Bù lại, có một người mới đến mà tôi có thể không ngại ngần giới thiệu với những người Trung Hoa quen biết, thậm chí với người Mãn Châu. Đầu tiên hắn đơn phương tự giới thiệu với tôi thông qua một danh thiếp có chữ ở cả hai mặt. Ở mặt Hán tự, tôi có thể đọc một cách hãnh diện một trong ba chữ viết của tên hắn, chức danh đáng kể nhất của hắn: “viên chức Bộ Công” [1] – và đọc cái địa chỉ phức tạp mà không ngập ngừng chút nào vì lẽ nó giống địa chỉ của tôi, chỉ khác một điểm chính thôi. Chúng tôi ở cùng một con hẻm, cùng “hỗ thông” [2], nhưng địa chỉ hắn thì ở “cửa Bắc”, còn tôi ở “cửa nam”. Chúng tôi là hàng xóm. Chính vì sự tình cờ này mà hắn đến thăm hỏi tôi. Tôi chỉ giữ lại từ cuộc viếng thăm này một điều thôi: người này là “cái gì đó” ở Bộ Công.
Thế là tôi cảm thấy áy náy mời hắn ngồi xuống. Nhưng hắn đã ngồi xuống thật rồi; hắn thở phì phò, rồi bắt đầu mở miệng dông dài: Đấy, hắn thấy vui thích “moi ra” được một gã Pháp chính hiệu có vẻ quan tâm đến người Trung Hoa… Hắn lặp lại:
— Thưa ông, thật hết sức hiếm ở đây!
— Xin lỗi ông nói gì, người Pháp hiếm à?
— Không, những người quan tâm đến người Trung Hoa. Khi tôi thấy ông xuất hiện trong khu phố nằm xa trung tâm thế này, và thuê nhà ở đây, cận kề Thiên Văn Đài [3], tôi biết ngay là ông hiểu Trung Quốc.
— Nhanh thế sao?
— Ông biết đấy, tôi ở đây gần mười năm và ba tháng.
— Và ba tháng… Ông tính cả tháng vào nữa à?
Hắn phát biểu với vẻ tự mãn:
— Phải tính chứ. Không có cách nào khác. Hoàn toàn cần thiết cho công chuyện của tôi.
Tôi chẳng muốn nghe chi tiết chút nào. Hắn tiếp tục:
— Ông thấy đấy, tôi khẳng định là ta chỉ có thể đối xử với người Trung Hoa theo kiểu Trung Hoa mà thôi. Nếu không thì ông mất thì giờ lắm… Họ không tin ông đâu… Ông chẳng bao giờ nhận được cái gì từ họ đâu.
Chẳng lẽ tôi không biết điều đó sao!
— Tôi đã làm theo một cách khác. Tôi đã làm như ông đấy. Đầu tiên là tôi đến cư ngụ trong thành Thát Đát như ông vậy. Tôi có đầy tớ, đầu bếp đủ thứ, trả lương theo kiểu Trung Hoa, 3 đô-la thôi. Tôi có mấy con la – không phải ngựa đâu! – và xe la kiểu Hoa; – Rồi hắn thêm, suồng sã:
— Tôi có đàn bà nữa.
Chuyện này chẳng làm tôi lóa mắt chút nào. Tôi từng thử, từng thưởng thức các “gái hầu” mà Bắc Kinh, Kinh đô phương Bắc, đưa ra cho các tân (thượng) khách “tai to mặt lớn” tùy ý sử dụng hay dan díu nhất thời… ngay phía bắc khu Công sứ quán chứ đâu xa… Chắc ông tướng này đang ngỏ ý với mình chuyện này đây…
— Tôi vừa cưới một em đấy.
— Ông sao…
Tôi ngẩng đầu lên. Ánh mắt của anh tân lang rực lên nỗi mãn nguyện chân thật. Ngàn lần xin lỗi vì đã nghĩ đến chuyện dắt gái… Tôi kết luận:
— Ông chỉ cưới một cô thôi à?
— Trước tiên thì một, một em chính thê đã. Sau đó, những em khác sẽ chỉ là thiếp.
Tôi thực sự hơi choáng, không biết phải miễn xá, ghen tị, hay chúc mừng đây… Hắn giải thích:
— Có nhiều vợ là tuyệt đối cần thiết cho địa vị “viên chức” của tôi và nhất là cho các hợp đồng làm ăn nữa…
Tôi thấy phục thật. Biết đâu đấy! Gã hàng xóm này có vẻ đi đúng đường để hiểu biết thấu đáo người Trung Hoa. Hắn sẽ tiến xa đấy! Hắn chắc phải biết nhiều ngõ ra, lối vào rồi… Tôi sắp sửa…
Có tiếng gõ cửa. Giờ học với chàng Bỉ đến rồi. Tên gia nhân đưa chàng vào trong một cách tự nhiên quá đỗi, lại thẳng một mạch, rồi mở miệng hỏi như thể mới sực nhớ ra: “ngài sư phụ nước ngoài có thể vào không ạ?”. Tất nhiên rồi! Không có gì đơn giản hơn là giới thiệu qua loa lúc tình cờ gặp gỡ… Đây là ông… Khỉ thật, tôi quên béng cái tên chính xác của… “chàng người Bỉ thân mến của tôi” rồi – xem nào, họ chàng là gì nhỉ, họ của ông chủ tiệm thực phẩm đó! Tôi lầm bầm gì đó rồi kết lại: “giáo sư trường Quốc Tử giám”. Và lén đọc vội ở mặt chữ châu Âu của tấm danh thiếp người kia: “Và đây là ông… Ông Jarignoux, viên chức ở Bộ Công”.
