh mì. Khi người ta nằm dưới bê tông, kêu cứu và lả dần đi, các xe cứu hộ chỏng chơ vì không có xăng hoặc kẹt trong những vụ tắc đường ở xa.
Chúng tôi thấy một người đàn ông lái chiếc xe cũ bụi bặm chậm rãi qua các con phố nhỏ; khi tiến gần đến một đống đổ nát làm anh chú ý, anh ta ngừng lại quát tháo đám đông qua cửa sổ. “Tôi đã bảo các ông bà bao nhiêu lần rồi, sự giận dữ của đấng Allah giáng xuống các ông bà, rằng các ông bà nên từ bỏ tội lỗi?” Vài người trong đám đông giảng cho anh ta một bài đủ dữ dội để tống cổ anh ta đi, và anh ta bỏ đi đến đống đổ nát tiếp theo trong đắc thắng giận dữ. Tôi đọc bài báo của một nhà phân tích có suy nghĩ tương tự cho rằng nhà nước và quân đội bị trừng phạt do can thiệp quá nhiều vào các vấn đề tôn giáo, và tôi nghe những người khác hỏi, nếu đúng là như vậy, tại sao quá nhiều thánh đường và tháp nhà thờ đã bị phá hủy?
Giữa toàn bộ cảnh tang thương này - những đống đổ nát và xác chết - dĩ nhiên có những khoảnh khắc phấn chấn. Như thấy một người sống sót bước ra khỏi đống gạch vụn, sau rất nhiều thời gian đã trôi qua! Như thấy sự giúp đỡ từ khắp cả nước, và sự giúp đỡ đến cả từ những quốc gia mà nhà nước luôn cho là kẻ thù. Nhưng nguồn hân hoan chính và không được nói ra là: dù sao đi nữa thì vẫn còn sống. Có những người đến cuối ngày thứ ba đã chấp nhận sống chung với thảm họa và bắt đầu nghĩ về tương lai; bất chấp các cảnh báo và cấm đoán, họ thận trọng và gọn gàng dỡ đồ khỏi nhà cũ của họ. Chúng tôi dõi theo hai thanh niên bước vào một căn hộ tầng trệt nghiêng 45 độ về một phía và gỡ được một cái đèn chùm từ trên trần.
Ở phía cầu tàu, tiệm cà phê dưới gốc cây dẻ to chật cứng người. Ở đó, bất chấp những người chết và mất tích, mọi người tự cho phép mình hoan hỉ vì đã sống qua một thảm họa. Người quản lý đã tìm được một máy phát điện và xoay xở ướp lạnh đồ uống trong tủ lạnh. Những chàng trai đến bàn chúng tôi ngồi không muốn nói về động đất mà về văn chương và những hồi ức chính trị.
Trên đường quay lại, chúng tôi gặp lại ông bưu tá về hưu, đã trở về để kiểm tra nhà cửa của mình. “Tôi đi vào con phố nhà tôi và nhìn xuống; căn nhà của chúng tôi không còn,” ông khẽ nói. “Hình như là có một cô bé mười hai tuổi bên dưới đống gạch vụn.” Ông thì thào, cứ như đó là do lỗi của ông, và ông không phàn nàn mấy.
Sau đó, bạn tôi bình luận rằng một người Anh hẳn sẽ càu nhàu nếu trời mưa vào kỳ nghỉ hằng năm, trong khi một người mất cả ngôi nhà lại không phàn nàn gì. Từ đó chúng tôi phỏng đoán rằng có lẽ vì người ta không phàn nàn gì nên động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ lấy đi nhiều mạng sống đến vậy, nhưng chúng tôi không thích hướng suy nghĩ này. Đêm đó, sợ (cùng cả nước) rằng một trận động đất khác có thể xảy ra, chúng tôi ngủ ngoài vườn.
Khi phà chúng tôi đã ra giữa vùng vịnh hình lưỡi liềm, tôi nhận thấy kể từ thời thơ ấu của tôi những bờ biển này đã có thêm bao nhiêu là cư dân mới, và với những khu căn hộ bê tông hệt nhau của họ, các thị trấn đã nhập lại với nhau trở thành một thành phố chạy liên tiếp như thế nào. Toàn bộ khu vực giờ đây sống trong nỗi sợ về một trận động đất mà các nhà khoa học đảm bảo với chúng tôi sẽ thậm chí còn chết chóc hơn, tâm chấn sẽ gần Istanbul hơn. Không rõ bao giờ trận động đất này sẽ xảy ra, nhưng theo các bản đồ trên báo, cái vạch đứt gãy có khả năng hủy diệt tất cả chạy ngay dưới hòn đảo nhỏ mà chúng tôi giờ đang tiến lại gần.