Tình cờ đi vào những gian nhà phía nam của mình sáng sớm hôm nay, tôi ngạc nhiên thấy René Leys ở đó, nằm dài trên giường, còn mặc áo quần khá đầy đủ, đang ngủ say. Chàng trông rất xanh xao. Nhưng chàng về nhà lúc nào vậy kìa? Tôi không nghe tiếng cửa mở… có lẽ vì mải đắm chìm trong cơn mơ về Phu nhân Vương.
Tôi nhẹ nhàng đi ra. Tôi gọi gã gia nhân: hắn không biết gì nhưng mắng mỏ gã gia nhân thứ hai, gã này lại bảo hắn đi tìm gã cu li mà hỏi, và gã cu li bèn tố cáo gã gác cửa là đã không có mặt ở cửa. Dù gì đi nữa, thực tế là René Leys đã về nhà trong đêm, rốt cuộc đang ngủ dưới mái nhà tôi. Nhưng tại sao chàng không cởi đồ? Có phải chàng quá lười biếng, vẫn còn làm khách, hay vội đi ra ngoài lại? – Tôi ra lệnh cho các người giúp việc trong nhà (và cái lệnh này ngay tức khắc cũng được lặp lại một cách ầm ĩ) là không được làm ồn sáng nay…
— Sao! Dậy rồi à? Sớm thế này ư? Bây giờ anh đi đâu đấy?
— Dạy học, René Leys trả lời rất tự nhiên khi bước ra khỏi phòng. Chàng đã rửa ráy xong, đeo cà vạt, hai má sạm giờ đã hơi ửng hồng, chuẩn bị rời nhà.
Tôi không dám giữ chân một giáo sư đúng giờ, đúng giấc đến thế. Cảm thấy bực mình, tôi quay sang trách cứ đám gia nhân. Gã gác cửa lại dẫn xác về đúng lúc này, thề thốt là đêm qua hắn ở nhà than khóc cái chết của người cha nuôi.
Tôi không làm việc gì nhiều suốt buổi sáng nay. Tôi nhìn lên trên những mái nhà của mình với những góc mái uốn cong một cách mềm mại, tôi nhìn mùa hè đang làm cái khuôn chữ nhật màu xanh của bầu trời Bắc Kinh thêm sâu hun hút, cái khuôn đó giờ thuộc về tôi bởi vì tôi là người thuê ở ngôi nhà này, không gian này. Tôi ngắm đóa sen của tôi trong chiếc chậu sứ lớn mà trong đó đáng lẽ phải có những con cá nhiều màu bơi lượn; và để giết thì giờ, tôi ngồi đo chiều cao của mặt trời bằng kính lục phân, tôi tìm cách xác định giờ bằng đường đi của cái bóng chếch của tôi khi nó từ từ tiến lại gần trục của các căn nhà chính. Rồi khi bóng tôi đổ lên chính xác dọc cái trục này, tôi cảm thấy từ trong xương tủy đây là chính ngọ thực sự tại kinh tuyến nơi tôi trú ngụ, nơi tôi đang đứng im, trên những viên đá lát tràn ngập ánh sáng, trong cái giếng trời bốn cạnh của cái sân trong này, Hoàng Cung của riêng tôi!
… Ngay đúng lúc này thì chàng trở lại lần thứ hai. Nhưng không về một mình: ba chàng thanh niên ăn vận thanh lịch đi cùng. Chàng giới thiệu:
— Đây là các ông Địch lương, lương Chấn và ngô Kha…
Tuyệt vời! Tất cả đều là người Mãn Châu: các tên họ chỉ có hai chữ này thì không thể lẫn vào đâu được.
Chàng cũng nói ra tên tôi: Đây là ông “Tiết”. Được chọn từ những họ tên cổ điển trong “Bách gia”, “Tiết” là từ đơn âm tiết nghe từa tựa họ phương Tây của tôi, phải nói là phương Viễn Tây mới đúng bởi vì nó xuất phát từ tỉnh Finistère [1] “cùng trời cuối đất”,… là Segalen, cái họ vùng Bretagne của tôi đó. Hai âm tiết còn lại sẽ tạo thành họ tên Trung Hoa đầy đủ của tôi. Toàn bộ được phát âm là: “Sié Ko-lan”, và làm tôi phật lòng ít nhiều, vì nếu dịch “Ko-lan” (không tính “Sié”, Tiết, là họ) thì sẽ ra chính xác thế này: “Khuê lan”. Tôi thấy “Bông lúa mạch”, nghĩa của tên tôi theo thổ ngữ Bretagne, nghe có giá hơn.
Cuộc viếng thăm xảy ra vào giờ này khiến tôi tin rằng những thiếu gia này định dành cho tôi cái vinh dự được tiếp đãi họ bữa trưa. Một cách kín đáo, tôi cử người báo cho anh bếp biết là “có thêm ba khách ăn trưa”, tin rằng bữa ăn năm người sẽ được chuẩn bị chớp nhoáng và tôi sẽ trả tiền như thể bữa ăn dành cho mười hai người.
Trong khi các vị “khách” của tôi trò chuyện với nhau và xem xét khá kỹ những đồ vật châu Âu không thể thiếu và phù hợp với ngôi nhà Trung Hoa của tôi, – René Leys bổ sung cho đủ cuộc giới thiệu:
— Gã to con kia kìa – to nhất, đang lục lạo tủ sách của ông đó – làm việc ở Bộ lễ. Gã khác, nhỏ con, lông mày chụm lại đó, là cháu của lương Thân Vương…
— A! Nhớ rồi, một trong những học trò của anh phải không?
— Không. Không phải học trò: là bạn tôi đấy.
— Nhưng anh có nói với tôi rằng một trong số học trò của anh là “cháu của lương Thân Vương” mà. René Leys nhìn tôi một cách thương hại rồi nói rõ ràng:
— Lương Thân Vương có đến cả tá cháu. Đứa thứ mười một là học trò tôi. Gã này thứ sáu.
— Xin lỗi nghe! Còn cái gã “thứ ba” đang phá cây bút máy của tôi, ấn xuống như thể nó là bút lông Trung Hoa?
— Hắn à?… René Leys kê miệng gần tai tôi, nói thầm một cách kính cẩn: Trưởng nam của Cung Thân Vương đó!