Đúng là hai nhân vật cực kỳ khác nhau! Chàng Bỉ, mặc dù gốc Âu, lại có tóc nâu, vóc người mảnh mai với làn da nâu lạ lùng; chàng hầu như không thèm hạ cố nhướn mắt – phải nói là đôi mắt rất đẹp – nhìn tên viên chức tóc vàng, thấp người, béo mập, hồng hào và lanh lợi, dù bốn mươi lăm năm in dấu trên đôi má sệ và những nếp nhăn. Hai người bắt tay rồi bước qua nhau. Tỏ vẻ trịnh trọng, tôi đưa tên viên chức ra tận cửa, hắn quay người lại và chỉ chàng Bỉ, hỏi nhỏ:
— Ông biết thằng bé đó à?
— Vậy còn ông?
— Tôi à? Ồ không! Tôi chẳng hề biết nó.
Và hắn hứa với tôi là sẽ trở lại, và với tình hàng xóm, sẽ giúp tôi “hiểu” người Trung Hoa hơn.
Hai cánh cửa ra vào khép lại, tiếng chốt cửa bằng đồng kêu xủng xẻng. Tôi quay lại với chàng Bỉ và đến lượt tôi buột miệng hỏi:
— Này, anh đã gặp lão này bao giờ chưa?
— Có, tôi nghĩ đã gặp ông ta chỗ cha tôi.
Và chàng nói thêm, với một vẻ ghê tởm tao nhã trông không phải là không vui trên đôi môi đẹp và tươi trẻ của chàng:
— Người ta nói là lão ta có vợ Trung Hoa.
— Rồi sao nữa?
— Ông muốn chúng ta bắt đầu bài học bây giờ chưa?
— Phải rồi… thực vậy… lão vừa báo cho tôi là mới lấy vợ… nhưng khi nghĩ đến chuyện này thì tôi thấy chưa thông: Quỉ thần ơi, làm sao mà một anh Âu có thể cưới hỏi hợp pháp một chị Tàu? Tôi nghĩ bị cấm mà…
Đưa mắt rời khỏi bản văn mà chàng lật từng tờ với sự tập trung hơi quá đáng, chàng gia sư của tôi làm ra vẻ khinh bỉ, nhưng một cách quá nghiêm chỉnh trên bộ mặt trẻ trung thế này.
— Đó là vì ông ta là người “Trung Hoa”!
— Không đâu! Anh bạn ơi, chẳng lẽ anh không nhìn rõ ông ta? Tóc vàng hung này, đôi mắt tròn, màu xám này, rồi giọng nói nữa! Và nhìn cái tên này – Jarignoux! Sao mà lẫn được. Nó sặc mùi vùng đất Picardie [4] đấy.
Chàng thầy trẻ của tôi càng tỏ ra khinh bỉ hơn:
— Ông ta không còn là người Âu nữa. Ông ta đã nhập quốc tịch Trung Quốc, cách đây vừa đúng hai tháng rưỡi – ông ta phải có đủ mười năm cư trú mới xin được.
Chàng thầy trẻ lộ vẻ chê trách quá đến nỗi tôi càng thấy tò mò hơn. Chàng còn lâu mới “dò được lòng” người Trung Hoa, còn lâu mới bắt mạch được đất nước này! Tôi gợi ý:
— Và chuyện đó không bao giờ cám dỗ anh à? Nói giỏi tiếng Bắc Kinh như anh thì anh có thể…
— Tôi ư?
Cặp mắt chàng lóe lên:
— Tôi ư? Không. Không bao giờ.
Chàng bình tâm lại và kéo tôi vào học bài. Những ký tự không chịu đứng yên. Đầu óc tôi đã để nơi khác. Tôi đang nghĩ rằng ở Trung Quốc, một sự nhập tịch đầy đủ và trọn vẹn chắc chắn sẽ mang đến những phiền phức nghiêm trọng. Ta thấy ngay lập tức những cái ta sẽ mất: những đặc quyền mà người nước ngoài được hưởng ở đây và tốt nhất là nên giữ nguyên chúng như vậy… một khi nhập tịch, ta sẽ bị đặt dưới pháp luật Trung Quốc [5]. Ta có thể bị tố cáo, bị cách chức, bị phân thây, bị chém đầu, với sự mau lẹ và khéo léo hoàn toàn xa lạ với thủ tục tố tụng châu Âu. Những trường hợp phán xử bất công không thường xuyên hơn… nhưng rõ ràng là khó sửa chữa hơn. Rồi còn chuyện cái gông nữa, nó là một nhục hình khổ sở mà tôi thấy người ta diễn tả rất đầy đủ trên các tờ báo ảnh ở phương Tây.
