René Leys - Người Tình Trẻ Trong Tử Cấm Thành

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18

❊ ❊ ❊

Mọi sự trở nên sáng tỏ biết bao! Giờ đây mọi sự gắn kết với nhau mạch lạc biết mấy. Kể từ nãy giờ! Biết bao là lô-gích, là cần thiết, là không thể tránh né! Những lời lẽ thoạt đầu nghe có vẻ vụng về trở nên chính xác như một… con tính số học…, như một hoạt động ngân hàng hay cảnh sát… a! Tôi đã trả lại sự công bằng hoàn toàn cho người bảo vệ ngai vàng này, chưa nói là bảo vệ cả bàn thờ nữa (vì Thiên Đàn cũng có nguy cơ thay đổi theo từng triều đại [1]!). Chàng đã biết cách thâm nhập vào tận “nơi xuất phát những đòn giáng”! Thậm chí đã vượt qua cơn bất tỉnh đầu tiên, nỗi khiếp hãi khi bước chân vào Đại nội, và cả nỗi lo lắng đó!

Tôi thừa nhận chàng nắm giữ một vận may cực kỳ đặc biệt! Hiếm hay không có người Âu nào – không, chẳng một ai, kể cả loại người như Jarignoux, có thể khoe khoang là đã được “trọng dụng” hết năng lực bởi cái chính quyền minh mẫn tuy già nua này!

— Này, anh bạn thân mến – tôi không thể ngăn mình thốt lên… – tôi thấy là ở Trung Quốc anh đang giữ một vị trí, một chức vụ, một vai trò mà theo tôi biết, không có tiền lệ lịch sử nào… giỏi lắm chỉ có một, hai người trước anh. Đầu tiên là lão bối Marco Polo [2] đó…

Chàng cắt ngang, giọng khá lo lắng:

— Lão ấy cỡ bao nhiêu tuổi nhỉ? Rõ ràng là chàng không biết cả tên lẫn tuổi của tấm gương kinh điển của gã “mại bản” [3] xứ Venise ở Trung Quốc. Ông là con trai và cháu của thương gia, bản thân cũng là thương gia, rồi trở thành tân khách ở triều đình Hốt Tất Liệt Hãn [4]; ông này là cháu nội của vị “Hãn của những kẻ mạnh”, tức Thành Cát Tư Hãn hay Kim Trướng Hãn. Chàng chẳng biết gì về Marc Paul, công dân thành Venise, trở về nước mình sau mười bảy năm vắng mặt, hành lý chất đầy vàng bạc, miệng chứa đầy những cuộc phiêu lưu ở các vùng đất xa xôi mà những người cùng thời không muốn tin gì hết, và không ai “nghĩ có thể tin”!

— Ông nói sao? René Leys cắt ngang, vì tiếng Pháp thời đó mà tôi dùng, thời của cuốn sách mà Marco Polo viết bằng tiếng Ý vào thế kỷ thứ 14 – khiến chàng ù hết cả tai! Rồi chàng nghe tiếp, không vui vẻ lắm khi bị so sánh với một nhân vật vô danh tiểu tốt… là Marco Polo! Con trai, đồng thời là cháu của Nicola Polo!, người mà trong khoảng hơn mười năm từng là đặc sứ toàn quyền của Hoàng đế Viễn Á, trong khi ở châu Âu thì tổ quốc của ông đang lâm chiến với thành Gênes và thành Pise, còn ở Pháp thì ông vua Louis tốt bụng của chúng ta gửi quân đi đánh nhau ở tận Palestine… Và khi Marc Paul về lại quê hương thì ông cũng muốn chiến đấu cho tổ quốc mình. Do là “Missus Dominicus” [5], tức Phái viên Đặc mệnh Toàn quyền của Đại Hãn xuyên qua những không gian mênh mông, bị người thành Gênes bắt làm tù binh suốt sáu năm, và nhờ sự giam cầm hợp lúc này mà có được cơ hội, thời gian và nơi chốn để viết và để lại cho chúng ta một cuốn sách, một Đại Thánh Kinh về những điều ngoại lai, về sự chinh phục những nơi chốn khó tin khác, về sự thâm nhập kỳ diệu vào những thứ khác biệt, dưới tựa đề còn đẹp hơn tất cả những gì mà nó chứa đựng: Những sự khác biệt và những điều kỳ diệu trên thế giới… René Leys không hề biết đến Marco Polo!