Ồ! Nhân vật nặng ký đây. Điều này chính xác đây. Quan trọng lắm đây. Chàng thanh niên đó có thể phá nát cả bàn giấy của tôi thì cũng chả sao, tôi tự nhủ, nếu anh ta hạ cố làm thế! Trưởng nam của Cung Thân Vương mà! Và tôi đọc thầm trong đầu, như một mục từ trong một thứ niên giám “gotha” [2] Trung Hoa, những cuộc kết hôn và tái hôn của ông lão Mãn Châu này. Ông vốn nổi tiếng cách đây năm mươi năm hay hơn nữa về những cuộc đàm phán – thắng lợi ngay giữa sự thất trận – trên những “đống đổ nát còn bốc khói của Cung điện mùa hè” (từ đó đã trở thành di tích lịch sử). Anh “Trưởng nam” này… cũng là lịch sử nữa. Nhưng sự chênh lệch về tuổi tác giữa cha và con này thì đáng ngạc nhiên làm sao! Chàng ta ở độ tuổi “không tuổi” – từ hai mươi lăm đến ba mươi lăm – của tất cả người Trung Hoa, Mãn Châu hay mông Cổ chưa phải là người già.
— Tôi đưa các bạn tới đây gặp ông, René Leys cuối cùng lên tiếng, bởi vì tôi thấy để học một thứ tiếng, không có gì hay hơn một cuộc đàm thoại với nhiều người; và nhất là để thu xếp gặp lại họ tối nay ở Tiền môn ngoại… nếu ông chịu đến đó. Ngay tối nay à? Được thôi. Nó sẽ đem lại sự so sánh sâu sắc giữa mệnh phụ Mãn Châu của tôi, tối hôm qua chứ đâu, và những cô kỹ nữ Trung Hoa hôm nay. Chúng tôi ngồi xuống bàn dùng bữa trưa. Họ nói chuyện với nhau một cách cứng nhắc và giả tạo. Người khó hiểu nhất trong cả bọn là René Leys, chàng tung ra những lời dí dỏm lịch sự hay những lời bóng gió lẹ làng.
Cuối cùng, các thanh niên danh gia vọng tộc này từ giã tôi để về lo “công chuyện”, miệng rối rít xin lỗi đã làm gián đoạn “công chuyện” của tôi.
Tôi không thể nghĩ ra việc gì hay ho để làm giữa bữa trưa và buổi đêm đang tới hơn là chiêm ngưỡng hàng giờ toàn cảnh thành phố từ điểm cao nhất. Vậy là tôi sẽ đi đến phía bắc Khu thành Thát Đát, rồi leo lên cái “Tháp Chuông” do người xưa để lại, gọi là “Chung lâu” [3], một di tích mông Cổ xưa nhất trong tất cả các công trình… nhìn thẳng về phía nam từ sân hiên có những lỗ châu mai màu trắng, tôi sẽ thấy “Tháp Trống”, tức “Cổ lâu”, to tướng, rồi Cảnh Sơn, Hoàng Cung xa cách và khép kín, những tường thành của Khu thành Thát Đát tạo thành một sự ngăn cách dứt khoát ở những góc thẳng… Và ở ngoài nữa, xa hơn về phía nam, là hình chữ nhật dị dạng của Khu thành Trung Hoa, nằm dài như con bò cái kéo xe dưới chân Thành phố của những người Chinh phục, và đặt trên lưng con bò đó tựa như cái giá ba chân, ba cửa lớn của mình: Tiền môn Trung, và Tiền môn Tả và Hữu ở hai bên… nhìn theo con mắt của người sáng lập thành phố, tôi sẽ tìm kiếm trong hình tứ giác mênh mông mà Khu thành Trung Hoa chỉ là ngoại ô phía nam một ý tưởng tổng thể bất hủ mà vị Hoàng đế vĩ đại từng mơ ước, “người đã trị vì cách đây bốn trăm năm [4] dưới niên hiệu Vĩnh lạc”, và thời gian tại vị quá ngắn để người làm xong bức tường thành của mình! Bên trong những ranh giới tưởng tượng hay thực sự của kinh đô, tôi biết là từ trên đỉnh “Chung lâu” này, tôi sẽ thấy Kinh đô phía bắc trải về trước mặt qua bình nguyên như một tấm tranh ghép kính với màu xanh của lá cây, màu vàng của những mái cung điện, màu xám của nhà cửa cư dân.
Tôi biết là nếu tôi quẹo sang hướng khác và đến dưới bóng mát của cái tháp cao lừng lững, tôi có thể dang tay và rung nhẹ như hơi thở cái chuông đồng đồ sộ bằng các đầu ngón tay… gọi về cho riêng tôi cái giọng nghẹn ngào của sắt, đồng và của đồng thau… nó chia cắt thời gian qua tiếng cầm canh, giống như tôi vừa chia phần lại cái không gian trải dài trước mắt mình…
… Tôi cũng biết rằng nếu tôi cứ dùng dằng không chịu thắng yên con ngựa lùn của mình để chạy đến và leo lên Chung lâu thì mặt trời sẽ lặn sau dãy núi Tây Sơn ở cách đó năm hay sáu dặm trường trên vùng bình nguyên… mặc dù tôi nghĩ là trong những ngày hạ chí như thế này, trời vẫn còn sáng khi tôi quay về nhà…
Tôi biết trước tất cả những gì sẽ xảy ra, tất cả những gì đang tồn tại… tất cả những gì vẫn còn bất khả. Vậy thì tại sao đè nặng bản thảo này với những thứ lặp đi, lặp lại… Tốt hơn là đi ra ngoài cho thoải mái khi ngày khép lại, để hoàn tất dự định – cái dự định cứ lớn dần trong cảnh u minh bất định của những giấc mơ – vào khoảnh khắc nội tâm này, phụ thuộc vào chính mình nhưng không bao giờ lặp lại chính mình… Đúng, đây hẳn là nơi đó, tôi nghĩ. Đó là một nhà hàng: ở phía trước những người xà ích đi lại không ngừng, những gã phụ bếp mang đủ loại thực phẩm, và những thái giám, than ôi, từ nay không còn mang gì nữa.
