Sự Thật Về Vụ Án Harry Quebert Hay Chuyện Nàng Nola

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
27
Nơi Trồng Cẩm Tú Cầu

❊ ❊ ❊

“Thầy Harry, em cứ nghi ngờ những gì em đang viết. Không biết nó có hay không. Không biết nó có giá trị gì không…

– Mặc quần soóc vào đi Marcus. Đi chạy thôi.

– Bây giờ á? Nhưng trời đang mưa to mà.

– Đừng phàn nàn, đồ nhát gan. Mưa chưa giết chết ai bao giờ cả. Nếu anh không có đủ can đảm chạy dưới trời mưa, thì anh cũng chả có đủ can đảm để viết một cuốn sách.

– Lại là một lời khuyên uyên bác của thầy đấy à?

– Đúng đấy. Lời khuyên này áp dụng cho tất cả mọi thể loại nhân vật đang tồn tại trong con người anh: người đàn ông, võ sĩ đấm bốc và nhà văn. Nếu một ngày nào đó anh nghi ngờ điều anh đang làm, thì hãy đi chạy. Chạy đến khi mất hết mọi suy nghĩ: rồi anh sẽ thấy trong mình nảy sinh cảm giác quyết tâm điên cuồng phải chiến thắng. Anh biết không Marcus, tôi cũng vậy, trước kia tôi rất ghét trời mưa. ..

– Thế điều gì làm thầy đổi ý

– Một người…

– Là ai vậy?

– Thôi nào, bắt đầu đi. Chạy đi. Hãy chỉ quay trở lại khi nào anh cảm thấy mình kiệt sức

– Em học sao được khi thầy chả bao giờ kể gì cả?

– Anh hỏi nhiều quá đấy, Marcus. Thôi, chúc anh chạy tốt nhé!”

Người đàn ông đó vạm vỡ và có vẻ bề ngoài không mấy thân thiện; anh ta là người Phi lai Mỹ, đôi tay như tay hộ pháp. Lần đầu tiên gặp , anh ta đã chĩa súng lục về phía tôi. Chính anh ta là người đầu tiên đe dọa tôi bằng vũ khí. Anh ta bước vào đời tôi vào thứ Tư, 18 tháng Sáu năm 2008, ngày tôi bắt đầu thực sự cuộc điều tra riêng của mình về kẻ sát hại Nola Kellergan và Deborah Cooper. Buổi sáng hôm đó, sau gần 48 tiếng đồng hồ có mặt ở Goose Cove, tôi quyết định đã đến lúc phải bắt đầu bằng việc nghiên cứu cái hố khổng lồ được đào cách ngôi nhà khoảng 20 mét mà cho đến tận lúc đó, tôi chỉ đứng quan sát từ xa. Luồn lách qua những dải băng cách ly của cảnh sát, tôi kiểm tra thật kĩ mảnh đất đối với tôi đã quá đỗi thân thuộc. Goose Cove được bãi biển bao quanh với rừng nước lợ, và cũng không hề có rào chắn hay biển cấm đi qua để xác định ranh giới phần đất thuộc về ngôi nhà. Bất kì ai cũng có thể ra vào ; hơn nữa, cũng khá thường xuyên có người đi qua để dạo theo bờ biển hay đi xuyên qua cánh rừng gần đó. Cái hố nằm ngay trên mảnh đất cỏ mọc cao hướng ra phía biển, khoảnh đất giữa sân nhà và rừng. Đứng trước cái hố, hàng nghìn câu hỏi bắt đầu thiêu đốt trí óc tôi, nhất là không biết bao nhiều giờ đồng hồ tôi từng ngồi trên cái sân này, từng ngồi trong phòng làm việc của thầy Harry, trong khi đó, xác chết của cô gái vẫn nằm ngủ ngay dưới đất, ngay tại đây. Tôi chụp vài tấm ảnh, dùng điện thoại di động quay cả mấy đoạn phim, cố gắng hình dung cái cơ thể đang bị thối rữa ra kia nhìn như thế nào khi cảnh sát phát hiện và đào lên. Đầu óc hoàn toàn tập trung vào vụ án nên tôi không hề cảm thấy mối đe dọa từ phía sau lưng. Chỉ khi quay lại để quay phim khoảng cách từ sân tới cái hố chôn người, tôi mới thấy một người đàn ông đứng cách tôi có vài mét, đang chĩa súng lục vào tôi. Tôi hét lên.