Không hề gì – thôi thì ta hãy chỉ nghĩ về những gì hắn thu lại từ sự hy sinh kia… và những gì chính tôi kiếm được. Ngài Jarignoux là láng giềng của tôi, và là một thần dân Trung Quốc. Vậy thì tôi có thể hưởng (có thể vậy thôi) một phần những thành quả của hắn trong khi tránh những thăng trầm của hắn. Hắn sẽ kể chuyện này, việc nọ cho tôi nghe. Hắn sẽ giới thiệu tôi với những người đồng bào mới của hắn – và họ sẽ giới thiệu tôi với những quan lại cao cấp, những đại thần trong triều… với những thân vương [6]… Hoàng Cung chắc chắn sẽ dễ vào hơn trước. Nhưng các hàng chữ ngay ngắn dọc tờ giấy không chịu đứng im cho tôi nhờ, cứ run rẩy mãi và tỏ dấu sốt ruột. Tôi không nghe nữa lời bình luận đều đều cũng như cái giọng Bỉ đơn điệu. Đầu óc tôi đã mất sự tập trung. Còn tới hai tiếng đồng hồ trời sáng cơ mà.
Thế là tôi quyết định đi ra ngoài, và không biết lần thứ bao nhiêu rồi, tôi sẽ lần theo và đưa tay rờ cái mảnh tường đó mà một ngày kia và bằng cách này hay cách khác, tôi sẽ được phép vào… tôi tin chắc như thế.
Tôi cho chàng gia sư nghỉ.
— Tôi hơi bị nhức đầu… Tôi đi ra ngoài hóng gió đây… gần Thiên Văn Đài. Chỗ đó có một khoảnh đất nhiều cây cối xanh tươi ẩn mình ở góc đông nam Khu thành Thát Đát, và rất là… Sao, anh không biết chỗ đó à?
— Không, tôi phải về nhà. Hôm nay tôi cần về sớm phụ cha.
Tôi chia tay chàng, thấy nhẹ lòng. Đó là đứa con ngoan ngoãn của ông chủ tiệm thực phẩm tuyệt vời.
Thế là tôi đến đó, vừa quay lưng lại Thiên Văn Đài và “góc đông nam” là tôi cho ngựa chạy nước kiệu khá nhanh trực chỉ mục tiêu thực sự của tôi là Hoàng Thành, nó bao bọc Tử Cấm Thành bên trong, hay “Đại nội”. Có lẽ đây là lần thứ mười hay hai mươi tôi sắp sửa vây hãm nó, bao quanh nó, kiểm tra đường bao chính xác của nó, xoay quanh như mặt trời ở dưới chân các bờ thành phía đông, nam và tây của nó, và nếu có thể thì cố gắng hoàn tất một vòng khép kín bằng đường phía bắc khi quay về.
Tôi tránh “Đường Công sứ quán”: mặt đường thì quá sạch và quá cứng đối với móng guốc con ngựa của tôi. Và đây rồi, tôi vừa băng ngang trục thần đạo, ngay phía nam của cửa thành đầu tiên. Mặt hướng về phía tây, tôi thấy bên phải mình là cửa thành của triều đại đang trị vì dẫn vào Hoàng Cung, nó mang tên “Đại Thanh môn”, có nghĩa là “cửa của sự Thanh khiết Vĩ đại” [7]. Tôi chào nó với ánh mắt kính trọng; ba cổng ra vào, thấp bè bè, được sơn màu tía – giống như các bức tường Tử Cấm Thành – với những vết loang lổ sần sùi lớn màu xám mà vôi vữa xưa cũ đã rơi rụng từ lâu. Nó bị chế ngự ở phía nam bởi Chính Dương môn, tức là “cửa chính nam”, mà dân chúng ở kinh đô quen gọi một cách thân mật là “Tiền môn”, nó đánh dấu, dưới lối đi bằng đường hầm của mình, nơi chuyển tiếp giữa hai thế giới – bên ngoài là “Tiền môn ngoại”, là Đế chế Trung Hoa với những lạc thú về đêm, những hiến dâng say đắm, những tiệc tùng túy lúy, và bên trong là “Tiền môn nội”, là nội Thành thầm kín, bị hạn chế, bị bao quanh với những bức tường thành câm nín mà ở giữa nó là Đại nội. Tôi sẽ không đi ngang qua Tiền môn ngoại đâu!
