Nỗi lo sợ động đất ở Istanbul

Những Màu Khác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nỗi Lo Sợ Động Đất Ở Istanbul

❊ ❊ ❊

Ngày trước, tôi không bao giờ ngớt băn khoăn liệu ngọn tháp nhà thờ sừng sững nhìn thấy từ bàn mình có thể đổ ập vào tôi chăng. Thánh đường này được xây dựng để tưởng nhớ con trai của Süleyman Huy Hoàng, Hoàng tử Cihangir, qua đời khi còn trẻ; từ năm 1959 nó đã đứng đó với hai ngọn tháp trên đỉnh một con dốc cao nhìn ra vịnh Bosphorus, như là biểu tượng của tính liên tục.

Chính người hàng xóm tầng trên là người đầu tiên khơi ra đề tài này khi anh ta đến chia sẻ những lo sợ về động đất với tôi. Nửa phần sợ nửa phần đùa, chúng tôi ra ban công để ước lượng khoảng cách. Trong vòng bốn tháng đã có hai trận động đất lớn ở Istanbul và vô số dư chấn; những điều này và con số 30.000 người chết còn in rõ trong trí óc chúng tôi. Hơn nữa (và tôi có thể đọc được điều này trong mắt anh kỹ sư hàng xóm), cả hai chúng tôi tin các nhà khoa học: rằng trong tương lai gần, đâu đó trong Biển Marmara và gần Istanbul hơn, một trận động đất lớn khác sẽ làm 100.000 người thiệt mạng ngay lập tức.

Dùng mắt để áng chừng chiều cao các ngọn tháp nhà thờ chưa làm chúng tôi yên tâm. Sau khi xem qua vài cuốn sách và từ điển bách khoa, chúng tôi được nhắc nhở rằng hơn 450 năm qua, Thánh đường Cihangir (cái “biểu tượng của tính liên tục” đó) đã hai lần bị động đất và hỏa hoạn phá hủy, và chẳng còn dấu vết gì của thánh đường nguyên thủy trong mái vòm hay ngọn tháp nhà thờ trước mắt chúng tôi. Nghiên cứu thêm chút nữa, chúng tôi phát hiện ra rằng hầu hết thánh đường và tượng đài lịch sử của Istanbul đều từng bị động đất phá hủy ít nhất một lần (kể cả thánh đường Hagia Sophia, mái vòm của thánh đường này sập sau khi xây hai mươi năm trong một trận động đất rung chuyển thành phố) và nhiều thánh đường trong số đó đã bị phá hủy không chỉ một lần và sau đó được xây lại “nhằm chịu đựng áp lực tốt hơn.”

Về những ngọn tháp, chuyện còn tồi tệ hơn. Trong tất cả những trận động đất tệ hại nhất giội xuống thành phố trong 500 năm qua - bao gồm “ngày phán xét nhỏ” tấn công thành phố năm 1509 và những trận động đất lớn năm 1766 và 1894 - con số những ngọn tháp nhà thờ bị đổ vượt xa con số mái vòm bị sập. Sau hai trận động đất gần đây, bạn tôi và tôi đã nhìn thấy vô số tháp nhà thờ bị đổ, không chỉ trên ti vi mà còn trong những chuyến thăm khu vực bị động đất. Hầu hết trường hợp, chúng đổ vào các tòa nhà lân cận: các ký túc xá sinh viên nơi những người gác đêm ngái ngủ đang chơi cờ tào cáo thật khuya, những ngôi nhà nơi các bà mẹ dậy khỏi giường cho con bú, hoặc (trong trường hợp trận động đất lớn thứ hai ở Bolu) các gia đình quây quần quanh ti vi để xem buổi thảo luận về khả năng một trận động đất khác xảy ra trên bản tin thời sự tối, chỉ để rồi một ngọn tháp nhà thờ đổ xuống như con dao cắt bánh, xẻ căn phòng ra làm hai.

Hầu hết các ngọn tháp chưa đổ đều bị hư hại. Những tháp nào không sửa chữa được nữa thì người ta dùng dây xích và cần cẩu nhấc lên rồi phá hủy chúng đi. Vì chúng tôi đã xem nhiều tháp nhà thờ đổ từ từ trên ti vi, cả người bạn hàng xóm và tôi đều biết tháp nhà thờ đổ như thế nào. Những chấn động trong trận động đất kế tiếp, như tôi đã nói, được dự đoán sẽ xảy đến từ vịnh Bosphorus và Biển Marmara. Nên người bạn hàng xóm và tôi bắt đầu tính toán góc đổ của ngọn tháp, cố gắng tính tới những rủi ro trong quá khứ: Phần ngay phía trên ban công đã hơi bị bục trong trận động đất tháng Tám; trước đó sét đã đánh trúng trụ đá ngay dưới ngôi sao và lưỡi liềm, khiến nó bay xuống khoảnh sân bên dưới.