Chàng nói thêm:

— Còn người kia?

— Người kia à? Được thôi: ngài Robert Hart [6].

Đó là con người mà bất cứ ai đến từ châu Âu đều phải nghe tiếng một khi đặt chân lên đất nước Trung Hoa nhạt nhẽo ngày hôm nay… lời tán dương chàng ở trên thì cũng hơi quá lố thật. Tôi chờ đợi René Leys nhún nhường chối bỏ nó, cải chính về những công trạng của mình so sánh với thành tựu bền vững của người thư ký quèn của Hải quan anh quốc trở thành Đại chủ Tín dụng của Đế chế Trung Hoa bên cạnh giới tài chánh quốc tế. Nhưng dù hai người lúc khởi đầu có vài điểm giống nhau, tôi nhìn nhận là, trong trường hợp René Leys,… sự thăng tiến quả tình là nhanh hơn.

Chàng cũng thế, vì chàng dứt khoát không coi Robert Hart là gì cả.

— Cha tôi cho là ông ta hơi… yếu đuối, hơi mê thích người Trung Hoa quá… Và ông ta nói tiếng Bắc Kinh giống như một tên mại bản ở Thượng Hải!

Chính vào lúc này tôi cảm thấy phải đẩy René Leys vào “con đường thú nhận”:

— Anh có bảo tôi là anh đã tìm ra phương tiện để thâm nhập thoải mái vào Đại nội phải không?

— Phương tiện nào thế nhỉ?

— Cái… cái gã diễn viên được đặc cách cho hóa trang thành đàn bà Mãn Châu đó… nhớ chưa? Anh cố ý dẫn tôi tới rạp hát để chỉ hắn cho tôi thấy mà!

— ?

— Đúng rồi mà! Bên trái lô của ông bầu đoàn hát đó…

— Tôi không nhớ ra, René Leys thú nhận. Tôi không thể nào chỉ cho ông một diễn viên trong trang phục Mãn Châu… chuyện này tuyệt đối bị cấm mà.

— Vậy sao? Tôi có một trí nhớ tàn nhẫn, soi mói… Tôi chắc chắn là đã ghi nhận tất cả chuyện đó. Nếu thẳng thắn, tôi hẳn sẽ nói: đã viết ra tất cả chuyện đó rồi. Vậy mà tôi lại bắt đầu nghĩ là chính mình đã bịa đặt ra chuyện đó… Với chàng René Leys tử tế và dễ mến này, tôi đạt tới mức gần như đoán được điều mà chàng sẽ nói với tôi… điều mà chàng sắp sửa nói với tôi:

Thật vậy, giọng chàng bỗng dưng thay đổi và chàng nói:

— Xin ông hãy thứ lỗi cho tôi vì đã không về nhà mấy đêm nay. Tôi ở trong Hoàng Cung đấy, và cũng khá bận rộn… Tôi bị…

Chàng không lưỡng lự nữa:

— Tôi bị triệu vào bệ kiến.

— Một cuộc bệ kiến… vào ban đêm sao? Nhưng nhiếp Chính Vương đâu có ngủ trong Hoàng Cung! Vậy là Tiểu Hoàng đế năm tuổi phải không?

Chàng không trả lời. Tôi kỳ nèo:

— Thực sự tôi không thấy còn ai khác ngoài Hoàng đế…

— Ông quên còn có Hoàng hậu nữa sao, René Leys khiêm tốn nhắc.