– Đừng bắn! Đừng bắn, mẹ kiếp! Tôi là Marcus Goldman, nhà văn.

Anh ta hạ ngay súng xuống.

– Anh chính là nhà văn Marcus Goldman à?

Anh ta cất khẩu súng lục vào bao đeo trên thắt lưng bên hông, tôi nhận thấy anh ta còn đeo phù hiệu.

– Anh là cảnh sát? Tôi hỏi.

– Trung sĩ Perry Gahalowood. Thuộc đội phòng chống tội phạm cảnh sát bang. Anh làm trò gì ở đây thế? Đây là hiện trường vụ án chứ không phải chỗ chơi.

– Anh thường làm thế à, thường lấy súng dọa người như thế à? Nếu tôi là cảnh sát liên bang thì sao? Anh còn đứng đấy mà cười được đấy nhỉ? Anh sẽ bị đuổi việc ngay lập tức!

Anh ta phá lên cười.

– Anh á? Anh mà là cảnh sát á? Tôi quan sát anh được mười phút rồi, đi thì rón rén để không làm bẩn đôi giầy da xịn bóng lộn thế kia. Với cả cảnh sát liên bang thì không hét toáng lên khi nhìn thấy súng. Họ cũng sẽ rút súng ra và xả đạn ngay lập tức vào tất cả mọi cử động.

– Tôi cứ tưởng anh là cướp.

– Vì da tôi đen hả?

– Không, vì anh có bộ mặt của kẻ cướp. Cà vạt của anh là cà vạt Ấn Độ à?

– Đúng rồi.

– Lỗi mốt quá rồi.

– Anh cần phải trả lời tôi, anh đang làm trò gì ở đây?

– Tôi sống ở đây.

– Thế nghĩa là thế nào? Sống ở đây nghĩa là sao?

– Tôi là bạn của Harry Quebert. Ông ấy nhờ tôi chăm sóc nhà cửa lúc ông ấy vắng mặt.

– Anh điên rồi! Harry Quebert bị kết án giết một lúc hai mạng người, nhà của ông ta bị tịch thu và niêm phong. Tôi phải bắt anh, anh bạn thân mến ạ.

– Ngôi nhà đâu có bị niêm phong!

Anh ta lúng túng mất một lúc rồi trả lời:

– Tôi không ngờ có một nhà văn, Chủ nhật đến đây chiếm nhà!

– Phải lường trước mọi việc anh cảnh sát ạ. Ngay cả khi việc đó, đối với cảnh sát đúng là có hơi khó thật.

– Dù sao tôi vẫn cứ bắt anh.

– Chả có tính pháp lí gì cả! Tôi kêu lên. Không có dấu niêm phong cũng không có lệnh cấm. Tôi cứ ở đây đấy. Nếu anh mà cứ bắt tôi, tôi sẽ kiện ra Tòa án tối cao, tôi sẽ kiện anh đã dùng súng lục đe dọa tôi. Tôi sẽ bắt anh phải bồi thường tiền triệu. Tôi quay phim hết rồi.

– Chiêu này là của Roth phải không? Gahalowood thở dài.

– Đúng vậy.

– Xì. Quỉ tha ma bắt hắn đi. Hắn sẵn sàng cho cả mẹ hắn lên ghế điện nếu việc đó có thể cãi tội được cho khách hàng của hắn.

– Chả có tính pháp lí gì cả, thưa anh trung sĩ. Hoàn toàn vô lí và bất hợp pháp. Hi vọng anh sẽ không giữ thù oán gì với tôi.

– Có đấy… Tuy nhiên, ngôi nhà này, chúng tôi không quan tâm đến nữa. Thế nhưng, tôi cấm anh bén mảng tới phía sau tấm biển cảnh sát. Anh không biết đọc à? Trên đấy viết rõ rành rành HIỆN TRƯỜNG VỤ ÁN-CẤM XÂM PHẠM.

Khi lấy lại được vẻ tự tin, tôi xắn tay áo sơ mi lên và tiến thêm mấy bước về phía cái hố.