Thế nhưng, tôi thấy do dự. Ta không thể bước một cách trâng tráo vào “Thế lạc Cung” [5] – tôi đọc được nghĩa của hàng đại tự đen được viết trên đèn lồng… nhưng sau đó tôi thấy chàng. René Leys từ cuối hành lang hẹp tiến ra gặp tôi và đưa tôi vào trong với cung cách giản dị, đàng hoàng, và thực sự thoải mái như ở nhà mình. Một cái sân trong với bóng tối và ánh sáng xen kẽ nhau trông rất thú vị… một căn phòng rộng… rồi một sân khác; một “cầu thang” – loại thang bất tiện nhưng hiếm có trong các ngôi nhà Trung Hoa vì hầu như chúng chỉ có một tầng. Chúng ta sẽ ăn tối, René Leys giải thích, trên “Thượng lâu”, ở đó sang trọng hơn dưới này rất nhiều. A! Các bạn đây rồi. Và tôi suýt dùng hai tiếng “bạn cũ” đấy. Tôi cảm thấy vui vẻ và cực kỳ thoải mái giữa những thanh niên danh gia vọng tộc này, họp mặt nhau tại đây tất nhiên là để “vui chơi”. Vậy thì trong chốc lát ta sẽ vui chơi – hết mình. Người Trung Hoa biết uống, đúng rồi. Nhưng người Mãn Châu thuần chủng gần như có gốc gác từ Sibérie, về điểm này thì kết hợp các ngón nghề của người Trung Hoa với sức uống hiển hách của người nga – gã anh vợ của mình. Những người khách khi trưa ở nhà tôi đều hiện diện cả ở đây: “Đại Kính Tử”, “Tiểu Điệt”, “Thời Trưởng nam” [6]… Tôi gọi họ như thế, đơn giản là tôi sử dụng cái quyền bằng hữu đặt cho những người bạn mới của mình những biệt danh thân tình… nhưng có mặt thêm một người mới… kỳ lạ nhưng quen thuộc… Tôi đã gặp hắn ở đâu kìa? – Cặp mắt linh hoạt, đôi chân ngắn và cong leo lên yên ngựa từng bước một… Thôi đúng rồi, “người Chinh phục Thát Đát” của tôi đó, trong đội hình tiền vệ của đoàn người ngựa sáng nay. Cho nên tôi thấy không ngạc nhiên khi nghe lời giới thiệu. “Đây là ông Triệu, chỉ huy đội tùng binh của nhiếp Chính Vương”. Hắn bắt ngón tay cái của tôi một cách vụng về, do vồn vã nhưng không được dạy về lễ tân nên quên béng mất là bàn tay tôi còn bốn ngón nữa… khiến tôi xấu hổ mất một lúc khi thấy chúng bị cho ra rìa như thế. Nhưng tôi bỏ qua. René Leys nói thêm một cách trầm tĩnh, để giúp tôi có thêm thông tin: “một sĩ quan hàng đầu, rất tận tâm, rất dũng cảm, rất dễ nổi nóng, và khủng khiếp khi đã có rượu vào”.
Tôi không nghi ngờ – với cái cổ cóc cô độc này, trán cạo nhẵn thín tận chỏm đầu này… Ồ! Tôi có thể hình dung sau hắn là toàn bộ Mãn Châu lao xuống ào ào, ngựa hí vang lừng, từ Bắc chí nam, nóng nảy nhưng trung thành với Đế chế mới được thiết lập! Những kỵ binh dày dạn chiến trận, những xạ thủ cung tiễn tài tình, những kẻ đánh gươm xuất sắc,… trước hết… thông minh… sau đó… và khủng khiếp khi họ đã…
Được thôi! Hãy để hắn uống say đi! Và nếu hắn có đập bể vài ly rượu sau khi uống thì có hề chi, tôi sẽ đền tiền!
Chung qui, ta đến đây là để vui chơi, không phải thế sao?
Thế nhưng, ta đang chờ cái gì để vui chơi đây?
Ta chờ cái gì – hay nói cho đúng hơn, ta chờ ai? René Leys giải thích, đơn giản thôi, chờ lão Thúc thúc của gã “Tiểu Điệt” đang có mặt ở đây; nói cách khác, là “chú của cháu của lương Thân Vương”. Ồ! Tuyệt quá! Tôi suy nghĩ nhanh chóng và kết luận rằng ông chú này chính là lương Thân Vương, và bằng sự trịnh trọng hơi quá lố, tôi nhờ René Leys giới thiệu mình với cụ già quý phái vừa xuất hiện…
Sau đó, tôi đành cụt hứng: có vẻ như đứa cháu “thứ mười một” của lương Thân Vương có bao nhiêu chú, bác thì lương Thân Vương cũng có bấy nhiêu cháu… Cụ già này “là một chú khác trong số đó”… chú thứ tư hay thứ tám mươi thì quan trọng gì đâu. Thôi thì có một lão quyền quý đến vui chơi với chúng tôi là quý rồi.
Không khí càng lúc càng vui hơn. Tôi không thích gì hơn là thấy người già tận hưởng niềm vui. Lão Thúc thúc tỏ ra sẵn sàng cho vài cuộc chơi. Chúng tôi vừa mới ngồi xuống xung quanh hai bàn thì ông cụ hào hoa này đề nghị “mời vài ca kỹ đến để… hát – Thế thì cũng hợp với tôi: không lẽ tôi ngạc nhiên thấy ở đây người ta dùng âm nhạc dạo đầu cho những cuộc truy hoan mà ở nước Pháp người ta làm rất hay bằng khiêu vũ sao? René Leys xử sự có vẻ như “chủ tiệc” ở đây, và nếu đánh giá theo dáng bộ quan trọng của chàng, thì chàng là “người trả tiền” khi món tráng miệng được đưa ra. Chàng yêu cầu mang tới bút lông, mực, một tờ giấy dài màu đỏ, rồi ra tay phóng bút một cách tao nhã. Đây là cách mời “đúng phép” đó: ta nên tỏ ra đúng mực, trước khi đến thăm các “mệnh phụ” này ở một địa điểm khác, ta phải mời họ tiêu khiển trước tiên ngay chỗ ta đang ngồi đây… – chỗ này không phải là chỗ mà tôi tin là đã đọc được trên chiếc đèn lồng. Đúng là những Thú vui trần thế, nhưng tôi đã lầm về giác quan được thỏa mãn ở đây. Đó là cái thứ năm, tức vị giác, chỉ có mình nó được thỏa mãn nơi đây.
Sự chờ đợi kéo dài quá đi! Những tên mà René Leys viết ra thì đầy hứa hẹn, ngay cả khi được dịch ra: “ngũ Sắc Bích ngọc”, “Tiểu muội”, “nhẫn nghiệm”, “Hoa Sơn”, “Tang Chi” (ít ra đó là bản dịch La-tinh mà các cha dòng Tên đưa ra trong cuốn từ điển Hán - Pháp của họ). Rồi cuối cùng là một cái tên bất ngờ và không chuyên nghiệp chút nào: “Thanh khiết Vô nghi”!
Sự chờ đợi càng lúc càng gây khó chịu! Món thứ nhất, món thứ hai rồi ngay cả món thứ mười bây giờ đem ra trên bàn cũng không thỏa niềm khao khát của tôi và làm tôi bớt nóng ruột. Cuối cùng, sau bao đợi chờ, các Nàng đây rồi.
Bây giờ thì sao? Đến lúc chọn… hay còn phải đợi? René Leys không tỏ dấu hiệu gì, tôi đánh liều… Chàng ngăn tôi lại:
— Không phải em đó! Em là “vị hôn thê” của con trai thứ hai của Thái Thân Vương.