Về phía tây, nơi có nhiều hồ, tôi thấy nó hơi lộn xộn, dễ gây bối rối. Trước hết, nó được xây dọc theo đường viền quanh hồ. Nó không có cái dáng hình chữ nhật thẳng thớm, bề thế của tường thành phía đông. Ở những chỗ thụt vào, ta có thể đoán ra hình dạng của những ngôi vườn mà nó che chắn. Những ngọn cây nhô ra trên sống tường, và ta có thể thấy diềm trang trí của những mái nhà lợp ngói tráng men ánh lên sắc xanh biển và sắc vàng… Đầu ngẩng lên trời, tôi để mặc ngựa bước dọc theo sát hào nước.
Bên phía trái là một tòa nhà cao kiểu Trung Hoa, cao một cách nghịch lý vì nằm quá gần Hoàng Cung, thật vậy, cả hai chỉ cách nhau bằng bề ngang con đường mà tôi đang đi. – Tôi nhận ra ở mi cửa ra vào một hàng chữ Ả rập lớn: đó là một thánh đường Hồi giáo.
Đúng thế! Bất chấp những cuộc tàn sát lẫn nhau, những cuộc bức hại trong lịch sử, – và dù muốn hay không, vẫn có hai mươi triệu thần dân theo đạo Hồi đã bị ép quy thuận Đế chế cách đây không lâu.
Thật là lạ lùng, ngôi đền cao này nhìn được vào phía sau bức tường thành… nó đứng đó, làm kẻ quan sát bướng bỉnh nhưng không bị trừng phạt, ngày đêm liều lĩnh nhìn vào nơi mà tôi thèm muốn… phóng mắt nhìn vượt qua bức tường… ngay trước mặt, – như thể để biện minh cho ngôi đền hay tự bảo vệ trước nó, một ngọn đồi nhỏ hình dạng không đều với vài thảm cỏ lác đác, mọc lên từ bên trong Hoàng Cung, cao vượt hơn bức tường thành, và đội trên đầu một ngôi Đình tạ có ghi khắc tiếng Hán đại tự, trông rất thanh lịch dưới mái ngói màu xanh.
Vậy là ngôi thánh đường và ngôi Đình tạ, cùng chiều cao, đứng đối diện nhau ngang qua con đường tôi đi, chiêm ngưỡng nhau hay đối kháng nhau từ các khuôn mặt bằng phẳng của chúng, dưới những hàng lông mày tối màu của những mái nhà chụm lại nhau theo kiểu Trung Hoa…
Chúng dò xét nhau. Chúng nhìn ngắm nhau. Bằng toàn bộ bề mặt cổ điển và chính quy của nó, Đình tạ xét nét tòa tháp Hồi giáo dị thường… chỉ ngang qua bề rộng của con đường tôi đi…
… Bây giờ, sau khi rẽ một góc thẳng ở bên phải tôi cho ngựa phi nước đại ngược lên phía bắc, trên con đường nhỏ dài và bụi bặm. Ngựa sải bước rất êm, đều đặn, thẳng một đường song song với tường thành. Trước mặt, từ xa trông nho nhỏ, là Tây Hoa môn, và với mỗi sải chân ngựa, cửa thành này lớn dần lên dù không có gì thay đổi xung quanh tôi, vì bức tường thì vẫn giống nhau, được xây một cách chỉn chu và chính xác suốt cả nghìn sải chân dài…
Tôi cho ngựa chậm lại, rẽ về phía đông bằng cách đi xuyên qua cổng thành đó. Đây, tôi đang ở trong Hoàng Thành, khu vực sinh sống của những kẻ Chinh phục đầu tiên, bây giờ được mở ra cho mọi người… nhưng ở gần thì chẳng có gì khác ngoài tường thành cuối cùng ngăn cách họ với những Cung điện, với Đại nội, với Trung tâm. Thật vậy, ở phía trên bức tường, những khối xám, vàng và xanh lại vượt qua đỉnh tường và khổ sở vì bị nhìn thấy từ bên ngoài: đó là chỏm mái những đền đài, nóc những kho tàng, những cung điện hai tầng, và chiếc vòm hình củ hành to lớn của Bạch Tháp, chường ra nơi đây cái bụng vay mượn, cái hình thể của một tháp mộ Phật giáo, cái cá tính Hin-đu của mình [8]… Khá non trẻ! Bên cạnh bốn ngàn năm của các Thời đại Trung Hoa và sự thờ cúng “ngọc Hoàng”, cả hình dạng của Bạch Tháp lẫn lòng từ bi làm nó phình ra, đều ít nhiều mang vẻ…“nghệ thuật mới” [9].
Bỗng nhiên, nó làm tôi tức giận. Đó là một sự hiện diện ngoại lai trong Hoàng Cung. Tệ hơn nữa, đó còn là dị giáo. Nó không được có mặt ở đây! – Đầu ngẩng lên trời, xoay người trên yên ngựa nhưng mắt vẫn thấy nó, tôi tiếp tục đi theo các tường thành quanh co mà nó là tâm điểm… Tôi để cho ngựa tự ý bước chậm rãi… Vả lại, đường thì trống. Tôi là người Âu duy nhất. Những chiếc xe ba gác Trung Hoa sẽ tránh đường mà.
