Tối nay chàng trở lại nhà tôi sớm, như thể chàng nóng lòng tự bào chữa… Hay là vì trời đang báo hiệu mưa trong cơn dông đêm sắp nổ ra?
Tôi chỉ chén đũa của chàng ở đối diện bàn nhưng chàng từ chối ngồi vào mâm cơm… Chàng đã dùng cơm tối sớm, với những bạn Mãn Châu mới. Nếu đúng vậy thì chàng hẳn đã ăn uống rất tồi tệ: bộ mặt quá ư thiểu não, đôi mắt lại thâm quầng… Tôi chắc chắn là chàng đã khóc cách đây không lâu. Rồi chàng ngồi xuống. Không nói gì cả. Tôi hết sức tránh buột miệng hỏi chuyện. Chàng có vẻ muốn nói chuyện… Tôi bèn ngăn lại:
— Anh bạn ơi, có lẽ tốt hơn ta ra ngoài hiên chuyện trò cho yên tĩnh… Không, không ra ngoài sân được, mưa sẽ trút xuống như thác đó! Để tôi gọi gia nhân dọn dẹp bàn ăn. Ta sẽ đặt một ngọn đèn ở đầu bên kia, để hút hết muỗi về phía đó, và… Đây, anh lấy chiếc ghế dài này đi…
Chàng ngả lưng xuống. Vẫn không nói gì. Tối nay, vòm trời đen của riêng tôi đang chứa chất sự đảo lộn báo hiệu cơn dông mà cả hai chúng tôi đều cảm thấy rõ. Chính vì lý do này mà tôi nói chuyện dịu dàng.
Chàng nằm dài như một đứa bé mệt mỏi. Tôi cảm thấy chàng hẳn sẽ chợp mắt ngay tức khắc nếu chàng không lộ vẻ nóng lòng muốn kể ra… chuyện dan díu của mình, tất nhiên là với mấy cô nàng trinh nữ ở Tiền môn ngoại…
Tôi thấy là họ đã làm chàng đau khổ!
Cuối cùng chàng lên tiếng:
— Ngày hôm nay tôi nhận được một lá thư làm tôi rất đau khổ.
Ôi, mấy cô nương này mà cũng chịu khó dùng đến giấy bút thế!
— Cha tôi báo tin là ông sắp cưới vợ lần nữa…
Thực vậy. Tôi quên bẵng người cha của chàng; và cái tin đó thì tôi đã biết. Rồi sao nữa? René Leys đoán ra là cái tin này không làm tôi kinh ngạc. Để làm tôi có thể chia sẻ cảm xúc của mình, chàng bắt đầu nói về gia đình chàng… chàng nói, cùng một giọng tâm tình đã mở những cánh cửa vào Hoàng Cung tối hôm trước!
— Cha tôi thật là sai lầm với chuyện tái hôn này! Ai cũng biết cái ngữ mà ông sắp rước về! Một cô ông quen trong một lần đi giao hàng ở louvain. Mẹ tôi khi ấy còn sống…
Điều này sẽ không có vẻ gì đáng tổn thương nếu tôi không đoán được nỗi dằn vặt trong tận cùng tâm hồn thanh xuân nửa Bỉ nửa Pháp này: mẹ chàng là người Pháp và bản thân chàng cũng không muốn mình trở thành người Bỉ. Có lẽ điều này sẽ ngăn cản chàng không bao giờ nhập quốc tịch Trung Quốc theo kiểu Jarignoux, ông bạn quý của chàng! Nhưng nói cho cùng, đó là chuyện của chàng! Và nhất là cuộc sống riêng tư của một tiểu thương góa vợ sắp tái hôn thì không thể làm tôi động lòng, đặc biệt là vào tối hôm nay.
— Ta nói sang chuyện khác, được không nào?
— Điều làm tôi buồn, René Leys cố tiếp, là việc cha chê trách tôi về lối sống. Tôi không biết ai đã viết thư cho ông! Ông cũng trách tôi làm phương hại đến địa vị của mình ở Đại học. Ôi, ông không biết gì cả!