– Anh biết không, thưa trung sĩ, chính tôi cũng đang điều tra đây, tôi nói vẻ rất nghiêm túc. Tốt nhất là anh nên nói cho tôi anh biết được những tin tức gì về vụ việc rồi.

Anh ta lại cố nhịn cười.

– Ôi trời ơi, không, tôi có mơ không đấy: anh đang điều tra á? Thế thì đó chính là tin tức về vụ việc đấy. Mà anh còn nợ tôi 15 đô la đấy.

– 15 đô la? Tại sao thế?

– Chính là số tiền tôi phải trả để mua cuốn sách của anh đấy. Tôi đọc nó năm ngoái. Truyện viết quá dở. Chắc nó là cuốn dở nhất trong đời mà tôi đọc. Tôi đòi anh phải hoàn tiền lại cho tôi.

Tôi nhìn thẳng vào mắt tay trung sĩ, nói:

– Anh phải chứng minh được điều anh nói cái đã, trung sĩ.

– Vừa nói, tôi vừa đắc thắng thẳng tiến đến phía cái hố mà không thèm nhìn phía trước nên bị ngã thẳng xuống hố. Tôi lại hét toáng lên lần nữa khi mình nằm ngay chính nơi Nola chết.

– Anh thật, không thể chấp nhận được! Gahalowood kêu lên từ phía trên mặt đất.

Anh ta chìa tay ra, kéo tôi lên. Chúng tôi lên phía sân nhà, ngồi xuống đó, tôi trả lại cho Gahalowood số tiền anh ta đòi tôi bồi thường. Tôi chỉ có một tờ 50 đô.

– Anh có tiền lẻ không? Tôi hỏi.

– Không.

– Thế thì cứ cầm cả đi.

– Ồ, cảm ơn nhà văn.

– Tôi không phải là nhà văn nữa rồi.

Tôi nhanh chóng nhận thấy trung sĩ Gahalowood là người đàn ông vừa thô lỗ vừa cứng đầu. Tuy nhiên, sau khi nài nỉ hồi lâu, anh ta cũng kể hôm phát hiện ra vụ việc đúng ca trực nên anh ta là một trong những người đầu tiên có mặt ở hiện trường chỗ cái hố chôn xác chết.

– Trong hố có bộ hài cốt và một cái túi da. Mặt phía trong của chiếc túi da có rập tên Nola Kellergan. Khi mở túi, tôi thấy có một bản thảo viết tay, tương đối còn nguyên trạng. Tôi nghĩ chất liệu da của chiếc túi đã giúp bảo toàn đống giấy.

– Làm sao anh biết được bản thảo đó là của Harry Quebert?

– Lúc ấy thì tôi không biết. Nhưng sau đó, ở phòng hỏi cung, tôi đưa nó cho Harry Quebert xem và ông ta đã thừa nhận ngay lập tức. Tất nhiên sau đó tôi đã kiểm tra nội dung viết bên trong, chính xác từng chữ với cuốn tiểu thuyết Nguồn gốc cái xấu xa được xuất bản năm 1976, tức là chưa tới một năm sau khi xảy ra thảm kịch. Thật đúng là điều ngẫu nhiên hay ho, phải không?

– Việc Harry Quebert viết một cuốn tiểu thuyết về Nola không thể chứng tỏ ông ta là người giết Nola. Ông ấy nói rằng bị mất bản thảo, Và sự thật là chính Nola lấy.

– Người ta tìm thấy hài cốt của bé gái này trong vườn nhà ông ấy bên cạnh lại có bản thảo viết tay của ông ta. Nhà văn chỉ cần đưa cho tôi một bằng chứng ngoại phạm của ông ta, rồi tôi sẽ thay đổi ý kiến.

– Tôi muốn tận mắt nhìn thấy bản thảo đó.

– Không được. Đây là vật bảo mật.

– Nhưng tôi đã nói với anh là tôi cũng đang điều tra cơ mà, tôi nài nỉ.

– Cuộc điều tra của anh chẳng liên quan gì tới tôi cả, nhà văn ạ. Anh sẽ được biết đến hồ sơ vụ án ngay khi Quebert ra tòa.