Quả vậy, và tôi quả là kém lịch thiệp với phụ nữ! Tôi đã quên khuấy mất Thái hậu hiện tại… vậy mà chính tôi đã đề cập đến bà với chàng, chính tôi đã nói ra tên bà đầu tiên! Kể từ sau cái chết hoành tráng của bà Thái hậu Khủng khiếp Từ Hi, người mà dưới sự trị vì của mình hay nói chính xác hơn là dưới tay mình, đã giết chết một ông chồng Hoàng đế, một đứa con trai do chính mình đẻ ra, cũng là Hoàng đế, một người cháu [7] mà mình đưa lên làm Hoàng đế, và cai trị hà khắc và lâu dài còn hơn cả một đối thủ ở Viễn Tây, một “old lady” [8] khác tên Victoria sống cùng thời với bà hay gần như vậy… Từ khi bà chết, những từ như “Hoàng hậu” và “Thái hậu”, (đối với tôi) không còn chỉ định một thực tế sống động nào cả. Thỉnh thoảng những tờ báo địa phương mới ghi lại vài hoạt động có tính nghi lễ theo lối xưa, hay một sắc chỉ khá tẻ nhạt được tô vẽ thêm bằng dấu ấn bạc màu của “long Dụ” [9]…

Thực tình mà nói, tôi đã “quên mất” vị Hoàng hậu này!

— Có đúng là “chị hay em họ” của nhiếp Chính Vương không?

— Hơn thế nhiều! Chính là chị dâu của ông ấy đấy! Vì rằng nhiếp Chính Vương là em trai của Cố Hoàng đế mà bà là vợ cả…

— Điều này thì vẫn đúng, và tôi cũng đã quên luôn… nhưng ở đây, mối quan hệ anh chị em họ có vẻ nghiêm trọng hơn, theo tôi thấy, và mang tầm quan trọng chính trị lớn hơn: nhiếp Chính Vương và bà đều là cháu khá gần của bà Cựu Thái hậu. Giống như tổ tiên của họ, cả hai đều cùng một thị tộc Danh, một cái họ mang điềm khá dữ do một lời sấm truyền trên đầu môi chót lưỡi của những kẻ bất mãn ở Bắc Kinh, theo đó Triều đại nhà Thanh sẽ chấm dứt “do những lầm lỗi của thị tộc Nhữ hồ Nạp lan”.

— Sao? Leys thân mến, anh không biết đến “điềm xấu” gắn với gia đình của bạn anh à?

Chàng Leys thân mến này thận trọng đáp:

— Thanh triều vững chắc hơn bao giờ hết, và nhiếp Chính Vương thì khéo léo hơn vẻ ngoài của ông ấy. Ông ấy đồng tình với tất cả những cải cách…

— Chính thế. Chính điều đó làm tôi lo sợ… và những vụ mưu sát…

Tới đây thì tôi quay trở về với cuộc “thẩm cung” của mình…

— Nhưng theo lời anh, vụ mưu sát vừa qua xuất phát từ chính Hoàng Cung, nơi anh mong muốn thâm nhập vào… nơi mà tôi nghĩ anh vừa được vào yết kiến… này, nếu tình cờ xâu chuỗi các tòng phạm từ trước đến nay, không lẽ anh không lần ra được đến “nhân vật” đã triệu anh vào hay sao? Khi đó thì mới đúng là cừ, anh bạn ạ. Đừng trả lời! Anh vừa nhắc tôi rất đúng lúc về sự hiện hữu khá mờ nhạt của Hoàng hậu long Dụ. Tôi cho rằng sự ủy quyền của bà bị một hạn chế kép: sự kém cỏi của bà, sự trưởng thành trong tương lai của Tiểu Hoàng đế, và cũng bởi cá nhân nhiếp Chính Vương nữa. Nếu Hoàng hậu long Dụ có ít nhiều tham vọng thì, dưới mắt bà, nhiếp Chính Vương còn đang sống hẳn là không cần thiết lắm đối với lợi ích chung của Đế chế, và phiền toái cho lợi ích riêng của bà. Vậy thì nhiếp Chính Vương sẽ thành kẻ vô duyên nếu cứ tiếp tục sống. Tôi mà là nhà soạn kịch mêlô thì tôi sẽ không do dự cho in ra cả một trăm nghìn ấn bản nói rằng Hoàng hậu long Dụ “đích thân mài sắc lưỡi đao cho sát thủ”. René Leys im lặng không đồng tình.