Tính hết mọi yếu tố, chúng tôi thấy rõ rằng nếu ngọn tháp thực sự đổ theo góc mà chúng tôi đã ước tính với sự trợ giúp của bàn tay và một đoạn dây, nó sẽ không đổ trúng chúng tôi: Tòa nhà chúng tôi, nhìn ra vịnh Bosphorus, đơn giản là cách tháp nhà thờ quá xa, xa hơn chiều cao của tháp. “Cho nên tháp nhà thờ đó sẽ không có cơ hội đổ vào chúng ta,” người hàng xóm của tôi nói và bỏ đi. “Thực ra, có khi tòa nhà chúng ta dễ đổ đè vào ngọn tháp hơn.”

Trong những ngày sau đó - trong khi tôi tiếp tục nghiên cứu, cố gắng xác định liệu tòa nhà nơi tôi làm việc có thể sập vào ngọn tháp nhà thờ hay không, và liệu tòa nhà nơi tôi sống cùng gia đình có dễ sập như tòa nhà nơi tôi làm việc hay không - tôi không đi tìm anh bạn hàng xóm. Chuyện này không bởi vì anh, như rất nhiều người quen khác, làm dịu những nỗi lo lắng về động đất bằng chất hài hước đen. Mà là bởi, như hết thảy chúng tôi, anh ấy bận bịu đối phó với nỗi sợ chết theo cách riêng của anh. Người hàng xóm của tôi đã vát một góc nhỏ của tòa nhà sáu tầng chúng tôi đang ở gửi đến Trường Đại học Kỹ thuật Istanbul nhờ họ phân tích độ chịu lực của bê tông, và bây giờ anh đang chờ đợi kết quả, cũng như hàng ngàn người khác làm điều tương tự. Đã làm tất cả những việc có thể làm, anh bình tĩnh chờ đợi; tôi biết đến ngần ấy.

Phần tôi, tôi giả định rằng chỉ có thể có được sự thanh thản trong tâm hồn khi ta hiểu biết nhiều hơn. Các chuyến thăm viếng những vùng động đất giúp tôi biết rằng các tòa nhà sụp đổ chủ yếu vì hai lý do: xây ẩu và nền đất yếu. Nên, như nhiều người khác, tôi bắt đầu tìm hiểu nhà và văn phòng tôi được xây dựng trên loại đất nào và chắc chắn đến mức nào; tôi thực hiện việc này bằng cách nói chuyện với các kỹ sư xây dựng, xem xét bản đồ, và trao đổi các ghi chép với nhiều người khác cũng đang có khuynh hướng lo lắng và sợ hãi như tôi.

Mặc dù tâm chấn cả hai trận động đất đều cách hơn chín mươi dặm bên ngoài thành phố, hai trận động đất gần đây đã làm rung chuyển toàn bộ cư dân của Istanbul trong khi đang ngủ; con số 30.000 người chết đã phơi bày thói xây dựng ẩu tả trên nền đất yếu, trong khi ngành xây dựng hoàn toàn không có biện pháp chống động đất nào. Với hai mươi triệu người sống trong thành phố, ác mộng hiện về từ nỗi lo sợ rất có căn cứ rằng nhà của họ sẽ không thể chịu đựng nổi cơn động đất với cường độ mà các nhà khoa học hiện dự đoán. Ngay cả nếu các ngôi nhà và khu căn hộ được xây dựng đúng theo quy chuẩn xây dựng (rất khó có khả năng này), chẳng vui vẻ gì khi nhớ rằng những quy định và luật lệ này được dựng ra để đối phó với những trận động đất nhẹ hơn nhiều so với trận mà chúng tôi giờ đang chờ đón. Và như vậy thậm chí những ngôi nhà ấy, không phải do những nhà thầu ẩu tả và đê tiện xây dựng, vốn dùng quá ít sắt và bê tông thì chất lượng thấp, mà là do cha ông họ xây nên, cũng không thể coi là an toàn được. Và nữa, trong nhiều khu căn hộ, nhờ những khoản hối lộ cho hội đồng thành phố người ta có thể xây thêm nhiều tầng nữa trong khi cột và tường chịu lực đã bị dỡ đi không thương tiếc để lấy chỗ cho các cửa hàng, khiến các tòa nhà đã yếu lại càng thêm yếu. Hơn nữa, nếu bạn có bằng chứng rõ rệt rằng tòa nhà bạn ở không chịu đựng được mức độ động đất có thể xảy ra, ngay cả nếu bạn đã quyết chịu chi phí sửa chữa thông thường cỡ chừng một phần ba giá trị căn hộ, bạn sẽ vẫn phải thuyết phục những người hàng xóm có suy nghĩ khác, hoài nghi, thờ ơ, trầm cảm, trì độn, cơ hội, và dễ xảy ra nhất là không có xu nào dính túi sao cho họ làm giống như vậy.