Tôi muốn thể hiện cho viên trung sĩ thấy rằng tôi không phải hạng điều tra nghiệp dư, tôi cũng nắm được một số điều nhất định về vụ việc.

– Tôi đã nói chuyện với Travis Dawn, hiện là Cảnh sát trưởng của Aurora. Có vẻ như lúc Nola biến mất, ông ta đang nghiên cứu theo hướng người lái xe ô tô Monte Carlo màu đen.

– Tôi biết chuyện đó, Gahalowood đáp lại ngay. - Thám tử Sherlock Holmes này, anh có biết không, chính Harry Quebert cũng có xe Chevrolet Monte Carlo đen đấy.

– Làm sao anh biết được?

– Tôi đọc báo cáo viết hồi đó.

Tôi suy nghĩ một giây rồi nói:

– Đợi chút, thưa trung sĩ, nếu anh là người tinh tường, thì hãy giải thích cho tôi xem tại sao Harry lại đi trồng hoa vào đúng chỗ mà người ta cho là chính ông ta chôn Nola?

– Ông ta nghĩ những người làm vườn không đào sâu đến thế.

– Điều này bất hợp lí lắm, anh hẳn biết vậy. Harry không giết Nola Kellergan.

– Làm sao anh lại có thể chắc chắn thế?

– Vì ông ta yêu Nola Kellergan.

– Bị can bao giờ cũng nói trong phiên tòa rằng: “Vì quá yêu nên tôi giết cô ấy”. Nhưng khi yêu thì không ai giết người cả.

Nói đến đấy, Gahalowood đứng dậy báo hiệu rằng anh ta muốn chấm dứt cuộc nói chuyện với tôi tại đây.

– Anh phải đi à, trung sĩ? Nhưng việc điều tra của chúng ta chỉ vừa mới bắt đầu.

– Của chúng ta á? Ý anh nói là của tôi chứ hả?

– Khi nào chúng ta gặp lại nhau vậy?

– Không bao giờ, nhà văn ạ, không bao giờ.

Thế rồi anh ta bỏ đi, không hề có ý chào từ biệt.

Nếu như Gahalowood chẳng coi tôi là nghiêm túc thì trái lại Travis Dawn đối xử với tôi hoàn toàn ngược hẳn, sau đó ít lâu, tôi đã gặp ông ta tại đồn cảnh sát Aurora để cho ông xem tin nhắn nặc danh mà tôi nhận được vào tối hôm trước.

– Tôi đến tìm ông vì tôi thấy cái này ở Goose Cove, - vừa nói tôi vừa đặt mẩu giấy lên bàn làm việc của Travis Dawn.

Ông ta đọc mẩu giấy.

Hãy quay về nhà đi, Goldman? Mẩu giấy này được viết khi nào?

– Tối hôm qua. Khi tôi ra ngoài đi dạo trên bờ biển, lúc trở về nhà, tôi thấy mẩu tin nhắn này gắn ở cửa ra vào.

– Tôi nghĩ chắc cậu không thấy gì thêm nữa…

– Không hề thấy gì nữa hết.

– Đây là lần đầu tiên à?

– Nhưng hôm nay mới là ngày thứ hai tôi ở đây…

– Tôi sẽ mở một đơn kiện giúp cậu để lập hồ sơ. Cần phải thận trọng đấy Marcus ạ.

– Ông nói cứ như mẹ tôi vậy.

– Thật đó, chuyện rất nghiêm túc đấy. Đừng có đánh giá thấp tác động cảm xúc của chuyện này. Tôi giữ cái mẩu tin nhắn này lại nhé?

– Tôi cho ông đấy.

– Cảm ơn. Tôi có thể làm gì thêm cho cậu nữa không? Tôi nghĩ cậu không đến đây chỉ vì mỗi mảnh giấy này.

– Tôi muốn được ông đưa đến Side Creek, nếu ông có thời gian. Tôi muốn xem nơi diễn ra toàn bộ sự việc.