(rốt cuộc, lại chuyện cha con Leys!)
— Cha đối xử với tôi như đứa con nít. Tôi không thể nói ông nghe những gì xảy ra với tôi: ông sẽ kể lại oang oang cho cả làng trên xóm dưới cùng nghe! Cha nghĩ rằng nếu tôi bỏ dạy thì tôi sẽ chẳng còn “địa vị” gì nữa… Ôi, ông không biết gì cả! Rồi bỗng dưng, với sự giản dị mạnh mẽ của đứa bé chùi mắt bằng tay áo bẩn, và bằng cách lấy lại giọng nói và sự điềm tĩnh cố hữu, René Leys trở lại chính mình, chuẩn xác và thạo tin: cái tin mà chàng không thể viết cho cha mình thì chàng phải nói ra với ai đó – với tôi chẳng hạn. To tát lắm đó: chàng thanh niên mặt mũi còn non choẹt này, từ mười tám đến hai mươi là cùng, chàng ngoại quốc này, chàng rợ này, chàng Bỉ này, vừa được bổ nhiệm, chính ngày hôm nay, vào một chức vụ cao cấp trong Cục mật vụ Bắc Kinh.
Tôi không bị bất ngờ hoàn toàn. Chuyện này cắt nghĩa rất nhiều thứ. Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ bịa ra những chi tiết. Chi tiết là như thế này: từ lâu “nghi ngờ” rằng mạng sống của nhiếp Chính Vương bị đe dọa, chàng đã vì tình bạn với người anh em của bạn mình, tức cố Hoàng đế, mà tự thấy có nghĩa vụ phải bảo vệ mạng sống đó. Chàng nghe ngóng những trao đổi giữa đám con hay cháu của các thân vương, giữa đám thái giám và phụ nữ – nhất là vào cuối những bữa tiệc mà rượu mai Khôi lộ chảy tràn như suối. Chàng lại có sáng kiến yêu cầu các ca kỹ cũng lắng tai nghe cho rõ như chàng. Như vậy, vào ngày hôm trước cuộc mưu sát ở Hậu môn Kiều, Trinh thám giai nhân – mà tôi có lần ôm trong tay với một khoảng cách! – đã nỗ lực phát hiện được quả bom cực kỳ đúng lúc, và René Leys đã bỏ cả một đêm rình mò rồi cuối cùng cắt các dây điện và cứu mạng nhiếp Chính Vương.
Tôi hiểu là sau công trạng đầu tiên này, “vị trí” không chính thức của chàng có thể trở nên vững chắc biết mấy. Tôi mở lời khen. Chàng nói tiếp: kết quả này làm chàng tự tin. Chàng sẽ tuyển mộ thêm nhiều “nữ trinh thám” trong các kỹ viện ở Tiền môn ngoại. Chàng cảm thấy họ đáng tin cậy. Chàng trả tiền họ và họ biết vâng lời hơn cánh đàn ông. Vì vậy mà cô nương “Thanh khiết Vô nghi” sẽ trao thân cho người mua si tình chỉ khi nào được lệnh.
Thất vọng làm sao! Vậy là chẳng còn tình yêu lạ thường trên đời này nữa! Chỉ còn đơn giản là một sự… giao nhận, với tất cả sự chuẩn xác và thẳng thắn “vô nghi” của từ này.
Tôi cũng được biết thêm rằng Cục mật vụ của nhiếp Chính Vương là một cơ quan tương đương cấp bộ, thuộc loại được tổ chức tốt nhất; nó có văn phòng riêng, quan chức, thư lại và nhân viên riêng.
Tôi nói thêm:
— Còn các trường học nữa chứ?
— Vâng. Ủa, sao ông biết?
— Tôi cũng có trinh thám của mình mà. Nói tiếp đi.
Tôi cũng được biết René Leys ăn mặc thế nào khi được nhiếp Chính Vương tiếp kiến: trang phục “quan tứ phẩm” triều đình.
— Có đeo huân chương hay không?