Và như vậy, bất chấp độ trầm trọng của mối nguy hiểm đang dần hiển hiện, tôi chưa gặp nhiều cư dân trong các khu căn hộ của Istanbul chịu đối diện với thực tại và bắt tay vào việc làm cho tòa nhà của họ trở nên an toàn. Tôi biết có một số người vốn lo lắng về họa động đất đã không những không thuyết phục được hàng xóm mà cũng chẳng thuyết phục được cả vợ, chồng, con họ. Rồi có những người không có tiền để làm cho nhà của họ an toàn; bằng lòng với số phận, trong khi cũng chịu đựng nỗi sợ hãi, họ tìm chỗ ẩn náu trong hoài nghi, họ nói, “Hừm, ngay cả khi tôi bỏ ra hết từng ấy tiền để làm cho tòa nhà của tôi an toàn, nếu tòa nhà trước mặt đổ vào chúng tôi thì sao?” Chính bởi sự vô ích này, nỗi vô vọng này, mà hàng triệu Istanbullus nhìn thấy động đất trong giấc mơ của mình.

Giấc mơ của chính tôi cũng giống giấc mơ của rất nhiều người khác đã kể với tôi. Trong mơ, bạn thấy cái giường bạn đang ngủ và nhớ lại những ý nghĩ đượm âu lo của bạn về những trận động đất ngay trước khi đi ngủ. Đột ngột động đất diễn ra, thật mạnh. Bạn nhìn theo chiếc giường đong đưa, một trận động đất nhịp chậm khi căn phòng nhỏ của bạn, ngôi nhà, cái giường, và mọi vật xung quanh bạn chẳng còn biết chúng ở chỗ nào; trong khi lung lay, chúng cũng thay đổi hình dáng. Chầm chậm, góc nhìn của bạn mở rộng ra ngoài căn phòng để thu vào những cảnh tượng lấy cảm hứng từ góc nhìn trực thăng của những thị trấn bị dát phẳng thường thấy trên ti vi; chính bây giờ bạn bắt đầu nhận ra mức độ trầm trọng của thảm họa. Nhưng bất chấp không khí của Ngày Phán Xét, trong mơ cũng như trong đời thực bạn vui sướng một cách thầm kín, bởi vì chứng kiến động đất là bằng chứng bạn sống sót qua cơn động đất đó. Điều đó cũng đúng với cha, mẹ, vợ chồng bạn, những người cho rằng động đất là do bạn đã có những ưu tiên sai lầm: Họ la mắng bạn, nhưng họ cũng còn sống. Những giấc mơ này phát sinh một phần từ sự tuyệt vọng và khao khát vượt qua nó, điều này giải thích tại sao rất nhiều người nhớ lại rằng, mặc dù cảm thấy sự khủng khiếp, họ cũng thấy tội lỗi được gột sạch như là sau một nghi lễ tôn giáo. Rất nhiều trong số những người run rẩy trong hãi hùng, lần mò qua vùng u tối giữa tỉnh thức và ngủ mê đó, tưởng rằng có một cơn động đất thật trong khi họ ngủ, rằng có những rung động thật nên họ mới mơ như thế, và nếu không có ai bên cạnh họ để đánh thức và hỏi han, nếu họ không thể xác định được liệu đó là mơ hay thực, chắc chắn họ sẽ lướt qua báo sáng hôm sau để tìm đọc tin tức về các dư chấn.

Đã biết chắc rằng mình không thể nào đảm bảo sự an toàn của các ngôi nhà, chúng tôi xác định chỉ có một cách rũ bỏ cái cảm giác về một thảm họa lơ lửng hành hạ những người sống sót sau động đất: Quay lại với các nhà khoa học và các giáo sư, những người đã cảnh báo chúng tôi rằng Istanbul sẽ sớm gánh chịu một trận động đất lớn, yêu cầu họ cân nhắc lại.