Travis không chỉ đồng ý dẫn tôi tới Side Creek, mà còn dẫn tôi ngược dòng thời gian trở về 33 năm trước. Trên chiếc xe ô tô tuần tra cảnh sát, ông đưa tôi đi đúng hành trình mà trước đây chính ông đã từng đi khi vừa nghe xong cú điện thoại của bà Deborah Cooper. Từ Aurora, cứ thẳng quốc lộ 1 theo hướng đi Vermont chạy dài dọc theo bờ biển, chúng tôi vượt qua trước ngôi nhà Goose Cove, sau đó vài dặm là bìa rừng Side Creek và điểm giao cắt với đường Side Creek, chính ở cuối con đường này là nhà của bà Deborah Cooper. Travis quặt tay lái và chúng tôi đã đứng trước ngôi nhà nhỏ xinh xắn bằng gỗ, hướng ra phía đại dương và được rừng bao bọc xung quanh. Một vị thế tuyệt đẹp nhưng hoàn toàn có độc.

– Không có gì thay đổi cả, Travis nói khi chúng tôi đi vòng quanh ngôi nhà. Tường đã được sơn lại, màu hơi sáng hơn trước một chút. Còn lại mọi thứ hoàn toàn y như trước.

– Hiện tại ai sống ở đây?

– Một cặp vợ chồng người Boston, chỉ sống ở đây vào mùa hè. Họ thường đến vào tháng Bảy và cuối tháng Tám thì đi. Suốt phần thời gian còn lại ngôi nhà bị bỏ trống.

Ông ta chỉ cho tôi cánh cửa lối sau, dẫn ra nhà bếp và nói tiếp:

– Lần cuối cùng tôi thấy bà Deborah Cooper còn sống là ngay trước cửa này. Lúc đó, Cảnh sát trưởng Pratt cũng vừa tới: ông ta bảo bà ấy ở yên trong nhà, đừng có sợ, rồi chúng tôi cùng nhau vào rừng rà soát. Ai mà có thể ngờ được 20 phút sau, bà ấy bị một viên đạn găm vào ngực giết chết.

Vừa nói, Travis vừa đi thẳng về phía cánh rừng. Tôi hiểu rằng, ông ta đang quay trở lại trên con đường nhỏ mà xưa kia, ông ta đã cùng đi với cảnh sát trưởng Pratt ba mươi ba năm trước.

– Cảnh sát trưởng Pratt bây giờ thế nào rồi? Tôi đi theo ông ta hỏi.

– Về hưu rồi. Ông ta vẫn ở Aurora, tại Mountain Drive. Chắc là cậu đã có lần gặp ông ấy rồi. Người ông ấy rất vạm vỡ, bất kể lúc nào cũng mặc bộ đồ đánh gôn.

Chúng tôi tiến sâu vào giữa những hàng cây. Xuyên qua tầng tầng lớp lớp cây cối rậm rạp, chúng tôi có thể nhìn thấy bãi biển ở phía dưới, hơi thấp hơn một chút từ đằng xa. Sau khi đi bộ chừng mười lăm phút, Travis dừng lại trước ba cây thông khá thẳng.

– Đây, ở đây này.

– Ở đây này gì cơ a?

– Ở đây là nơi có bao nhiêu là máu, rồi những món tóc vàng, một miếng vải màu đỏ. Thật là kinh hoàng. Tôi lúc nào cũng nhận ra chỗ này: trên các tảng đá rêu mọc nhiều hơn, cây cối có lớn lên thêm, nhưng đối với tôi thì không có gì thay đổi cả.

– Sau đó, các ông đã làm gì?

– Chúng tôi nhận định có điều rất nghiêm trọng đã xảy ra, nhưng chúng tôi không có thời gian nán lại đó lâu hơn để xem cho kĩ, vì ngay lúc đó có tiếng súng vang lên. Thật là điên rồ, chúng tôi hoàn toàn không thấy gì hết … Nghĩa là, nhẽ ra tôi phải nhìn thấy bóng dáng cô gái đó hay tên sát nhân vào tích tắc nào đó chứ . .. Nhưng tôi không thể hiểu tại sao lại bỏ lỡ cái cơ hội đó, không nhìn thấy bất kì điều gì… Chúng tôi nghĩ bọn chúng trốn trong các lùm cây, thằng sát nhân đã bịt miệng cô bé. Khu rừng thực sự rất rộng, nên hoàn toàn có khả năng có chuyện gì đó xảy ra mà mình không thấy. Tôi nghĩ cô bé đã lợi dụng giây phút sơ hở của kẻ tấn công vùng thoát được, rồi chạy thẳng vào nhà cầu cứu mẹ Cooper. Hắn đuổi theo cô bé đến tận ngôi nhà và đã trừ khử mẹ Cooper.