Tôi muốn biết qua câu hỏi trên là, chàng có nhận được huân chương tương đương với cái mà một người tôi quen biết… viên chức Trung Hoa Jarignoux…
Chàng tỏ vẻ không hiểu. Tôi nói cho chính xác:
— Lưỡng long Huân chương.
Chàng tỏ vẻ khinh bỉ làm sao:
— Cái thứ đó à? Chỉ dành cho dân châu Âu! Một gã người roumanie biểu diễn nuốt kiếm vào họng làm vui nhiếp Chính Vương tháng rồi vừa được ban cho thứ đó… Và một gã khác, Jarignoux, dân Pháp làm nghề cạo giấy, cái gã mà người Trung Hoa đối xử như tên cu li từ khi hắn trở thành người Trung Hoa đó…
Chàng đúng là nắm được nhiều tin tức; và chính tôi cũng thế, càng ngày càng nhiều hơn; tôi được biết chàng làm gì trong một phần đêm của mình – cái phần lớn hơn đó: chàng đến Văn phòng Trung ương của Cục mật vụ, chàng phát âm một cách thân mật là “MV.” và xem xét những báo cáo được tập trung về nơi đây; chúng đến từ mọi phía, từ mọi thị tộc, từ mọi xó xỉnh ở các nha môn, từ mọi nhà bếp và trạm gác cổng của các công sứ quán Âu, mỹ và nhật Bản.
Bộ máy nhân sự thì đủ loại người: ở cấp cao là những đại thần; ở cấp thấp nhất là những tên mã phu, người hầu mỗi khi được giao được một lá thư để chuyển thì chạy thẳng tới “Văn phòng Trung ương”, và tại đây, lá thư đó được mở niêm phong một cách khéo léo (thao tác phải cực kỳ tỉ mỉ vì giấy Trung Hoa không chịu được hơi nước) rồi ghi vào sổ, đọc, sao chép và cũng từ đây nó sẽ được đưa đến tay người nhận, tất cả chỉ mất một tiếng đồng hồ; nếu có thư trả lời thì nó cũng qua các giai đoạn tương tự. Mỗi một nhân viên danh giá này, dù chức lớn hay nhỏ, phải trình nộp một “báo cáo hàng tháng”. Anh ta giao nó cho cấp trên trực tiếp, người duy nhất mà anh ta biết, và người này đưa nó lên tới thủ trưởng cơ quan, một nhân vật mà không một nhân viên nào biết được nhân dạng và hành tung…
Được tổ chức một cách có hệ thống, được quản lý một cách chặt chẽ, thì cũng là điều tự nhiên dễ thấy thôi. Tôi đã coi nhẹ một vài lời lẽ mà tôi moi ra được từ thầy Vương về đề tài này, nhưng bây giờ tôi bỗng dưng cảm thấy kính trọng thầy ít nhiều. Và đối với René Leys, người giải thích tất cả mấy chuyện trên cho tôi một cách có thẩm quyền, tôi cảm thấy một sự hào hứng và ngưỡng mộ tràn trề đến mức sẵn sàng bùng lên, như đám mây to đang di chuyển một cách ngạo mạn xuyên qua bầu trời đêm phía trên đầu chúng tôi… Trời nóng và tối như mực. Nhưng có hề gì với tôi! Tôi thấy rõ con đường của mình rồi. Đây là ánh sáng, đây là cánh cửa mở ra cho sự thâm nhập! Đây là lối vào hứa hẹn – bức tường Đỏ, bức tường Vàng, và bức tường Tía không thể vượt qua được, tất cả bỗng dưng trở thành một mạng lưới tinh tế và gần như trong suốt mà tôi sẽ chọc thủng và đi xuyên qua bằng cách chơi trò thay đổi trang phục… lòng tự tin của tôi vào lúc này thì không còn biết đến giới hạn nữa: tôi sẽ biết tất cả, tôi sẽ thấy tất cả.
Tôi không thể không buột miệng khen chàng:
— Tóm lại, trong Hoàng Cung anh cũng thấy thoải mái như ở nhà mình, phải không?