Bạch Tháp đã ra khỏi tầm mắt tôi. Tôi ghì cương ngựa khi nó chồm lên: độ mười bước trước mặt chúng tôi có một kỵ mã khác – cũng người Âu – đang loay hoay với con ngựa của mình. Đường đi thì trống trải nhưng nó dậm cả bốn móng guốc ngay giữa lòng đường. Nó trông có vẻ lanh lợi nhưng tôi không thấy điều gì làm nó hoảng sợ. Vậy thì anh chàng kỵ mã này chắc là đang bị kích động đây! Thay vì trấn tĩnh con vật, anh ta lại di chuyển lung tung: đảo mắt nhìn những bức tường bao quanh, nhìn từ trên xuống dưới, rồi nhìn sang lan can bên tay phải (con đường ở đoạn này thì chạy lên sườn dốc cao như một gò đất… anh ta cứ tìm kiếm… rốt lại là cả đến phía dưới móng guốc con ngựa của mình). Cuối cùng, anh ta nhìn về phía tôi – ôi, biết ai không, chàng thầy trẻ của tôi đó.
Tôi nhận ra mình đã bị bắt quả tang một cách bất ngờ. Đài Thiên văn và “giác lâu” đều cách đây đúng một dặm trường [10] – và hơn nữa, lại ngược đường với chỗ mà chúng tôi gặp nhau. Thế nhưng, còn chàng thì sao?
Chàng chào tôi rất lễ phép, không tỏ ra ngạc nhiên hay hổ thẹn. Con ngựa chàng đột ngột ngoan ngoãn lại và cất bước đi bên cạnh con ngựa tôi một cách tự nhiên như thể chúng đang về cùng một chuồng. Tôi lưỡng lự một chút:
— Anh không nói với tôi là anh đi cưỡi ngựa.
— Ồ, tôi đem mấy con ngựa của cha tôi đi dạo ấy mà.
— Con đó có vẻ hơi bị căng thẳng phải không?
— Nó sợ đủ thứ. Nó hất văng tôi xuống đất tám lần rồi đấy.
— Vậy sao anh còn cưỡi nó? – Vì cưỡi con này thú nhất… ngay lúc ấy, con ngựa đó bất ngờ chạy vòng quanh và nhảy chồm lên con ngựa của tôi, rồi nhảy lên tôi, miệng há to để lộ ra hàm răng hung dữ… may thay, nó trượt trên tấm đá lát, rồi nhảy cất cả bốn vó đến hai lần, và bị một trận đòn nên thân từ tay chàng Bỉ, cuối cùng chịu đứng im tuy mũi vẫn phì phò. Tôi đã giật mình thật sự. Chàng gia sư của tôi vẫn ngồi thẳng trên yên, xin lỗi về con ngựa của mình…
Tôi nói:
— Anh có để ý không, đoạn đường ở đây nghe rỗng làm sao ấy.
— Không… à phải, có thể lắm… Đó là ống cống ngầm của Hoàng Cung.
— Ống cống à? Hay là ống dẫn nước? Vậy thật ra thì nước trong ba cái hồ đi vào Hoàng Cung theo đường nào?
Chàng chẳng biết gì cả về việc này. Chàng chẳng biết gì về Hoàng Cung, ngoại trừ tất cả những gì “thiên hạ” đều biết – như tình trạng sần sùi, nham nhở trên mặt ngoài các tường thành. Tôi đề nghị chàng về cùng mình.
— Vòng qua đường phía bắc sao?
— Đúng rồi, nếu đi được.
Tôi đã từng lạc đường một hai lần khi tìm cách đi quanh các chân tường thành.
— Có thể được đó. Xin phép…
Chàng tiến lên trước, đi vào trong những ngõ ngách lộn xộn và dày đặc như mạng nhện. Nhưng tôi nhận ra là chúng tôi vẫn đi sát theo tường thành, dù không liên tục: khi thì xa, khi thì gần, khi thì thấy nó mất hút, khi thì thấy nó hiện ra, ngang qua những bãi đất hoang đầy phân và con nít. Lộ trình mà tôi tưởng là đơn giản, không thay đổi với những góc thẳng trong một đô thị lớn mang dạng bàn cờ lại trở nên trắc khúc như kiểu đi của con mã trên bàn cờ tướng.
Chàng gia sư của tôi đi rất nhanh nhưng biết chậm lại đúng lúc cần để con ngựa vẫn chạy nước kiệu nhanh nhẹn khi rẽ ngang ở những ngõ ngách chật hẹp… Tôi chắc chắn là con đường này chạy theo sát Trường Thành Cấm cung – sát hơn nhiều mức mà tôi dám đi một mình. Ở vài chỗ, tưởng như có thể đưa tay qua hào nước hẹp chạm được bức tường. Cuối cùng, chúng tôi đến ngay phía bắc của Hoàng Cung.