Tôi phải đi xa hơn nữa. Sau một loạt lập luận dựa trên sự suy diễn càng lúc càng chặt chẽ, tôi tập hợp các lý lẽ của mình và xác định rằng: cuộc mưu sát thứ hai, có khi cả cuộc mưu sát thứ nhất, đến từ một nơi chốn nhất định trong Hoàng Cung, một nơi mà René Leys và ngay cả những thám tử tài năng nhất của MV. Chưa từng thâm nhập vào được… Cho nên người chỉ huy các thám tử, René Leys, lại vừa được triệu vào bệ kiến! Và tôi kết luận – bằng cách đơn giản dẹp sang bên những trung gian đông đảo – tôi kết luận một cách rất xác đáng rằng Thái hậu long Dụ là người xúi giục duy nhất và chịu trách nhiệm về những đòn đánh ra nhắm vào sinh mệnh mong manh của nhiếp Chính Vương (bom và dao)…, rằng người con trai thứ hai của Thái Thân Vương chỉ thủ vai phụ, có lẽ được trả tiền… hay ban thưởng bằng tình yêu, cũng quy ra bằng tiền chứ không bằng hiện vật! Thế là thì tôi đã buộc tội Thái hậu long Dụ đang si tình người con trai của Thái Thân Vương mà bà sẽ đột ngột đưa lên làm hoàng phu sau khi nhiếp Chính Vương biến khỏi cõi đời, rồi sau đó phong cho nàng ca kỹ vẫn cứ còn trinh kia cái tước hiệu suốt đời là người giặt giũ hạng thứ hai mươi lăm, chuyên giặt mấy thứ áo gối, chăn mền của đêm tân hôn, và khi chết thì được thừa nhận chính thức bằng một bài lâu đẹp đẽ vẫn dành cho các bà góa phụ gương mẫu, các bà cô suốt đời thủ tiết. Các bài lâu này sẽ bắc giò qua các ngã tư để toàn bộ giao thông trên đường phố phải chui qua dưới háng của chúng! Cảm thấy cực kỳ hãnh diện về tài suy diễn thám tử của mình, tôi cố buộc René Leys phải nhận ra sự sáng suốt của mình:

— Thế nào? Anh biết là tôi đâu thuộc Cục MV., vậy mà tôi vẫn đoán việc như thần phải không? Tôi đánh hơi được nhiều chuyện đúng không? Có hay không nào? Nhìn vẻ mặt của René Leys, tôi có cảm tưởng sắp nghe chàng trả lời,với một sự nhấn mạnh đanh thép chưa từng thấy ở chàng: “A, đây là chuyện riêng của tôi!”. – Tôi hẳn sẽ đáp lại: “Đúng rồi, nhưng cớ sao anh đem chuyện này ra nói với tôi chứ?”. René Leys trước sau vẫn câm như hến. Chàng ngả người ra sau, dáng điệu rất uể oải. Chàng nhìn tôi. Có thể nói rằng chàng đang chuẩn bị một cuộc tâm sự về tình yêu… Chính chàng đó! Và thế là những giả định đầy ác ý của gã Jarignoux sẽ được củng cố đến tàn độc!

Cuối cùng, chàng lên tiếng:

— Tôi sẽ tiết lộ với ông chuyện đêm tân hôn của “Quang Tự”…

Tôi ngắt lời:

— Tại sao gọi ông ấy là “Quang Tự”! Anh chắc chắn biết tên ông ấy mà!

— Tại sao ông lại muốn tôi dùng cái tên mà người ta cấm…

— Ồ, cũng phải. Tôi chấp nhận tên hiệu đó. Rồi sao?

— Vào thời điểm mà người ta bảo ông phải cưới bà hoàng hậu hiện nay, Quang Tự chưa từng thấy đàn bà…

— Chưa từng “thấy” ư? René Leys đỏ mặt như một tên học trò chưa dậy thì. Vậy là từ “thấy” trong câu chuyện của chàng thế chỗ của một động từ khác, cũng năng động không kém gì từ “biết” trong Thánh Kinh của người Do Thái xưa.

— Tóm lại là ông ấy không quen… René Leys giải thích. Ông ấy bèn hỏi ý kiến một trong những người bạn của mình. Điều này thì cũng tự nhiên thôi.