Và tôi chờ đợi chàng nói hết cho tôi nghe: chàng có thâm nhập vào tận bên trong cuộc họp của Quân Cơ Xứ mỗi rạng đông hay không? Chàng hô lên vài tiếng hay đưa tay ra dấu, thế là có phải bọn thái giám quỳ mọp trước chàng hay không?
Không đâu. Có vẻ không phải thế chút nào; ngay trong Hoàng Cung hình như cũng có những hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được đối với toàn bộ mật vụ của nhiếp Chính Vương, và ngay cả nhiếp Chính Vương nữa!
— Vậy thì đừng vượt qua chúng! Tại sao anh lại có nhu cầu đó chứ? René Leys trở nên nghiêm túc quá mức:
— Đó là vì… mạng sống của ngài bị đe dọa hàng ngày. Nhất thiết ta phải tìm đến tận nơi mà từ đó người ta ra đòn… Và ngài thì chẳng nghi ngờ chút nào cả.
— Vậy… cảnh báo ông ta đi!
— Tôi sợ làm thế lắm. Tôi thấy khó nói, e làm ngài sợ hãi lần thứ hai… nếu mà ông thấy được bộ tịch run rẩy, cái nhìn thất thần của ngài khi biết được vào ngày hôm sau là “ngài có thể đã bị dính bom”! Vẻ mặt của anh ngài ngày xưa cũng giống như thế! Khi biết là chính tôi đã cắt các dây điện, ngài gọi tôi là “hiền hữu” của mình. Bạn hiền của ngài! Ôi, ông hiểu chứ?
Tôi hiểu. Từ này mang độ âm vang tuyệt vời từ cửa miệng của một người sẽ trở thành bạn tôi vào ngày đẹp trời nào đó. Chàng bỗng nhiên có vẻ hiểu ra và chấp nhận ý nghĩa trọn vẹn của từ này với tất cả độ vang vọng của nó.
— Vậy anh giờ là bạn của nhiếp Chính Vương, phải không nào?
— Phải.
— Thế thì…, nếu anh lo ngại cho ông ta về những nguy cơ mà anh không dám kể lại với ông, và bởi vì anh đã có công trạng đầu tiên, thì hãy mạnh dạn đi đến tận cùng. Hãy yêu cầu giao cho anh, một đêm thôi, hai đại đội lính cấm vệ; rồi bao vây các khu nào trong Hoàng Cung mà những “nguy cơ” này đang ẩn nấp… Đám cháy sẽ bùng lên tối hôm đó, do một tên thái giám, ghen tuông hay hung dữ… hắn sau đó sẽ được thưởng công hậu hĩnh. Và chỉ những ai mà anh cố tình để cho ra ngoài mới trốn thoát được. Khi xong việc, anh chỉ cần cho xịt nước để ngăn lửa lan sang các Đình tạ xung quanh. Rốt cuộc thì những “nguy cơ” làm ông ta sợ hãi sẽ chẳng còn bao nhiêu, và anh sẽ được tiến chức đến… tôi không biết… ví dụ như: Thủ lãnh tối cao toàn thể mật thám của mười tám tỉnh và các nước triều cống… Leys thân mến này, ra tay đi nào, và anh sẽ giàu to!
Chính tôi cũng không biết chắc là khi nói như vậy, tôi đùa cợt hay tôi tiên tri – tôi chỉ ý thức đơn giản là tôi nhập cuộc chơi. Thế nhưng… ngay khoảnh khắc này tôi bất chợt nhìn chàng… và tôi im miệng ngay; tôi cảm thấy bối rối thật sự, gần như sợ sệt đột ngột trước nét mặt đầy kinh hãi của chàng… Chàng cũng nhìn tôi đăm đăm… Tôi không biết chàng có thể nói gì với tôi. Chàng trông thật đáng sợ: hai mắt lõm sâu, nỗi điên loạn đang trào ngược lên, cả vùng miệng căng ra để sắp sửa lên tiếng… một người đối thoại lạ lùng! Thề trên vầng trán bị cạo nhẵn của bạn chàng, nhiếp Chính Vương, tôi mong chàng nói. Nhân danh Phật và đám sư tử cẩu của Phật! Hãy nói đi! Nói gì cũng được mà…
Chàng nói:
— Không một ai… dám đâu. Ông có biết ai ở đó không?