Chỗ này thì quen thuộc với tôi nhưng thật tình mà nói, tôi đã đến bằng một lối hoàn toàn khác: theo những đại lộ chính mà xe cộ qua lại được! Tôi tự hỏi mình có nhận ra lại phương hướng nơi này không? A, được rồi, đây chính là “môi Sơn”: chúng tôi sắp đi qua giữa một bên là ngọn đồi này, và bên kia là quần thể những cung điện hợp thành Hoàng Cung.
Đưa tay chỉ lên đỉnh đồi đất thấp có năm ngôi Vọng lâu bao quanh đó, chàng gia sư của tôi buột miệng:
— Buồn cười thật đấy! Tất cả người Âu đều gọi nó là “núi Than”.
— Thế thì sao?
— À, buồn cười chứ sao. Đúng tên của nó là “Cảnh Sơn”.
Tôi đưa mắt đánh giá kỹ hơn cái gò đất này – có lẽ là nhân tạo – được bao quanh trên đầu bởi năm ngôi Vọng lâu cực kỳ tao nhã đang lưu luyến với vài tia nắng cuối ngày còn nán lại…
Và tôi nói một cách tiếc nuối:
— Tất nhiên rồi. Từ trên đỉnh ta chắc chắn ngắm nhìn được toàn bộ Khu thành Thát Đát, – ngay cả Khu thành Trung Hoa nữa… và về phần Hoàng Cung thì ta có thể nhìn thẳng xuống đó như thể…
— Không đâu, chàng gia sư của tôi cắt ngang một cách dứt khoát. Bị vướng cái mái của Càn Thanh Điện.
Tôi ngước mắt nhìn chàng. Vẻ mặt chàng vẫn bình thản. Vậy là chàng biết là trong Hoàng Cung có Càn Thanh Điện! Rõ ràng là chàng biết là mái nhà này, nếu nhìn từ điểm cao trên đó, ngăn cản tầm nhìn đến chân trời phía nam. Trong trường hợp này thì…
— Anh leo lên đó rồi à? Ta có thể lên đó không?
— Không được đâu, chàng trả lời dứt khoát. Tôi biết điều này là từ một trong những học trò của tôi, cháu của lương Thân Vương.
— Ồ, thật vậy sao! Anh dạy cho các cháu của Thân vương à?
— Dĩ nhiên, ở trường “Quốc Tử giám”.
Chàng tóm lấy dây cương. Tôi chặn lại.
— Hãy để ngựa đi thong thả. Tôi muốn nhìn về phía nam, vượt trên thành lũy mà nhìn xuống Hoàng Cung.
Tôi đứng thẳng hai chân trên bàn đạp ngựa. Các hào nước bao quanh Hoàng Cung ngập đến tận mép bờ giống như bồn phun trong vườn hoa bị tràn đầy sau mưa, và dòng nước lờ đờ đậm đặc bùn và nhựa cây; nước màu chì, phẳng lặng, trĩu nặng, như thể đáy hồ được một lớp sơn mài ướp hương – những quầng thâm trên những tấm lá rộng, tròn có màu lục rất mát dịu: sen của Hoàng Cung sắp trổ hoa… Không có một nếp gợn nào, nước phản chiếu bóng hình những đình tạ mái vàng; và tôi thấy đường viền lộn ngược của hai tầng lỗ châu mai… Tất cả sức nặng bất động này, và tất cả khoảnh khắc hoàng hôn đậm đặc đang trĩu lên tôi, nước vẫn mang hết trong mình nó mà không run rẩy.