— Và bạn ông ấy nói: “Khi tất cả những nghi lễ kéo dài từ tám đến mười ngày kết thúc, Thánh thượng sẽ ở một mình với Hoàng hậu…” René Leys lại đỏ mặt…

— Một mình… Chẳng có ai ở một mình trong Hoàng Cung cả. Bao giờ cũng có các thái giám dẫn người này vào, người kia ra, các cung nữ lăng xăng lo việc này, việc nọ… Dù sao thì đó cũng là lời bạn ông nói với ông… “Cuối cùng, Thánh thượng sẽ được báo là mọi sự sẵn sàng. Thánh thượng sẽ đến bên người vợ, nằm lên trên nàng, và hành động”. René Leys lại ngừng nói.

Tuy nhiên tôi nghĩ là không một lời khuyên nào có thể trình bày một cách kinh điển, bằng ngôn ngữ trong sáng, và đi vào vấn đề một cách năng động hơn thế. Tôi thấy không bắt bẻ được chỗ nào cả.

— Do muốn bạn mình vui lòng bằng cách làm theo lời khuyên, Hoàng đế đến bên Hoàng hậu và nằm lên trên bà. Nhưng lúc đó ông đã hơi quá chén sau tám đến mười ngày lễ lạt nên ông đã quên hành động, và lăn ra ngủ…

Tôi nhìn René Leys với lòng ngưỡng mộ. Không cách chi có thể diễn tả cái bóng ma quá cố của Kẻ Bất lực, Kẻ Không thể Kết thúc với nhiều nỗi âu lo cho quốc sự hơn thế… René Leys có thực sự ý thức về giá trị của điều mình nói không? Và nhất là ai đã có thể kể lại cho chàng chuyện này: một gã thái giám à? Hắn mà biết cái gì cơ chứ! Một cung nữ… chắc không dám đâu…

Tôi có nên hỏi chàng giai thoại rất phòng the này, rất đặc biệt này, đến từ đâu không? Tự tôi sẽ không bao giờ dám… Vả lại, bây giờ chàng lại đắm chìm một lần nữa trong cơn mơ màng ủ ê, đôi mắt đen mở to dưới dưới bầu trời tối thẫm… làm gián đoạn chàng thì quả là khiếm nhã.

Bất ngờ chàng ngồi dậy:

— Anh có biết “đệ nhất dạ” của tôi trong Hoàng Cung đã làm tôi tốn hết bao nhiêu tiền không?

Thật sự không! Tôi không biết gì cả! Tôi thiếu cơ sở để… nhưng trước tiên, tôi muốn biết: tốn cho ai đây?

Đối với René Leys, câu trả lời thì hiển nhiên rồi: trước tiên phải chi cho các thái giám.

Tôi làm một phép tính nhanh. Mười phần trăm là con số mà người Âu thường chấp nhận được trong những cuộc đối phó với các gia nhân Trung Hoa… nhưng ở đây, tất cả những gia nhân này lại là quan chức, thuộc phẩm trật rất cao nữa chứ! Vả lại, mười phần trăm của cái gì đây? – Tôi buột miệng nói ra ngẫu nhiên một con số mà tôi tin là cũng đáng kể:

— Một trăm đô-la!

Và tôi cảm thấy bị René Leys khinh bỉ, vì hai lý do: tôi đã dùng một thuật ngữ kinh tế là đô-la, chỉ mới bằng bảy mươi phần trăm của một lượng thật, tức bạc ròng, đúc thành nén có hình chiếc thuyền… này, nếu là bạn thì liệu bạn có biết René Leys đã phải trả bao nhiêu lượng bạc không?

— Ba ngàn bốn trăm – trả ngay, và nó đơn giản chỉ là lời vấn an khi được tiếp đón ở cổng, như tiền qua cầu thôi đó. Hơn nữa, mọi sự đều thực hiện một cách chuẩn xác như một giao dịch thương mại. Có cả một biên lai chính thức nữa đấy…

Và chàng đưa cho tôi một mảnh giấy đầy những chữ viết thảo, ôi, rơi vào tay tôi thì cũng vậy thôi, chúng khó mà soi sáng được những gì chàng vừa nói với tôi… Dưới ánh sáng chập chờn cuối cùng của ngọn đèn, tôi nhìn những dãy ký tự đối với tôi cũng bí ẩn như một bản ghi tốc ký bằng tiếng ai Cập, được bao bọc bởi những đường lượn trang trí “Hittites” [10], lốm đốm những hình nêm và được cạo đi cạo lại bởi hai chục nhà khảo cổ!