Giáo sư Işikara, giám đốc trạm quan sát lớn duy nhất của Thổ Nhĩ Kỳ là người đầu tiên thông báo cho chúng tôi rằng vạch đứt gãy của chúng tôi khá giống vạch đứt gãy ở California, chạy từ một đầu miền Bắc Thổ Nhĩ Kỳ sang đầu kia, và nếu vạch sơ đồ các trận động đất lớn trong thời gian gần đây, bạn có thể thấy chúng bắt đầu ở phía Đông và ngày càng lại gần Istanbul. Sau trận động đất lớn đầu tiên vào tháng Tám năm 1999, khi mọi tập đoàn báo chí đều săn lùng giáo sư Işikara và tối nào ông cũng chạy sô từ đài truyền hình này sang đài kia, lặp lại quan điểm hàng bao nhiêu năm nay không ai mảy may chú ý, các biên tập viên sẽ hỏi ông một câu y chang: “Vậy thưa ngài, liệu đêm nay có xảy ra thêm động đất nữa không?” Những lần đầu xuất hiện, câu trả lời luôn là, “Động đất có thể xảy ra bất cứ lúc nào.” Sau này, sau khi đã làm hàng triệu người sợ nát thần hồn và thấy hàng trăm người nhảy ra khỏi cửa sổ khi một trận động đất nhỏ hơn nhiều làm rung thành phố, và đã nghe nhiều phàn nàn từ phía nhà nước về tình trạng hỗn loạn phát sinh từ tuyệt vọng - ông tự biên tập, và câu trả lời của ông trở thành, “Không thể nào dự đoán được khi nào trận động đất kế tiếp xảy ra.” Kể cả như vậy, hai ngày sau trận động đất lớn làm chết 30.000 người, khi những dư chấn trở nên mạnh hơn và trên toàn quốc, xem ông trên ti vi chúng tôi vẫn nghĩ rằng ông ám chỉ sẽ có một trận động đất khác ngay đêm hôm đó, nên tất cả chúng tôi chuyển ra ngủ trong công viên, trong vườn, ra ngoài đường. Ngài giáo sư này, có vẻ đãng trí lộn xộn của Einstein (dù thiếu cái thiên tài của ông), bỗng nhiên được dân chúng Istanbul yêu chuộng hết sức, bởi vì trong những ngày vô vọng nhất, với nỗi lo sợ động đất lên đến đỉnh điểm, ông ngả theo ý muốn của những cư dân mất ngủ và vẽ một bức tranh tươi sáng hơn nếu không nói là rất thuyết phục (ví dụ, như giả thiết rằng đường đứt gãy có khi cách xa Istanbul hơn dự đoán trước đây) và mỉm cười mỗi khi chia sẻ tin xấu, lúc nào cũng nói bằng giọng rất ngọt ngào.

Rồi còn có những nhà khoa học khác bảo vệ dự đoán của họ, từ chối tô vẽ; giáo sư Şengör là một chuyên gia như thế. Ông chọc giận mọi người hết cỡ bằng cách cư xử như một bác sĩ vô cảm, mô tả cơn động đất đầu tiên làm 30.000 người chết là một “vẻ đẹp”. Nhưng lý do lớn hơn để bực bội với những nhà khoa học từ chối giảm nhẹ dự báo của họ là tính không thể bác bỏ của các bằng chứng họ đưa ra, rằng trận động đất đang lơ lửng sẽ rất lớn, và cách trình bày gắt gỏng gần như là độc ác của họ. Đằng sau sự giận dữ độc địa của vị giáo sư này không chỉ là thực tế rằng những tòa nhà không an toàn, nơi ở của mười triệu người, đã được xây dựng trong khu vực động đất mà không ai buồn để ý gì đến những cảnh báo yếu ớt của các nhà khoa học, mà còn vì không ai chịu nghe lời báo chí quốc tế vốn đã trích dẫn ông ta 1.300 lần. Đây là lý do tại sao ông lên giọng như một thầy tế giận dữ tiên đoán những hình phạt mà những kẻ vô thần sẽ sớm gánh chịu.

Các nhà khoa học này nói chuyện trên các chương trình giải trí mà khách mời thường là hoa hậu và nhà vô địch thể hình, và người dẫn chương trình luôn ngắt ngang những phân tích chi tiết của các nhà khoa học mà hỏi, “Thưa ngài, liệu một trận động đất có thể xảy ra trong tương lai gần, và nó sẽ mạnh từng nào?” Trên một trong những chương trình thời sự quan trọng nhất vào ngày 14 tháng Mười một, đã có những trao đổi nảy lửa xoay quanh dữ liệu mới nhất về vạch đứt gãy trong Biển Marmara khiến chuyến viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ của Bill Clinton ngày hôm đó chỉ được đề cập thoáng qua trong chương trình kéo dài bốn mươi lăm phút này. Chương trình đó, như nhiều chương trình khác, kết thúc mà không đưa ra được câu trả lời dứt khoát nào cho câu hỏi mà người dẫn chương trình thật kiên trì hỏi đi hỏi lại rất nhiều lần, và với hiểu biết rằng, chính vì lý do đó, chỉ có thể trông đợi rằng các cuộc thảo luận, thẩm vấn và công bố sẽ còn lửng lơ hơn.