— Không biết. Chính vì điều này mà lời khuyên của tôi không vụ lợi.
— Ngay cả nhiếp Chính Vương cũng tỏ ra kính cẩn khi nói về người đó… Ông không biết ai…?
— Mà anh đang nói đến à? Không biết. Lần thứ hai đấy. – Ông không…
— Biết! Tôi chấm dứt câu nói cho chàng và chỉ kịp đỡ chàng ngả lưng xuống chiếc ghế dài mà may sao tôi đã chọn cho chàng. Đó là một cơn khủng hoảng, một cơn khủng hoảng thật sự với nước mắt và tiếng nức nở rõ to. Khóc được là tốt, cứ khóc thoải mái đi. Sau đó, chàng sẽ ngủ. Nếu là nhà thơ, tôi sẽ tự hỏi ngay lập tức: đâu là suối nguồn của những giọt lệ này, và đến lượt mình tôi sẽ làm tuôn trào, coi như định chỗ cho nước mắt chảy vào, những đài nước với những câu thơ “Alexandrin” [1] trôi chảy và trong trẻo.
Cuối cùng chàng bình tâm lại, trở nên mạch lạc và hợp lý… thật ra đó là một giọng quá ngoan và quá con nít:
— Tôi xin lỗi: những tin tức mà tôi nhận ngày hôm nay, chúng xấu quá! Tôi không thể chấp nhận chuyện cha tôi muốn lấy vợ lại!
Ồ! Tôi còn ít bình tâm hơn sau cơn xúc động như thế! Đêm cho tâm sự và dông tố này; đêm của vẻ đẹp tối tăm này, mà cuối cùng thì chàng sẽ thú nhận với tôi chàng là ai… mà tôi sẽ đoán được tương lai của chàng… những dự định này, cơn khủng hoảng tình cảm này, tất cả mấy thứ này đều kết thúc bằng cái tin thảm thương về cuộc tái hôn sắp tới của ông bố! Tôi không biết nữa… Chàng chắc phải mệt mỏi lắm vì những giọt nước mắt của mình! Còn về phần “nhân vật” tới nay vẫn vô danh nhưng vẫn là một mối nguy đe dọa nhiếp Chính Vương, tôi không muốn vắt óc suy nghĩ đến nữa, vì rằng chính Leys, người quan tâm hết sức đến việc này, lại pha lẫn nó với ý định tái giá của một ông bán thực phẩm quèn!
Vậy mà tôi vẫn hết sức muốn biết điều gì trong hai điều này – lời khuyên khá quyết liệt của tôi về việc ra tay gây ra hỏa hoạn ở một góc Hoàng Cung, hay là lá thư mà Leys nhận được – đã khởi động đúng lúc cơn khủng hoảng này. Điều tôi nói chắc đã làm chàng kinh hãi thực sự. Thôi, hãy để lời luận bình về chuyện đó sang bữa khác, bởi vì hôm nay, hay đúng hơn là đêm nay, chàng đã chợp mắt trên chiếc ghế dài rồi.
Tôi cho người nhẹ nhàng khiêng Leys vào giường chàng. Rồi tôi chờ, một mình với bóng đêm, cho những đám mây tích điện và đầy nước cuối cùng vỡ òa và đổ nước mắt xuống – nước mắt Trời làm dịu hết nỗi đau tinh thần chất chứa và dâng trào tận tâm can: chàng – chàng nói gì – chàng dường như là gì… chàng là gì?
Tôi chờ rất lâu. Những đám mây lớn vẫn không vỡ ra. Và trên cao trời vẫn đen kịt. Và căng thẳng vẫn đầy ứ trong tôi…
❀ ❀ ❀
[1] Câu thơ Pháp có mười hai âm tiết.