Chàng gia sư chờ phía trước, vẫn bất động và lịch sự – chàng không cảm nhận chút nào vẻ đẹp lạ lùng trong thời khắc này. Chàng không cảm nhận các hình bóng phản chiếu trong dòng nước đặc sánh, sự hé lộ của những thứ thầm lặng từ những đáy sâu bùn lầy, chưa được dò tìm mà sự công bằng của Trời đang trình ra đây một cách lộ liễu để phô diễn đồng thời cả vẻ đẹp bí ẩn của Đại nội lẫn sự trầm tư không thể tưởng của nó. Những nỗi đam mê bị giam hãm đó, những cuộc đời trôi nổi theo vương triều đó… rõ ràng là tôi sẽ không biết về chúng nhiều hơn so với ao nước đọng bùn này, chỉ qua sự phát hiện lẻ loi từ những nụ hoa… và vài bọt nước bốc mùi…
Thế nhưng, tôi cảm thấy cần tâm sự với ai đó. Giờ phút này đang trĩu nặng, và chàng đang ở đó. Suy cho cùng, chàng thanh niên này đã cho tôi biết rất là hợp lúc tên “ngọn núi mà từ trên đó người ta ngắm nhìn cảnh vật”… Tôi cho ngựa tiến lại gần chàng. Bằng cái liếc mắt, tôi chỉ về Hoàng Cung, con hào bao quanh, mặt nước tù đọng, bóng tối đang lan ra, và cuối cùng là giờ phút kỳ diệu này… Và tôi nói…
… Chàng nghe tôi nói hết, không cắt ngang giữa chừng; ngay cả khi đó là về vài chi tiết ít ai biết quanh cuộc sống của người tù nhân cao thượng và lịch thiệp của Đế chế, vị vua trị vì của Triều đại Quang Tự. Tôi nói với chàng những gì tôi biết,… sự bí ẩn… tất cả những giả định… những phỏng đoán mà tôi tự mình đặt ra, đẩy cho tới tận cùng của lô-gích sự kỳ diệu nảy nở được chứa đựng trong những bức tường thành trước mắt chúng tôi, ngay giữa Tử Cấm Thành…
Khi tôi ngừng nói, chàng chẳng đưa ra lời nhận xét ngốc nghếch nào. Ví dụ chàng không nói: “Sự thật về cái chết của ngài thì báo chí hồi đó đều có đăng tải, ai cũng biết…”. Tôi thấy biết ơn chàng. Chàng phản ứng trước những tâm sự của tôi, bất ngờ đối với chàng cũng như đối với tôi, chỉ bằng sự im lặng. Đó là dấu hiệu rất tốt.
Tôi nói thêm:
— Tôi thấy hối tiếc rất nhiều là đã đến Trung Quốc quá muộn. Hằng ngày tôi thường tiếp xúc với những người đã thực sự vào bên trong đó, dĩ nhiên chỉ trong khoảng thời gian dành cho một cuộc bệ kiến, và họ đã có thể thoáng thấy ngài. Nhưng mặt khác, tôi vẫn ngờ là liệu họ có biết cách thấy cho rõ không.
— Tôi đã thấy ngài, chàng gia sư của tôi buột miệng, giọng nói thoáng lộ sự kính cẩn… ngừng lại lần nữa. Rồi tôi thúc ngựa cất bước đi tiếp. Hai con ngựa ngửi được đường về nhà liền vụt chạy nhanh hơn. Chúng tôi không thể đi nước kiệu bên nhau nữa, và thực sự chúng tôi phải khéo léo lắm mới tránh được những ngọn đèn lồng to tướng treo lủng lẳng gần sát đất, giữa những bánh xe la… Thế mà anh bạn đồng hành cứ thúc ngựa chạy nhanh như điên, bất kể bóng tối đã phủ xuống những chướng ngại vật trên đường… và cuối cùng thì tôi cũng ngừng lại, sửng sốt thấy mình ở ngay dưới ánh sáng đèn điện, giữa khu “Công sứ quán”, bên cạnh con ngựa mà chàng đã nhảy xuống trước, ngay mặt tiền một cửa tiệm được soi sáng đến chói cả mắt này.
— Ôi thôi, tôi bị trễ rồi! Cha chờ tôi chắc lâu lắm đó.
Ông có thích vào uống chút trà không? Trà Bắc Kinh đấy, loại ông chưa từng uống trong đời đâu.
Chàng muốn sự hiện diện của tôi khỏa lấp sự trễ nải của mình. Tôi chấp nhận lời mời. Vả lại, tôi muốn thấy lại mặt chàng trong ánh sáng…
Chúng tôi bước vào. Nội thất kiểu châu Âu của căn nhà trông thật lố bịch. Tuy vậy, rõ ràng là chàng có vẻ thoải mái ở đây. Rồi ông bố đích thân xuất hiện, “tiếp đón” tôi, mời tôi ngồi, cám ơn tôi đã chăm lo cho “cái thằng quỉ sứ” này, tức con trai ông. Tôi uống trà của chàng, – đúng là ngon ra phết – và chỉ nghĩ đến chuyện làm sao ra về cho sớm, vì dưới ánh sáng từ ngọn đèn của ngôi nhà buôn bán này, chàng gia sư của tôi bỗng dưng lấy lại cái vẻ ngoan ngoãn của loại người tối đến chỉ ru rú ở nhà…
Và thật tình mà nói, mọi thứ đều xấu xí quá đi! Bức tượng “Cupidon” [11] đến từ Saxe [12] dang tay về phía những đóa hoa bền quá đến nỗi người ta tưởng chúng là hoa giả. Bộ tách trà thì đến từ Satsuma, quá cảnh ở Hambourg. Không có thứ gì, dù là vụng về đi nữa, có thể gợi đến những món đồ vật đẹp đẽ của Trung Hoa mà dù muốn hay không cũng đầy ra khắp xung quanh.