Chẳng nhà khoa học nào cho thấy họ sẵn lòng mang lại cho dân chúng tí hy vọng nào bằng cách nói rằng động đất sẽ chẳng bao giờ đến, ngoại trừ một nhóm mà phương pháp khoa học của họ rõ ràng không đáng tin cậy, nên dần dần hàng triệu Istanbullus sống trong những tòa nhà yếu trên nền đất yếu bắt đầu hiểu rằng họ phải tự tìm cách để xua nỗi hãi hùng. Một số người phó mặc mọi sự cho Allah, hoặc, theo thời gian, chỉ đơn giản là cố quên đi, trong khi một số khác bây giờ tìm sự yên ổn giả tạo trong những biện pháp phòng ngừa mà họ áp dụng sau trận động đất trước.

Nhiều người để đèn pin khổng lồ bọc plastic bên cạnh giường khi đi ngủ, để lỡ động đất và mất điện, họ có thể tìm đường ra trước khi lửa chụp lấy họ. Bên cạnh những cái đèn pin này là còi để thu hút sự chú ý của các đội cứu hộ lục soát đống đổ nát, và điện thoại di động. Một số đeo còi (và trong một trường hợp nọ là kèn harmonica) trên cổ. Một số khác cũng đeo chìa khóa nhà, để khi động đất xảy ra họ không phí thời gian tìm kiếm. Một số người đã thôi không đóng cửa, để họ có thể thoát mà không bị ngôi nhà hai hay ba tầng của mình cản trở; trong khi những người khác máng dây thừng vào cửa sổ để có thể tụt xuống vườn nhà. Trong những tháng đầu tiên, một số người kinh hãi vì những chuỗi dư chấn liên miên đến nỗi bắt đầu đang ở trong nhà mà vẫn đội mũ bảo hiểm của thợ mỏ. Bởi vì trận động đất đầu tiên xảy ra vào ban đêm, cái mong muốn được chuẩn bị sẵn sàng mạnh mẽ đến nỗi - ngay cả những người sống trong các khu căn hộ cao vời vợi mà việc chạy xuống cầu thang và ra ngoài ở bất cứ tốc độ nào là hoàn toàn không thể - họ đi ngủ với quần áo đầy đủ trên người. Tôi thậm chí nghe kể một số người lo lắng về chuyện bị bắt gặp trong khi quần đang tụt xuống đến nỗi họ cứ vội vội vàng vàng trong toa lét hay khi tắm, và một số cặp, bị ảnh hưởng bởi mối lo tương tự, mất cả hứng thú yêu đương, trong khi một số khác tạo ra những chỗ trú ẩn ở đó họ trữ lương thực, thức uống, búa, đèn, vân vân - mọi thứ để thoát khỏi một thành phố bốc cháy và sống sót mà không cần điện cùng những con đường và cây cầu sập. Sau động đất, một số người bắt đầu có thói quen mang theo người một lượng lớn tiền mặt. Trong nhiều ngôi nhà, các góc nhà được cho là không an toàn và giường được kéo ra xa tường, tránh những kệ trĩu nặng đồ đạc và tủ quần áo. Chỗ trú ẩn được dựng lên bên cạnh những thiết bị thiết yếu như tủ lạnh và bếp; với những thiết bị này về mặt lý thuyết người ta được bảo vệ khỏi trần sập, hoặc được cho là thế theo các hướng dẫn đăng trên báo về việc xây dựng những “tam giác sống”.

Tôi cũng thực hiện những việc tương tự ở một đầu của cái bàn dài nơi tôi ngồi viết tiểu thuyết đã hai mươi lăm năm nay. Với những cuốn sách nặng nhất trong thư viện của tôi - trong số đó Bách khoa toàn thư Britannica bốn mươi năm tuổi, và một tập Bách khoa toàn thư đạo Hồi thậm chí còn xưa hơn, và Bách khoa toàn thư Istanbul, một trong những nguồn tư liệu của tôi về những trận động đất trong quá khứ - tôi xây một nơi trú ẩn dưới gầm bàn. Đã tự đảm bảo với mình rằng nó đủ chắc chắn để chịu đựng bê tông rớt, tôi nằm dưới đó trong vài lần động đất, theo tư thế thai nhi để bảo vệ thận như được hướng dẫn. Cái bản hướng dẫn nhỏ về động đất cũng đề xuất trữ bánh quy, nước đóng chai, còi và búa trong một góc an toàn, nhưng tôi không làm theo những điều này. Đời sống hằng ngày của tôi đã quá đủ những biện pháp phòng ngừa nho nhỏ như thế rồi, nhiều bực bội lắm rồi. Liệu có phải là sự miễn cưỡng của tôi trong việc đem những thứ ấy tới bàn viết có nguồn gốc sâu xa từ trong ý thức lờ mờ nào đó rằng việc trữ đồ như thế có thể làm tinh thần tôi sa sút thậm chí nhanh hơn?