— Ồ! Xin lỗi nghe! Vậy… có lẽ cô này?
— Không thể được! – Đó là “Tiểu muội”! Em đã thành tì thiếp thường trực của lão Thúc thúc rồi.
Đáng lẽ tôi phải đoán ra chứ! Thế nhưng, “Tiểu muội”, giống như tiệm ăn này, dung chứa những lời hứa hẹn rành rành về những Thú vui thực sự trần thế, nhưng cho một giác quan khác – cái thứ sáu… rồi tôi nói một cách hú họa:
— Cô bự con kia?
— Nếu ông muốn, René Leys chấp nhận. Chàng nói thêm, hờ hững: em này là nữ trinh thám mà tôi đã nói với ông đó, “ngũ Sắc Bích ngọc”.
Tôi muốn rút quách sự chọn lựa này: tình yêu kiểu trinh thám thì đáng ngại thật chứ chẳng chơi: tôi sẽ bị lục soát, bị lột truồng, bị khuấy động tận cùng tâm khảm; tôi sẽ bị tố cáo, bị buộc tội, bị liên lụy trong các tội ác vô cớ trong khi chuyện mà tôi suy ngẫm nhiều nhất là sự xâm phạm – có trả tiền – vào sự bất trinh của cô em!
Thực tình tôi muốn rút lại sự chọn lựa này. Nhưng trễ quá rồi: dù tôi đã nói rõ ý mình trước, nàng trinh thám xinh đẹp vẫn ngồi xuống bên tôi.
Tôi yên tâm ngay: bữa ăn rất có không khí gia đình và lúc nào cũng đúng mực, ngay cả khi theo kiểu Trung Hoa bởi vì chỉ có thực khách đàn ông mới ăn, còn các cô vợ tạm thì phục vụ họ. Thế thì hay quá: em trinh thám ngũ Sắc dùng đũa sành hơn tôi rất nhiều. Tôi thích sự phân công lao động trong ăn uống này: tôi mở miệng, em nhẹ nhàng đút vào những miếng thơm ngon, rồi tôi nhai, tôi nuốt. Tôi cũng uống nữa. Thực tình mà nói, tôi đã uống khá nhiều trước đó. Những cái chén này, nhỏ hơn chén uống trà, cứ được rót đầy một thứ rượu âm ấm, và trong vắt như rượu marc [7] lâu năm ở Pháp… rượu mai Khôi lộ [8] đó, René Leys nói, chàng uống rất ít nhưng khuyến khích tôi uống. Được, tôi uống đây… Tôi đã uống khá nhiều trước đó mà.
Tôi cố gắng nhận ra cho rõ những thực khách và các cô gái bên cạnh họ. Lão Thúc thúc thì nói chuyện say sưa với “Tiểu muội” của ông. Nhưng – René Leys bình phẩm từ xa – “họ nói chuyện mua bán đó: ông muốn mua nàng làm thiếp thứ sáu, và họ chưa ngã giá xong”.
Bỗng nhiên thấy ngán ngẩm trước quan hệ hơi bị thiếu tình cảm này, tôi nhìn chỗ khác… về phía Tiểu Điệt, hắn đang cố gắng tránh đưa ánh mắt, dù kính cẩn đi nữa, về hướng chú mình… Đại Kính Tử ở bên tay trái hắn vừa được hưởng cô em “nhẫn nghiệm”. Đừng nản chí! Tôi tự nhủ. Chúng ta hãy chờ! Chúng ta sẽ thấy! Tôi có cảm tưởng là ở góc bàn này, “Hoa Sơn” được vị “Chỉ huy đội tùng binh” chăm sóc ân cần, trong khi “Tang Chi”, dù mang tên như thế, thì không tìm ra ai mời. “Thanh khiết Vô nghi” cũng ngồi không đó…
Tôi ra dấu cho René Leys, mời chàng ra tay chấm dứt cảnh góa bụa tội nghiệp này. Chàng hầu như không đáp lại. Chàng bị thu hút trọn vẹn bởi thứ gì hoàn toàn khác! Ấy là câu chuyện đang được kể một cách sôi nổi ở bàn bên cạnh (viên chỉ huy đội tùng binh chắc chắn là nhân vật chính của câu chuyện, vì hắn đang diễn bằng điệu bộ một cảnh kinh khiếp: một người bị cắt làm đôi! Bằng một nhát gươm tạt ngang!). Không biết tên thủ phạm đó có bị buộc tội, bị kết án, bị lăng nhục, bị tử hình vào sáng sớm mai không? Hay tối nay? Hay ngay bây giờ? Trước mặt chúng tôi?
— Không đâu! René Leys quả quyết. Gã chỉ huy đội tùng binh sáng nay đi trước mở đường cho Quân Cơ Xứ qua ngã “Đông Hoa môn”(cửa thành… bạn biết rồi chứ?), rồi hắn thấy một đám người tướng bộ nguy hiểm tập hợp ở ngã rẽ đầu tiên, sau hàng lính canh… Hắn bắt họ giải tán với vài nhát chém bằng sống gươm, nhưng một trong các kỵ sĩ của hắn bị ngã ngựa, rơi đúng vào lưỡi gươm của hắn và bị cắt làm đôi…
— Ồ! Chỉ làm đôi thôi à? Anh có chắc thế không? Và sáng nay, ở ngã rẽ trước Đông Hoa môn ư? Nhưng tôi có mặt ở đó mà! Tôi chẳng thấy gì cả.
— Vì những người khác đã mang xác đi rồi, René Leys giải thích cho tôi. Ngay cả nhiếp Chính Vương cũng chẳng thấy gì.
Vậy là tôi thực sự hụt mất cuộc ám sát! Đáng lẽ tôi phải ba chân bốn cẳng chạy theo đoàn người ngựa đó chứ. Chính cái tên “Bản sao” chết tiệt đó đã làm tôi chậm bước… Tôi buột miệng đùa là tôi nhiệt liệt chúc mừng René Leys về chức vụ mới của chàng: Đại đô thống Cấm vệ quân. Tôi khen ngợi chàng đã cưỡi rất chi là thoải mái một trong những con ngựa lùn Mãn Châu được đóng yên theo kiểu Trung Hoa. Tôi bảo chàng rằng tôi đã tự hứa với mình là một ngày kia tôi sẽ đi xem chàng trong đoàn diễu hành đó một lần nữa… Và tôi chờ đợi một câu trả lời có đôi chút xấc xược… một sự chối bỏ… Chàng không thích người Trung Hoa lẫn người Mãn Châu đến mức chàng chỉ có thể đau khổ mà thôi khi bị tôi nhìn nhầm, ở ngã ba đường, với một người Trung Hoa hay Mãn Châu, dù cưỡi ngựa giỏi… René Leys không phủ nhận gì cả, và cũng không chối bỏ. Tuy nhiên, chàng ngẫm nghĩ một lúc lâu trước khi trả lời:
— Ông sẽ không thấy tôi đi trong đoàn hộ tống nữa: tôi vừa được bổ nhiệm… ở chỗ khác.