– Vậy là khi nghe thấy tiếng súng nổ, các ông liền lập tức quay trở lại ngôi nhà…

– Đúng vậy.

Chúng tôi quay trở lại ngôi nhà.

– Tất cả mọi chuyện đều xảy ra ở bếp, Travis nói với tôi. Từ trong rừng, Nola chạy vào kêu cứu; mẹ Cooper mở cửa cho cô bé xong thì vào phòng khách gọi điện báo cảnh sát rằng cô bé đã ở trong nhà bà. Tôi biết là điện thoại đặt ở phòng khách bởi vì chính tôi cũng đã dùng nó nửa tiếng trước để gọi Cảnh sát trưởng Pratt. Trong khi mẹ Cooper gọi điện thoại, thì kẻ tấn công đã lẻn vào bếp tóm được Nola, đúng lúc đó mẹ Cooper lại xuất hiện ở nhà bếp nên hắn đã đánh bà. Sau đó, hắn lôi Nola đi, kéo cô bé đến tận xe ô tô.

– Chiếc xe ô tô ấy ở đâu?

– Trên đường 1, con đường dẫn thẳng tới khu rừng này. Lại đây, tôi sẽ chỉ cho cậu.

Một lần nữa, Travis lại dẫn tôi đi từ nhà vào rừng nhưng lần này theo hướng hoàn toàn ngược lại. Ông hướng dẫn tôi từng bước chắc chắn xuyên qua khu rừng và chẳng bao lâu sau, rốt cuộc chúng tôi đã ở ngay trên đường 1.

– Chiếc xe Chevrolet đen đỗ ở đây. Hồi đó, các lối đi thẳng quốc lộ còn rậm rạp chứ không thoáng như bây giờ, chúng bị các bụi cây che kín.

– Làm thế nào mà ông lại biết được họ đi đúng đường này?

– Có nhiều vết máu từ ngôi nhà tới tận đây.

– Thế còn chiếc ô tô?

– Bay hơi hoàn toàn. Như tôi nói với cậu, Phó Cảnh sát trưởng khi đến đây tiếp viện chúng tôi đã đi theo con đường này, run rủi sao lại gặp chiếc xe ô tô đó. Một cuộc rượt đuổi đã diễn ra, rào chắn đường của cảnh sát được dựng lên khắp nơi nhưng không may chúng đã trốn thoát.

– Làm sao mà tên giết người lại có thể lọt lưới được nhỉ?

– Tôi cũng muốn biết điều đó lắm, phải nói là tôi có biết bao nhiêu câu hỏi luôn ám ảnh trong đầu từ ba mươi ba năm nay về vụ việc này. Cậu biết không, mỗi lần leo lên xe ô tô cảnh sát là mỗi lần tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi tóm được chiếc xe Chevrolet bẩn thỉu đó. Có thể chúng tôi đã cứu được cô bé…

– Vậy ông cho rằng Nola Kellergan ở trên chiếc xe ô tô Chevrolet đen đó à?

– Bây giờ khi ta đã phát hiện ra hài cốt của cô bé chỉ nằm cách đây có hai dặm thì tôi dám chắc vào điều đó…

– Vậy thì ông cũng nghĩ rằng chính Harry là người lái chiếc xe ô tô Chevrolet đen đó phải không?

Ông ta nhún vai.

– Cứ nói đơn giản là khi chứng kiến những sự kiện xảy ra gần đây, tôi không thể tưởng tượng được lại có ai khác ngoài ông ấy làm việc đó.

Cảnh sát trưởng Gareth Pratt mà tôi cũng tìm gặp ngay chính ngày hôm đó có vẻ cũng cùng ý kiến với vị cấp phó của mình về tội lỗi của Harry. Ông ta tiếp tôi ngay trước cổng nhà, vẫn trong bộ quần áo đánh gôn. Amy, vợ của ông ta, sau khi mời chúng tôi uống nước, cứ giả vờ như đang chăm sóc các chậu cây cảnh ở sảnh để hóng chuyện. Bà cũng không giấu giếm điều đó, vì thỉnh thoảng bà lại chêm vào vài câu bình luận ý kiến của ông chồng.