Không phải, cái lý do của tôi sâu xa và bí ẩn hơn. Tôi thoáng thấy nó trong mắt nhiều người, dù họ hiếm khi biểu lộ; tôi gọi nó là hổ thẹn, nỗi hổ thẹn xen lẫn tội lỗi và sự tự oán trách. Nó là một cái gì đó gần với điều mà bạn có thể cảm thấy nếu bạn có một người họ hàng là tội phạm nghiện rượu hay nếu bạn mới bị lụn bại tài chính đột ngột - mong ước của bạn bảo vệ mình sẽ mạnh như mong ước che giấu cảnh nghèo túng trước những người khác. Khi bạn bè và các nhà xuất bản bên ngoài Thổ Nhĩ Kỳ viết cho tôi sau trận động đất lớn, đầu tiên hỏi thăm tôi thế nào, sự hổ thẹn khiến tôi không trả lời gì; tôi rúc vào chính mình, như một người mới bị chẩn đoán ung thư, mà nỗi lo trước hết là không để ai phát hiện ra. Trong những ngày đầu, nếu muốn bàn về đề tài này, tôi chỉ bàn với những người chia sẻ tình trạng khó khăn và lo âu về trận động đất lớn kế tiếp, những người có cùng quan điểm với tôi. Dù hầu hết những cuộc trò chuyện này giống như độc thoại hơn, vì trong giận dữ và kích động chúng tôi lặp lại như vẹt quan điểm của các chuyên gia mà mức độ lạc quan hay bi quan của họ đã nhanh chóng trở thành kiến thức phổ thông.

Trong một quãng thời gian ngắn, tôi giới hạn nghiên cứu của tôi đối với những khu vực nơi nhà và văn phòng tôi tọa lạc, cố gắng xác định đất dưới chân chúng chịu đựng những chấn động trong quá khứ như thế nào. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi phát hiện ra chỉ một số ít tòa nhà trong những khu này sập trong trận động đất năm 1894. Nhưng khi nghiên cứu toàn bộ danh sách các ngôi nhà sụp, khi tôi đọc tên những người mà mái nhà đã rớt lên người họ - những người bán thịt Hy Lạp, người giao sữa, binh lính Ottoman trong doanh trại khi tôi biết rằng tất cả các ngôi chợ và tòa nhà lịch sử mà tôi đã viếng thăm rất nhiều lần đã bị phá hủy và sau đó được xây lại, trong tôi tràn ngập nỗi buồn về sự ngắn ngủi của cuộc đời và sự mong manh của con người cũng như những ngọn tháp nhà thờ.

Có một bản đồ nhỏ do một tạp chí nọ phát hành khắc họa cấp độ thảm họa của trận động đất sắp tới và nó làm tôi thịnh nộ. Nó tô màu sậm khu tôi ở, biểu thị một trong những quận dự báo sẽ chịu đựng thiệt hại thê thảm nhất. Hay là với tôi thì trông nó như thế? Liệu có thể rút ra kết luận nào từ một bản đồ nhỏ xíu và thô thiển đến thế? Với kính lúp trong tay, tôi nghiên cứu cái đốm chết chóc trải ngang cái bản đồ không lời này, tìm kiếm nhà tôi và con phố trên đó có nhà tôi, cố gắng xác định nó tương ứng thế nào với những bản đồ chi tiết hơn. Không bản đồ nào khác trên tờ báo nào khác, không nguồn nào khác, nói rằng khu tôi ở lâm vào tình trạng nguy hiểm đặc biệt. Tôi quyết định hẳn đó là một nhầm lẫn và cố quên nó đi. Tôi biết công việc của tôi sẽ dễ dàng hơn nếu tôi không đề cập chuyện này với ai.