Và chàng lại bắt đầu nói chuyện phiếm với ba thực khách cùng lúc khiến tôi không kịp có cơ hội hỏi những chức vụ mới của chàng ở “chỗ khác” là gì. Bây giờ chàng quay sang chơi trò “các ngón tay đưa ra”, trao đổi với “Thời Trưởng nam” những cử chỉ nhanh nhẹn, những con số tung ra như ở phiên chợ đấu giá, mắt lẹ làng nắm lấy con số đưa ra để mà thêm vào vừa đủ cho thành “mười”. Và người thua phải uống rượu phạt. René Leys thắng luôn và uống ít. Tôi chơi khá dở, và uống nhiều… mai Khôi lộ Tửu này ấm biết bao! Và ước gì cô em kỹ nữ của tôi cũng ấm lên theo! Em thì rất ân cần… nhưng lúc nào cũng giữ kẽ… Bữa tiệc này sao đúng mực quá đi! Đoan trang quá đi… Vậy đó. Và khi nào thì nó mới chấm dứt đây hở Trời?
Bên cạnh chúng tôi, trong một phòng khác cách chúng tôi không hơn một bức vách ngăn lung lay, tiếng ồn ào dội đến quá rõ – và quen thuộc nữa: nút chai nổ bốp này, những tràng cười sảng khoái với rượu sâm banh này, những tiếng la hét oang oang này, phun ra từ các giọng châu Âu mà phần lớn là Pháp, nếu tôi không lầm. Rõ ràng là theo một kiểu hoàn toàn khác với bữa tiệc đang diễn ra ở phòng bên cạnh. Vậy mà tôi cứ tưởng mình đang ở trong môi trường chỉ có Trung Hoa không! Và nếu không có sự hiện diện bên cạnh mình, trong tầm tay, thân thể bọc trong lụa của nàng kỹ nữ do tôi chọn thì hẳn là tôi đã nhận ra tiếng vọng từ “ngọn núi những người Tử đạo” [9] mà hàng đêm, ở một nơi xa đây lắm, người ta mở hội cho người ngoại giáo và… rất là Paris.
— Đúng, ông đã nghĩ đúng, René Leys đoán được những ý nghĩ của tôi. Chàng vừa bắt địch thủ mình “cạn chén” thứ mười; Chàng nói tiếp: bên cạnh có hai ba cặp người Pháp muốn thử cơm Trung Hoa. Mấy tên phục vụ nói với tôi là họ có mang theo đồ ăn riêng và cả sâm banh nữa.
— Thô bỉ làm sao! Khi mai Khôi lộ Tửu sẵn có đây… (René này, không phải thế đâu, thư giãn chút coi! Ồ, đừng ép tôi quá: chén thứ ba mươi tám rồi đấy… Thôi được, “Can bôi” [10], cạn chén nào!)
Tôi tin chắc rằng mình đã gọi chàng theo tên riêng, “René”. Tôi gần như chờ nghe chàng đáp trả bằng “Victor”.
— Và họ là ai vậy? Tôi tiếp tục, tỏ vẻ điềm nhiên.
Có gì quan trọng đâu. René Leys phun ra một số tên họ. Nhưng tôi chả nghe gì… Tôi chỉ nhớ đó là những cặp vợ chồng. Rất là “vợ chồng”. Nhưng dưới mắt của người đã phát minh ra định chế hôn nhân thì họ hình như vui chơi hết sức mà không thấy bó buộc, không nghĩ đến giấy hôn thú.
Tôi quay sang nhìn say mê cô “vợ” của mình, Trinh thám giai nhân, ý trung nhân tạm thời, người tình vờ của tôi đó… rõ ràng là em chẳng vui thú gì cả, tôi nhủ thầm. Em ngồi đây chỉ để làm tròn một chức năng cao quý là làm tôi vui. Em đã ngủ gần như suốt ngày hôm nay để tươi tỉnh một cách rất ư tự nhiên tối nay. Tôi thấy ngại ngùng quấy rối sự thanh thản rất ư… chuyên nghiệp này.
Vậy mà, em tỏ vẻ ưng thuận đây này, gượng gạo lắm đấy, ngồi lên đùi tôi, không, lên chỗ đầu gối thôi. Tôi dám không nào? Từ chân lên đến eo em, không được đụng đến đâu cả. Từ cổ, bị cổ áo bằng lụa bọc kín, xuống tận eo, thì chẳng hy vọng gì hơn. Vậy chỉ còn cái eo, vùng trinh bạch, mượt và mịn khi rờ vào, không ấm, không mát dưới cái áo khoác vạt thẳng. Chẳng hy vọng gì to tát lắm, tôi đưa tay vuốt ve vùng eo. Nhưng đột nhiên chủ nhân của cái bất động sản này bật đứng dậy, phẫn nộ… Ôi, tôi có vụng về quá không? Hay là dại dột ngứa tay lấn sang chỗ khác? Không. Em Trinh thám của tôi chỉ tay buộc tội bức vách ngăn được làm phần lớn bằng nhiều khe hở… Và thực vậy: xuyên qua bức vách, chúng tôi bị dò xét, bị nhìn ngắm thỏa thuê bởi vô số những cặp mắt châu Âu quỉ quái. Chúng tôi vô tình làm vui mắt các bà có chồng này. Họ có ganh tị với chúng tôi không? Tôi nghĩ là họ chế giễu chúng tôi vì đã tỏ ra quá cả thẹn, khuya rồi mà vẫn chưa đi đến đâu! Tôi hơi có ý muốn trả đũa họ… Tôi biết rõ là biết bao nhiêu tiếng động, bao nhiêu tiếng cười không thể xảy ra nếu không có ít nhiều buông thả phóng túng. Vậy thì tôi đành khen họ về chuyện này thôi: phần mình, tôi đã không làm xong được chuyện gì cả!
Tôi có nên kêu cứu với René Leys không? Không đâu! Chàng đã đứng dậy, rời khỏi bàn và kéo “Thanh khiết Vô nghi” qua một bên. Tôi biết chàng dở trò gì rồi: một cách vô nghi, chàng muốn mua cô ta đó.