Thế nhưng… có hai cái chậu bằng sứ… bị tống ra, bị vứt như rác thải ở gần cửa ra vào… Đấy mới là mẫu vật Trung Hoa thật sự, và cũng là mẫu vật đẹp tuy còn mới (vì tôi nhận ra trong ô niên đại có dấu triện của lò gốm hoàng gia với dòng chữ, “Quang Tự, triều Đại Thanh” trên nền vàng có hai con rồng chầu). Những vật rời bỏ Đại nội này làm gì ở đây cơ chứ? Ở đây, tức là nằm ngay gần mép chậu chứa đường mía, ngay ngưỡng cửa ra vào cái “đế chế” đồ hộp, đường, bột, cà phê và các thứ gia vị linh tinh này…
— Vâng, chàng gia sư nói.
Khi tiễn chân tôi ra về, chàng đã theo dõi ánh nhìn khá lâu của tôi, và bây giờ đưa ra câu trả lời khiến tôi kinh ngạc, – Vâng, chúng đến từ chỗ đó. Rồi, chàng hạ cố dùng tiếng Trung lần đầu tiên ngoài những giờ dạy học được tôi trả tiền:
— Chúng đến từ Hoàng Cung, từ Đại nội,
Và chàng đưa tôi ra tận vỉa hè, đầu trần, cúi chào theo từng bước chân, rồi nói thêm, vẫn bằng tiếng Trung:
— Thứ lỗi cho tôi không thể tiễn ông xa hơn.
Quay người lại để chào theo kiểu Trung Hoa, tôi bắt gặp phía trên đầu chàng cái bảng hiệu rọi sáng cái doanh hiệu của cửa tiệm và họ của cha chàng: “Import and Export Leys & Co” [13].
Thật vậy. Họ chàng là “Leys”, và bây giờ tôi sực nhớ ra, tên chàng là “René”.
Đúng là như thế. Chàng gia sư của tôi mang tên “René Leys”.
❀ ❀ ❀
[1] Có lẽ tương đương với Bộ Giao thông Vận tải ngày nay, phụ trách đường bộ, đường thủy và đường xe lửa (thêm phần đúc tiền, và xây dựng công sở, cung điện, lăng tẩm,...)
[2] Nguyên văn “hu tong” - những hẻm nhỏ đặc trưng ở Bắc Kinh dẫn vào những "tụ họp viện" (nhà kiểu truyền thống với sân trong và bốn gian ở bốn góc, cùng kiểu với ngôi nhà của tác giả).
[3] Đài thiên văn này được xây từ năm 1442 thời nhà Minh (mang tên là Quan Tượng Đài), và đóng vai trò quan trọng qua hai triều đại Minh, Thanh (đổi tên thành Thiên Văn Đài). Vì vua được coi là Thiên tử nên việc theo dõi sự dịch chuyển các vì tinh tú trên bầu trời trở nên thiết yếu, các quan thiên văn phải báo cáo thường xuyên cho nhà vua. Giữa thế kỷ 17 (nhà Thanh), cha dòng Tên Ferdinand Verbiest (tên Trung Hoa là Nam Hoài Nhân), sau một cuộc tranh tài, được giao phụ trách toàn bộ công việc này. Ngày nay, nó trở thành địa điểm du lịch với tên gọi chính thức là “Bắc Kinh Cổ Quan Tượng Đài”.
[4] Một tỉnh ở miền Bắc nước Pháp.
[5] Vào thời đó, kiều dân các liệt cường Âu Mỹ, nếu phạm tội trên đất Trung Hoa thì được lãnh sự của họ xét xử, chứ không thuộc thẩm quyền tư pháp của nước sở tại; nếu họ có tranh chấp với người Trung Quốc thì lãnh sự của họ cùng xét xử với quan lại Trung Quốc. Đặc quyền này được gọi là quyền lãnh sự tài phán.
[6] Nguyên văn: Princes du Sang, trang 53. Ở đây tác giả chỉ những hoàng tử người Mãn Châu trực hệ của Nurhachi (Nỗ Nhĩ Cáp Xích, 1559-1626), người thành lập nước Mãn Châu vào đầu thế kỷ 17.
[7] Nguyên văn: “Porte de la Grande Pureté”, tác giả dịch “Đại Thanh Môn” sang tiếng
[8] ... Bạch Tháp (baita) được xây dựng năm 1652 dưới đời vua Khang Hy (tại vị 16621723), vào dịp thăm viếng Bắc Kinh của đức Đạt Lai Lạt Ma thời ấy...
[9] Art Nouveau: Phong trào “Nghệ thuật mới” xuất hiện ở nhiều nước châu Âu vào cuối thế kỷ 19, nhất là trong kiến trúc và trang trí nội thất.
[10] Một dặm trên đất (lieue de terre hay lieue commune) dài khoảng 4,445 km.
[11] Thần ái tình La Mã. Thường được vẽ hay làm tượng dưới hình dạng một cậu bé trai xinh đẹp, khoảng 9, 10 tuổi, có cánh và mang cung tên.
[12] Một tỉnh ở miền Đông nước Đức, thủ phủ là Dresden.
[13] Tiếng Anh trong nguyên tác, có nghĩa “Công ty xuất nhập khẩu Leys”.