Vài hôm sau, tôi lại thấy mình nghiên cứu tấm bản đồ thô thiển đó lúc nửa đêm, xem xét đốm sậm kia bằng kính lúp. Chủ nhà tôi, biết tôi lo lắng về chất lượng đất ở móng tòa nhà, lục ra được tấm ảnh ông hãnh diện chụp với công nhân đổ móng cách đây bốn chục năm. Vì tôi đã sống bốn mươi năm trong cùng khu đó, tấm ảnh mang lại nhiều kỷ niệm, nhưng khi tôi cầm kính lúp lên thì lại là để tìm xem có đá móng trong đất không. Những phát biểu trái ngược nhau của các nhà khoa học, cũng như cuộc chiến giành giật người xem vô trách nhiệm của giới truyền thông, đã khiến người dân Istanbul mắc kẹt giữa lo lắng tuyệt vọng và nhẹ nhõm phấn khích - mất ngủ một đêm vì một tin xấu mới và đêm kế tiếp lại mất ngủ vì dự đoán khả quan (theo những hình ảnh vệ tinh mới nhất, trận động đất sẽ chỉ đo được có 5 độ Richter!) Và tình hình cứ như thế, trở đi trở lại, với nghiên cứu của tôi về chất lượng đất nằm dưới đốm sậm trên bản đồ. Tôi nhượng bộ đề xuất của các biên tập viên tạp chí đó rằng không cần coi tấm bản đồ thô thiển nhỏ nhoi của họ quan trọng quá mức, nhưng tôi vẫn suy nghĩ lâu và lung về chuyện cái đốm đen đó có thể đột nhiên đổ xuống nhà tôi và đời tôi như thế nào.

Trong giai đoạn này, tôi cũng dỏng tai nghe ngóng những nghi ngờ và đồn đại lan truyền như bao nhiêu là đám chó hoang chạy rông trong thành phố. Trong những ngày sau động đất, khi nghe nói rằng biển đã trở nên ấm áp hơn, dấu hiệu của một trận động đất khác sắp xảy ra, và khi nghe về những liên hệ lạ lùng giữa động đất và nhật thực tuần trước đó, tôi chỉ biết cười. “Đừng cười to thế,” một cô gái trẻ giận dữ hét vào mặt tôi, “Nếu có động đất xảy ra, thì chúng ta không nghe thấy đâu.” Có tin đồn rằng động đất là tác phẩm của những du kích người Kurd ly khai, lại có tin đồn khác rằng động đất là do những người Mỹ đang tới đây để cứu trợ trên một tàu bệnh viện quân sự to đùng gây ra (“Anh nghĩ làm cách nào mà họ tới đây nhanh thế?” thuyết âm mưu này lan truyền). Trong một dị bản thái quá, viên chỉ huy con tàu nói trên đã buồn bã nhìn từ boong tàu và thở dài vẻ đầy tội lỗi. “Xem chúng ta đã gây ra những gì kìa!”

Về sau, các ảo tưởng hoang đường này khoác một thành kiến có tính chất nội địa hơn: Người quản gia bấm chuông nhà cửa nhà bạn mỗi sáng để giao sữa và giao báo sẽ thông báo (bằng cùng một giọng khi anh cảnh báo rằng nước sẽ bị cắt một tiếng đồng hồ) rằng một trận động đất khủng khiếp được dự đoán sẽ xảy ra vào lúc bảy giờ mười phút tối hôm đó, sẽ phá hủy toàn bộ thành phố. Hoặc một nhà khoa học độc địa, người không tích trữ gì cho mình cho trận động đất sắp đến, đã đào tẩu sang châu Âu. Hoặc có tin rằng nhà nước, biết rất rõ điều gì sẽ xảy ra, đã bí mật nhập khẩu một triệu túi đựng xác. Bạn cũng có thể nghe nói quân đội đã sai các công ty đào đất đào những khu mộ tập thể ở những khoảng đồng trống bên ngoài thành phố, và một người bạn ngờ vực về chất lượng xây dựng căn nhà mình - và dĩ nhiên về nền đất bên dưới - đã chuyển sang một tòa nhà khác trên cùng con phố chỉ để rồi phát hiện ra căn hộ mới còn kém an toàn hơn. Ở Yeşsilyurt, một trong những khu giàu nhất Istanbul xây dựng trên nền đất yếu nhất, các chủ nhà gặp nhau để thảo luận về động đất đã chia ra thành hai phe đối lập nhau: những người muốn thảo luận làm thế nào để bảo vệ mình và những người cho rằng nói chuyện như thế sẽ làm suy giảm giá trị nhà đất. Cùng khoảng thời gian đó một người bạn phóng viên của tôi bảo tôi rằng họ không thể in những bản đồ tôi cần để tham khảo để điều tra vệt đen trên cái bản đồ nhỏ kia, vì sợ rằng sẽ chọc giận các đại lý bất động sản và các chủ nhà.

Hai tháng sau, người hàng xóm tầng trên bảo tôi rằng trường đại học nơi anh gửi mẫu bê tông tới đã gửi trả kết quả. Kết luận - như trong trường hợp câu hỏi về tòa nhà nơi tôi đặt văn phòng - không hoàn toàn bi đát nhưng cũng không hoàn toàn nhiều tin tưởng. Tùy mỗi chúng tôi quyết định tiếp nhận kết quả thế nào, cũng y như việc xác định xem tháp nhà thờ có đổ lên chúng tôi hay không ngày hôm đó là một quyết định mang tính chủ quan.