Bữa ăn tối chấm dứt. Thật là thích hợp khi mọi người dùng cháo cuối cùng và nhai thêm vài hạt gạo. Rồi lau mặt bằng những cái khăn ấm nhưng ướt hơn khuôn mặt tròn đầm đìa mồ hôi của “Đại Kính Tử” mà nửa mình trên như muốn bung hết ra khỏi tấm áo khoác mỏng.
Xong rồi đó. René Leys lễ phép báo cho tôi biết số tiền hóa đơn để tôi thanh toán, chàng không trả gì cả… (chàng nói chàng có sổ ghi nợ hàng tháng từ năm đến sáu lượng bạc ở tửu lầu này…) và mọi người ra về. Đến phiên mình, các “Phu nhân” được tuyển đáp lễ mời chúng tôi đến chỗ họ. Chắc chắn là ở nơi đó sẽ có chuyện xảy ra, điều này không sớm thì muộn cũng sẽ xảy ra, giống như trong Thiên đường các Tiểu thuyết bán chạy nhất thường tả.
… Chẳng có gì xảy ra cả! Tôi thích nói ra, không để bụng, hơn là bắt ai chờ mình trong sự hồi hộp: Khách sạn trang bị ít đồ đạc, ở đó mỗi “Phu nhân” có một phòng, hơn hẳn bất cứ ngôi “Trường Đồng trinh Cưỡng bách và Thế tục” nào. Vâng, tôi biết, tôi đã nghĩ đến điều đó: tính chất người châu Âu da trắng của tôi làm những cô nương da vàng vẫn còn dè dặt hay ngượng ngùng phải đỏ mặt xấu hổ! Nhưng không ai đỏ mặt cả, tôi chắc thế, ngay René Leys cũng không, chàng tỏ ra thoải mái và xử sự rất chi là ý tứ. Vả lại, Đại Kính Tử, Tiểu Điệt, Thời Trưởng nam, không một ai có vẻ tin là ở đây có những lời lẽ khác để nói, những thái độ khác để giữ ngoài thái độ buông thả thân thiết nhất; hay có những khoảng thời gian tạm nghỉ ngoài khoảng dành cho sự đến, đi thoải mái và thường xuyên của những người đàn bà khác đến thăm “phu nhân chúng tôi”, rồi khoảng dành cho “phu nhân chúng tôi” kín đáo rời xa chúng tôi để mà trở lại… nguyên vẹn, tóc vẫn mướt, cổ áo vẫn cao, áo khoác vẫn thẳng thớm, quần lụa vẫn lành lặn.
Bất thình lình nổi lên tiếng ầm ĩ lộn xộn ở cửa ra vào dưới đường. Viên chỉ huy đội tùng binh mới nghe tiếng người ta đánh nhau là đã bật dậy một cách chuyên nghiệp, mặt đỏ gay, mắt giận dữ, và sẵn sàng nhào xuống cuộc loạn đả… nhưng René Leys tỏ ra lanh lẹ hơn, chặn cầu thang, giữ hắn lại trong phòng rồi một mình xuống xem chuyện gì xảy ra…
Vẫn còn ầm ĩ: những tên cu li chửi nhau. Một tiếng huýt còi vang lên, và sự cố, chắc thuộc thẩm quyền của cảnh sát, sẽ chấm dứt ở đồn bên cạnh.
— Chỉ là chuyện ẩu đả thôi, René Leys nói khi trở lại phòng, trao đổi với những người khác bằng vài từ tiếng Trung kín đáo nhưng liến thoắng… “Chỉ có điều”, chàng nói thêm bằng tiếng Pháp trong sáng cho tôi nghe, “Tôi đã phải ngăn cản viên chỉ huy đội tùng binh đi xuống ‘đó’ xem… Hắn hẳn sẽ đánh chết một ai đó!”. Rồi hạ giọng:
— Và hắn hẳn sẽ bị người ta nhận diện!
Còn phải nói! Vậy là lính Cấm vệ bị cấm lui tới những “nhà” như thế này, phải không? Hay là họ phải tỏ ra trinh bạch như các hiệp sĩ dòng Đền [11]? Nếu thật thế thì hắn đã đến đúng chỗ rồi đó…
— Không đâu! Hắn sẽ bị nhận diện như một trinh thám!
Hắn đã bị lộ trước đây! Và hắn thật khủng khiếp khi đã…
— Uống. Tôi biết, anh đã kể cho tôi nghe mà.
Hắn vừa mới uống nữa. Nhìn hắn kỹ hơn, tôi đoán được những cảm xúc mạnh mẽ, căng thẳng chứa đựng bên trong gã đàn ông đáng mến này với vóc dáng vạm vỡ và những bộ phận tròn trĩnh rắn chắc… Hắn ôm đàn tì bà và chơi rất hay, rất tinh tế, nhưng cũng có thể, một cách dễ dàng hơn, bóp nát nó thành bụi với những ngón tay của mình… Và hắn vẫn nói, vẫn kể chuyện, làm điệu bộ với đôi mắt và hai má trong khi những móng tay vẫn không ngưng gảy đàn một cách tuyệt vời…
— Hắn chơi đàn hay quá đi! René Leys nói, vẻ ganh tị… Hắn có tiếng nhờ ngón bấm mềm mại đó. Và anh có hiểu hắn kể chuyện gì không? Không à?
— Đây là chuyện còn làm hắn tức muốn điên khi nghĩ đến: chuyện đó xảy ra tại đây này! Vào năm 1900, ngay sau Cuộc vây hãm các công sứ quán và nhập chủ Bắc Kinh của các đạo quân châu Âu, hắn có mặt ở đây, trong căn phòng này, vào một buổi tối, và chơi cùng cây đàn tì bà này, khi hai cái đầu to tướng của hai sĩ quan Đức, đã say hơn hắn nhiều, đi vào rồi vừa nghe đàn, vừa khóc. Hắn ngừng đàn. Họ ra dấu cho hắn chơi tiếp. Tất nhiên, hắn từ chối. Ta chơi cho ta và cho bằng hữu của ta… nhưng chơi trước các ngoại Quỉ này thì không! Cuối cùng, một trong những Đức quốc nhân đó, dùng sức mạnh ấn cây đàn tì bà vào tay hắn rồi đấm nhẹ vài cú vào đầu. Sau đó…
— Tôi biết đoạn tiếp rồi: vạm vỡ như thế thì chắc hắn đã ném cả hai gã đó qua cửa sổ của “nhị Tằng lâu” này, nhảy xuống trên người chúng, và nghiền nát chúng trước khi người ta có thể cứu đống thịt vụn đó. Đúng vậy không nào?
— Không đúng đâu, René Leys điềm tĩnh nói. Sau đó, hắn bắt đầu chơi lại…
— ?