– Tôi đã gặp anh rồi phải không? Pratt hỏi tôi.

– Vâng, tôi thường xuyên đến Aurora mà.

– Chàng trai lịch lãm này chính là người viết cuốn tiểu thuyết đó, vợ ông ta chêm vào.

– Nom anh không giống cái tay đã viết cuốn truyện đó gì cả? Ông ta nghi ngờ.

– Có chứ, chính tôi đã viết cuốn truyện đó, ngoài ra tôi còn viết mấy cuốn khác nữa.

– Thấy chưa, Gareth, tôi đã bảo ông rồi mà, Amy ngắt lời.

– Bà này, đừng có ngắt lời bọn tôi như vậy chứ: đây là khách của tôi, tôi xin cảm ơn bà. Thế nào, anh Goldman, tại sao tôi lại có hân hạnh được đón tiếp anh thế này?

– Nói thật là tôi đang có gắng lí giải một số câu hỏi liên quan tới vụ ám sát Nola Kellergan. Tôi đã nói chuyện với Travis Dawn, ông ta bảo hồi đó ông có nghi vấn về Harry.

– Đúng vậy.

– Căn cứ vào đâu ạ?

– Căn cứ vào dư luận thôi. Đặc biệt là con đường ngoằn ngoèo lúc tôi đuổi theo tên sát nhân: nó cho thấy tên giết người phải là một tay trong vùng. Phải rất quen thuộc với vùng này mới có thể thoát thân trong khi tất cả lực lượng cảnh sát của vùng đã được huy động như vậy. Thế rồi lại còn chiếc xe ô tô Monte Carlo màu đen nữa chứ. Tất nhiên là chúng tôi đã lập danh sách tất cả các chủ sở hữu loại xe này đang sống trong vùng lúc đó: người duy nhất trong số họ không có bằng chứng ngoại phạm chính là Quebert.

– Nhưng mà, rốt cuộc các ông lại không tiến hành điều tra theo hướng Harry Quebert.

– Không, bởi vì ngoài chuyện xe ô tô, chúng tôi không có bằng chứng nào khác để buộc tội ông ta. Hơn thế, chúng tôi đã rất nhanh chóng loại ông ta ra khỏi danh sách những kẻ tình nghi. Việc phát hiện ra bộ hài cốt của cô bé trong vườn nhà ông ta chứng tỏ chúng tôi đã phạm sai lầm. Thật là điên quá, vì tôi cũng luôn luôn đặc biệt có cảm tình với ông ta… Rốt cuộc, có thể cảm tình khiến tôi đánh giá sai ông ta: Ông ta lúc nào cũng cực kì đáng mến, thân thiện, dễ dàng thuyết phục được người khác… Tôi muốn nói rằng, anh Goldman à, nếu tôi hiểu đúng, thì chính anh là người biết rõ ông ấy: bây giờ khi anh biết cô bé kia được chôn trong vườn của ông ta, anh có cảm thấy như sực nhớ ra một chuyện gì đó mà ông ta đã làm hay đã nói khiến anh có chút nghi ngờ gì chăng?

– Không, thưa ông. Tôi chả nhớ điều gì tương tự như vậy cả.

Khi trở về Goose Cove, tôi thấy ở phía bên kia dải băng của cảnh sát, những cây cẩm tú cầu đang sắp chết khô trên miệng hố, toàn bộ rễ đến phơi hết cả lên trời. Tôi bèn vào khu nhà phụ làm ga ra tìm một chiếc xẻng. Sau đó, tôi lẻn vào trong vùng cấm, đào một vuông đất mềm hướng ra phía đại dương và trồng những cây hoa vào đó.

* * *

Ngày 30 tháng Tám năm 2002.

– Thầy Harry?

Lúc đó là 6 giờ sáng. Ông đang ngồi ngoài sân nhà ở Goose Cove, tách cà phê trên tay, ông quay lại, ngạc nhiên:

– Marcus đấy à? Người cậu nhễ nhại mồ hôi thế… Không thể tin được, cậu đã dậy chạy rồi cơ đấy?