Cũng vào khoảng thời gian ấy, tôi nghe tin một người bạn cũ làm việc trong ngành kinh doanh âm nhạc đã quyết định, sau khi đi ngang qua GölÇük, thị trấn hứng chịu nặng nề nhất trận động đất hồi tháng Tám, rằng anh ta không bao giờ đặt chân vào căn nhà Istanbul của anh nữa; anh đã dời vào Khách sạn Hilton, anh nghĩ là chỗ đó xây dựng an toàn hơn, cho đến lúc nơi đó bị coi là không an toàn đủ độ nữa và anh bắt đầu ở ngoài đường cả ngày, làm mọi việc qua điện thoại di động, chạy ngược chạy xuôi trên các nẻo đường thành phố như thể mình vội vàng lắm. Người ta bảo rằng trong lúc anh vội vã đi lại ngoài đường, không khi nào dừng lại, anh lẩm bẩm, “Sao chúng ta không rời bỏ thành phố này, sao chúng ta không ra đi?”

Điều gây ấn tượng với chúng tôi hơn cả là, dù tâm chấn của trận động đất thứ nhất bên ngoài thành phố sáu mươi dặm, hàng ngàn Istanbullus đã chết, có một cuộc di cư khỏi các khu nghèo khiến tiền thuê nhà giảm xuống. Nhưng hầu hết người Istanbul vẫn ở lại trong những tòa nhà hầu như không an toàn mà không chuẩn bị biện pháp phòng ngừa nào. Vào thời điểm này, mọi thứ - sự quấy nhiễu của các nhà khoa học, các tin đồn có căn cứ, hành vi quên lãng, sự trì hoãn ăn mừng thiên niên kỷ, vòng tay ôm của các tình nhân, sự từ chức - mọi thứ đều tự nhiên hóa cái ý tưởng về một trận động đất và giúp chúng tôi “sống chung với nó”, như bây giờ người ta nói. Ngày nọ, một phụ nữ trẻ gương mặt tươi mới, vừa mới cưới và rất tươi vui đến văn phòng tôi để thảo luận về một bìa sách đã giải thích cách đối phó của riêng cô với niềm tin mạnh mẽ.

“Ông biết động đất là không thể tránh khỏi, và điều đó làm ông sợ,” cô nói và nhướng mày. “Nhưng ông sống qua từng khoảnh khắc bằng cách hành xử như thể nó không xảy ra vào chính xác khoảnh khắc đó. Nếu ông không làm vậy, ông không thể làm được cái gì cả. Nhưng hai ý nghĩ này mâu thuẫn với nhau. Ví dụ, chúng ta đều biết đứng trên ban công sau một trận động đất thì rất nguy hiểm. Ngay cả như vậy, bây giờ tôi bước ra ban công,” cô nói với tôi bằng giọng của cô giáo, và rồi, từ từ mở cửa, cô bước ra ngoài ban công. Tôi ngồi yên, cô đứng đó nhìn thánh đường bên kia đường và quang cảnh vịnh Bosphorus phía đằng sau. “Khi tôi đứng đây,” cô nói lưu loát hơn, vài giây sau khi mở cửa, “tôi tin động đất không thể xảy ra vào chính thời điểm này. Bởi nếu tôi tin như vậy, tôi sẽ quá lo sợ và không đứng đây được.” Một lúc sau, từ ban công cô bước vào, đóng cửa lại sau lưng. “Tôi làm như vậy đó,” cô nói, với nụ cười gió thoảng. “Tôi ra ngoài ban công, và khi tôi ở đó tôi đã chiến thắng cơn động đất trong đầu tôi. Với những chiến thắng nhỏ như vậy tôi sẽ đánh bại trận động đất lớn sắp tới.”

Sau khi cô đi, tôi ra ngoài ban công, chiêm ngưỡng những ngọn tháp nhà thờ và vẻ đẹp của Istanbul và của vịnh Bosphorus trồi lên trong sương. Tôi đã sống trong thành phố này trọn đời. Tôi tự hỏi mình cùng một câu hỏi với chàng trai nhịp bước trên đường kia, là tại sao một con người không thể dứt áo ra đi.

Đó là bởi tôi thậm chí không thể tưởng tượng ra việc không sống ở Istanbul.

ors: Essays and A Story ebook©MotSAch Nhã Nam & NXB Văn Học tve-4u©vctvegroup | 07-04-2021
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.