— Hai tên Đức đó có súng lục. Hắn bắt đầu chơi đàn. Sau đó, chúng đòi hắn múa…
— Và hắn đã múa à? Và hắn lễ phép đưa hai tên đó ra xe à? Tôi đã trông đợi nhiều hơn ở hắn.
— Ngày hôm đó hắn chưa uống đủ rượu! Anh bạn René của tôi kín đáo thổ lộ…
Thấy vỡ mộng, bực tức, thất vọng, tôi hầu như không dám lạm dụng cái quyền hạn hẹp được ban cho tôi bằng sự dễ thương có tính thuế của em Trinh thám xinh đẹp, hay nói đúng hơn, ý trung nhân nữ nhân viên Quan thuế… Đầu tiên là số lượng chữ nghĩa của tôi đang cạn kiệt. Và tôi thực sự chẳng còn gì để nói với em. Tôi rất ngại phải để em “ăn không ngồi rồi” như thế khi tôi cảm nhận được là tâm tư em lúc nào cũng bận rộn hướng về các chuyện khác. Chung quanh tôi đang diễn ra cảnh tượng mà tôi chỉ kịp lưu lại vài cử chỉ kín đáo. Tất cả mọi người trong căn phòng, đàn bà và đàn ông, có vẻ bàn bạc công việc của mình một cách rất ư là tự nhiên, bất chấp sự có mặt của tôi – nhưng công việc gì đây mới được chứ? Thường thì họ nói chuyện rất khẽ… René Leys, nửa nằm nửa ngồi trên cái giường trông không tiện nghi chút nào, chỉ chăm lo cho “Thanh Khiết” một cách vô nghi. Chàng thầm thì to nhỏ sát bên tai nàng… lão Thúc thúc đã biến mất; cuộc ngã giá đã xong, “Tiểu muội” được giao tận nhà – con người mà ông vừa trả một giá khá cao. (Tôi tin rằng đã nghe con số ba ngàn tám trăm lượng, và theo tỉ giá hiện hành, tức ba quan mười hai xu Pháp, thì chính xác nó thành mười ba ngàn sáu mươi tám quan Pháp). Quả thật là từ rày về sau nàng thuộc về ông, theo quan điểm thương mại, suốt cả đời người.
“Tiểu Điệt” không đi theo chú mình. “Đại Kính Tử” to béo vẫn đổ mồ hôi. Tôi bỗng nhiên cảm thấy cô đơn. Rất phi - phương - Tây [12]. Những tiếng cười vui theo kiểu Pháp giờ đã xa xôi. Người ta ít khi cười ở đây, tức nơi chốn mà chúng tôi đang có mặt! Thấy hưởng sự “hiếu khách” này quá đủ rồi, tôi rất muốn bỏ đi, và không cần đòi hỏi phần còn lại…
Tôi tán thưởng René Leys biết bao khi chàng đến bên tôi:
— Ông có muốn chúng ta về “nhà mình” không?
— “Nhà mình” à? A! Vâng, tất nhiên rồi. Ta về. Ta về thôi. Cửa ra đâu rồi?
… Rốt cuộc chúng tôi đã ra bên ngoài, chỉ có chàng và tôi, trong cái sa mạc tối đen và xót xa của những con đường này mà ba hay bốn giờ trước đây tôi đã đi qua, thấy tràn đầy ánh sáng và sục sôi khí nóng cuối ngày. Tôi lo không thể tìm ra đường về. Ôi thôi, tôi lạc lối mất rồi! Nhưng René Leys dẫn tôi về nhà cho an toàn.
Tôi không biết nói gì đây. Tôi có hoan hỉ với buổi tối của mình không? Bâng quơ, tôi tỏ lời khen René Leys:
— Tôi thấy anh tán “Thanh khiết Vô nghi” giỏi lắm đó… à này, tôi mới chợt nghĩ đến thôi, tại sao cô ta mang cái tên… còn lâu mới có thật như thế trong nghề của mình?
Chàng phản đối với thái độ nghiêm túc nhất:
— Em đó hãy còn trinh. Em chưa bao giờ…
Tới đây, chàng dùng một động từ Trung Hoa biểu cảm một cách tế nhị, nó hợp nhất hình ảnh đóa hoa nở rộ với hành động ngắt những đài hoa còn mỏng manh rách ra… – Vậy thì cô ta làm cái quái gì ở đây?
Tôi cảm thấy mình vừa buột miệng thô lỗ. Nhưng René Leys giải thích cho tôi các phong tục: cô em này, “cô gái trẻ” này (chưa được mười lăm tuổi, dù tính theo kiểu Trung Hoa, tức cộng thêm một năm cho trẻ mới sinh…), cô bé đoan trinh này là hầu thiếp tương lai của con trai thứ hai của Thái Thân Vương. Em sống như ở ẩn tại đây, “thanh khiết và bí mật” giống như lời một bài hát rất xưa, giữa mấy cô bạn đồng môn cũ. (Tất cả đều có học). Thỉnh thoảng Ông hoàng Bảo hộ đến thăm. Ông ta thiết tha muốn biến cái nụ vừa mới chớm thành bông hồng đỏ – một lần cho mãi mãi. Nhưng em từ chối và muốn giữ mình như trước nay thêm một thời gian nữa.
Tôi suy luận:
— Con trai của Thân Vương có lẽ hà tiện về giá cả phải không?
— Không phải thế, René Leys trả lời với cái giọng dứt khoát mà tôi biết rõ. Ông ta sẵn sàng bỏ ra cả vạn lượng bạc. (Vạn có nghĩa là vô hạn trong tiếng Trung…). Nhưng, vậy đó, ông ta không làm gì được.
— Thế thì tại sao? Lúc đó tôi nghe được điều này, bất ngờ và quá sức chờ mong: René Leys, con trai đầu lòng và độc nhất của ông chủ tiệm thực phẩm, giáo sư Kinh tế Chính trị học, trả lời tôi một cách nghiêm túc bằng câu này và tôi chấp nhận mà không bật cười.
— Em không chịu ông ta là theo lệnh của tôi. Ông ta sẽ có em khi nào tôi muốn.
Điều này được nói ra trong sự hiu quạnh kéo dài mênh mông của những tường thành phía nam Khu thành Thát Đát, khi rốt cuộc chúng tôi cũng về gần đến nhà. Câu này được nói ra với cùng một giọng mà chàng gần như lúc nào cũng dùng: một giọng tự nhiên, diễn tả một cách đơn giản bản chất sự vật. Tôi thật sự không có gì để phản đối cả. Và tôi cũng chẳng còn gì nữa để hỏi chàng.