Khi ngỡ ngàng ngẩng đầu lên và chuẩn bị trao lại cho chàng mảnh giấy đó – một tư liệu quý giá! Tờ biên nhận ba ngàn bốn trăm lượng bạc cho một “Đệ nhất dạ” trong Hoàng Cung – tôi nhận ra là chàng đã ngủ say một cách rất chân thật.

Tôi bỏ mảnh giấy quý giá vào túi và hoãn lại đến hôm sau phần tiếp theo và phần kết của cái “đêm đầu tiên” tuyệt vời này…

❀ ❀ ❀

[1] Những buổi tế trời ở Thiên Đàn có ý nghĩa tiếp tục Thiên Mệnh và bảo đảm dòng dõi Thiên tử của triều đại đương quyền. (S.L)

[2] Marco Polo (1254-1324): nhà du hành người Venise danh tiếng; năm 1271, theo cha và chú, thương gia ở Venise, thực hiện chuyến đi Trung Quốc bằng cách xuyên qua vùng Trung Á; bốn năm sau đến được Khanbalik (Đại Đô, Bắc Kinh sau này) rồi trở thành quan chức của triều đình nhà Nguyên. Ông sống ở Trung Quốc suốt 16 năm. Về lại quê hương (1295) ông kể lại chuyến phiêu lưu của mình trong cuốn Sách của những điều kỳ diệu trên thế giới có ảnh hưởng lớn trong sự phát triển giao lưu Đông-Tây, tới nay vẫn còn được tái bản.

[3] Comprador (mại bản) là từ chỉ một thương gia Trung Quốc làm giàu nhờ buôn bán với người nước ngoài. Đó là khuôn mặt tiêu biểu ở miền Nam Trung Quốc nhưng, ở những người này, Segalen nhìn ra những khía cạnh xấu xa của chủ nghĩa trọng thương và sự mại dâm (chữ dùng của Segalen) tư tưởng trước các cường quốc. (S.L). Từ thông dụng sau này là “tư sản mại bản”.

[4] Kubilay Khan (1214-1294): Hoàng đế Mông Cổ (tại vị 1260-1294), lập ra nhà Nguyên ở Trung Hoa (miếu hiệu là Nguyên Thế Tồ), đặt kinh đô của mình ở Đại Đô (1264, Bắc Kinh sau này).

[5] Tiếng La-tinh, có nghĩa đen là “phái viên của chúa tể”, dùng để chỉ những người được nhà vua ở châu Âu thời Trung cổ gửi về làm việc hay giám sát các chính quyền địa phương, có lẽ tương tự như các viên khâm sai, khâm mệnh ở nước ta thời quân chủ...

[6] Robert Hart (1835-1911), nhân viên lãnh sự Anh, được Thanh triều phong làm Tổng Thanh tra Cục Hải quan Trung Quốc suốt 45 năm (1863-1908), đứng đầu một cơ quan, phần lớn nhân viên là người châu Âu, đem lại nguồn lợi tài chánh quan trọng cho ngân khố nhà nước nhờ hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cảng biển lớn.

[7] Quang Tự là con của em gái Từ Hi, và cũng là con của em trai chồng Từ Hi (vua Hàm Phong).

[8] Tiếng Anh trong nguyên tác, tạm gọi là “Lão Phu nhân”.

[9] Tức Hoàng hậu Hiếu Định (1868-1913), vợ cả của vua Quang Tự. Sau khi chồng chết (1908), bà trở thành Thái hậu Long Dụ. Cuối năm 1911, bà thay Thuần Thân Vương

[10] Một dân tộc ở vùng Anatolie (tức Tiểu Á, Asie mineure, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay); trở thành một đế chế hùng mạnh vào từ thế kỷ 17 đến 12 trước Công nguyên, rồi diệt vong.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.