Vậy mà vẫn có một câu hỏi hiện ra lần đầu tiên và ám ảnh tâm trí tôi suốt chặng đường im lặng về nhà, câu hỏi mà tôi một mình tự đặt cho chính mình:
— Gã trai này là ai, chàng Bỉ trẻ tuổi này, người cấm các thân vương Mãn Châu được sở hữu ngay cả những hầu thiếp tương lai của họ là ai? Ai cho chàng vai trò giám hộ và bảo vệ những trinh tiết Trung Hoa và đẩy lùi được vạn lượng bạc ròng? Có phải chàng cạnh tranh bằng chính tiền của mình không? (nhưng tôi có cảm tưởng rằng lúc nào chàng cũng cực kỳ dè xẻn, và ngoài tiền lương mà chàng giao hết cho cha mình, tôi biết rõ là chàng chẳng có một đồng teng dính túi). Hay là chàng có được đôi chút quyền lực làm mê say cô gái chưa đến tuổi dậy thì và ngây thơ này…? Những chuyện mà chàng cho tôi biết về tuổi thơ của mình: ngọn lửa hiện ra ở cửa, những điềm mộng báo trước… cho thấy một tính khí dễ bị kích động, và có lẽ… Không. Theo tôi thấy, Thanh khiết Vô nghi” có vẻ có sức khỏe thể xác và tinh thần bất diệt.
Vậy là không phải sức mạnh tiền bạc, và cũng không phải sự mê hoặc huyền bí. Chỉ còn lại những nét duyên dáng của chàng, hay nói đúng hơn, vẻ quyến rũ bên ngoài của chàng: rõ ràng là một chàng trai đẹp, không thể tranh cãi điều này. Ngay cả đám đàn ông, khá ganh tị lẫn nhau về mặt này, cũng phải nhìn nhận chàng như thế: một phụ nữ châu Âu có lẽ sẽ say chàng như điếu đổ. Nhưng một em Trung Hoa! Những cuộc tình giữa những phụ nữ nước ngoài với anh chàng đẹp trai xa lạ, tất nhiên là cổ điển rồi, và được biết nhiều (tình yêu của nữ hoàng Đen dành cho Salomon, của cô gái châu Phi dành cho Vasco de Gama [13], và của tất cả những cô gái khác dành cho Loti [14]) luôn luôn làm tôi hoài nghi đôi chút: những cuộc tình này không bao giờ đi tới tận cùng – những nhân vật không bao giờ có con với nhau (ít ra là trong Thánh Kinh, trong các vở nhạc kịch hay trong toàn bộ tác phẩm của Pierre Loti).
Tuy nhiên, vì không có giải thích nào tốt hơn, tôi phải thừa nhận đây là tình yêu. Cô nàng Trung Hoa đã rung động trước đôi mắt đẹp và dài của người nước ngoài, dù là không xếch. Và nếu tôi xét đoán theo thái độ của người nước ngoài thì tình yêu này là không được chia sẻ. Ôi, tôi tiếc biết bao! Tôi đã tin chắc vào một vài ảnh hưởng thần bí – mưu phản, thủ đoạn, ganh ghét về chính trị và thê thiếp… rồi chỉ gặt hái được một đề tài xưa cũ, muôn đời, và một vở Bi nhạc Kịch.
— Thôi, chào Leys, ngủ ngon nghe!
Tôi thấy chàng có vẻ buồn ngủ lắm rồi. Và về việc này, đây là “đêm” thực sự đầu tiên chàng ngủ ở nhà tôi.
❀ ❀ ❀
[1] Thuộc vùng Bretagne, nằm ở cực tây nước Pháp.
[2] Almanach de Gotha là một niên giám về phả hệ và ngoại giao, xuất bản ở Gotha (một thành phố nhỏ ở Đức) bằng hai thứ tiếng Pháp và Đức, từ năm 1763 đến 1944.
[3] Chung Lâu được cho là dựng trên điểm trung tâm của thành Khanbalik (Bắc Kinh ngày nay) của Hốt Tất Liệt Hãn (nhà Nguyên)
[4] Có lẽ tác giả nhầm ở đây: Vĩnh Lạc (Minh Thành Tổ) tại vị từ năm 1403 đến 1424, và câu chuyện đang kể xảy ra vào năm 1911, vậy phải nói năm trăm năm mới chính xác hơn.
[5] Nguyên văn: Le Palais des Délices Temporelles.
[6] Các tên trong nguyên tác: “Gros à lunettes”, “Petit Neveu”, “Premier fils Historique”.
[7] Một loại rượu mạnh tạo ra bằng cách chưng cất bã nho.
[8] “Mei Gui Lu Chiew”: Mai Khôi là một loại hoa hồng dại, dùng để ướp rượu, và Lộ Tửu là rượu mùi, rượu hoa quả. Còn được gọi là Mai Quế Lộ Tửu (“Mei Kwei Lu Chiew”).
[9] Nguyên văn “Mont des Martyrs”, chỉ nơi tử đạo của Thánh Denis và các bạn đồng giáo, được biết nhiều hơn dưới tên Montmartre (một khu phố trên đồi ở Paris).
[10] “Ganbei”, có nghĩa là làm khô chén, tức cạn chén khi uống rượu.
[11] “Ordre des Templiers” là một Hội Hiệp sĩ dòng Đền vừa quân sự, vừa tôn giáo, thành lập đầu thế kỷ 12 ở Jérusalem nhằm bảo vệ những người đi hành hương nhưng sau này trở nên cực kỳ giàu có. Gần hai thế kỷ sau thì bị vua nước Pháp hợp tác với Giáo hoàng ở La Mã ra lệnh hủy diệt. Các thành viên của hội (“Templier”) không được phép “gần gũi” đàn bà. Gần hai thế kỷ sau thì bị vua nước Pháp Philippe le Bel ra lệnh hủy diệt, đúng vào ngày thứ sáu 13-10-1307 (nên về sau thì ngày này bị cho là ngày “hung” theo mê tín phương Tây). Tác giả nhắc đến họ ở đây là chỉ đến một khía cạnh đặc biệt trong đời sống riêng tư của họ: các thành viên của Hội Hiệp sĩ dòng Đền không được phép “gần gũi” đàn bà.
[12] Nguyên văn: déoccidenté.
[13] Vasco de Gama (1469-1524): nhà hàng hải Bồ Đào Nha danh tiếng, khám phá con đường biển từ châu Âu sang Ấn Độ bằng cách đi vòng mũi Hảo Vọng (Cap de Bonne Espérance, ở Nam Phi) vào năm 1497.
[14] Pierre Loti (1850-1923): nhà văn Pháp, sĩ quan hải quân, viết những tiểu thuyết ấn tượng chủ nghĩa dựa trên những kinh nghiệm đi đến những đất nước xa lạ (thời ấy) như Việt Nam, Trung Quốc... của mình