– Từ lâu rồi ấy chứ, em đã kịp chạy tám dặm định mức của em rồi đấy ạ.

– Cậu dậy từ lúc mấy giờ?

– Sớm lắm. Thầy có nhớ không, cách đây hai năm khi em mới đến đây, thầy bắt em phải dậy từ bình minh? Từ đó, em quen dậy vào giờ này rồi. Dậy sớm để cả thế giới thuộc về mình! Thế còn thầy, thầy làm gì ngoài này thế?

– Đang quan sát, Marcus ạ.

– Thầy quan sát gì thế ạ?

– Cậu có thấy cái khoanh cỏ bé tí kẹp giữa mấy cây thông nhìn ra phía bãi biển không? Từ lâu, tôi đã muốn làm cái gì ở đó. Đấy là khoảnh đất bằng phẳng duy nhất của cơ ngơi này có thể sử dụng được để trồng trọt thứ gì đó và làm thành cái vườn. Tôi muốn tạo thành một miếng đất nhỏ nhắn xinh xắn, kê hai chiếc ghế bằng, một chiếc bàn sắt và xung quanh đó trồng cẩm tú cầu. Thật nhiều cẩm tú cầu.

– Tại sao phải là cẩm tú cầu ạ?

– Có người rất thích cẩm tú cầu. Thầy muốn trồng những bụi cẩm tú cầu thật to để luôn luôn nhớ đến cô ấy.

– Cô ấy là người yêu của thầy à?

– Ừ.

– Nhìn thầy có vẻ buồn, thầy Harry ạ.

– Đừng để ý đến làm gì.

– Thầy Harry này, sao chả bao giờ thầy kể cho em nghe chuyện tình yêu của thầy thế?

– Vì chẳng có gì mà kể Marcus ạ. Hãy nhìn, hãy nhìn thì hơn Marcus! Hoặc có khi nên nhắm mắt lại. Đúng rồi đấy, nhắm mắt thật chặt làm sao để không một chút ánh sáng nào có thể lọt qua được bờ mi. Cậu thấy không? Con đường lát gạch bắt đầu từ sân nhà trải dài đến tận những bụi cẩm tú cầu. Rồi có hai cái ghế băng dài, ngồi đó, mình có thể vừa thấy những bụi cẩm tú cầu khổng lồ, vừa nhìn thấy đại dương. Thậm chí có cả một vịnh nước nhỏ với đài phun nước có tượng người đứng giữa. Nếu nó đủ lớn, thầy sẽ thả cá vàng Nhật Bản ngũ sắc.

– Cá vàng Nhật Bản ngũ sắc ạ? Chúng không thọ được một giờ đâu thầy, bọn mòng biển sẽ xơi tái ngay.

Thầy Harry mỉm cười.

– Ở đây, bọn mòng biển được quyền làm bất kì điều gì chúng thích, Marcus ạ. Nhưng cậu có lí, tôi sẽ không thả cá nữa. Thôi, hãy đi tắm nước nóng dưới vòi hoa sen đi, cậu có thích không nào? Trước khi cậu chết vì lạnh, thầy sẽ không thể bịa ra được câu chuyện nhảm nhí nào để có thể thanh minh, khiến bố mẹ cậu nghĩ là thầy không biết chăm sóc con trai cưng của họ. Thầy đi chuẩn bị bữa sáng đây. À Marcus này…

– Dạ?

– Nếu thầy có một đứa con trai…

– Vâng, em biết rồi ạ. Em biết.

* * *

Sáng thứ Năm ngày 19 tháng Sáu năm 2008, tôi đến nhà nghỉ Sea Side. Địa điểm này rất dễ tìm: từ đường Side Creek, cứ đi thẳng tiếp trên đường 1 thêm bốn dặm nữa về hướng bắc, sẽ không thể không nhìn thấy tấm biển báo bằng gỗ to tổ đùng:

SEA SIDE MOTEL & RESTAURANT - Từ 1960.

Nơi Harry đợi Nola vẫn luôn còn đó; có lẽ tôi đã đi qua đó đến hàng trăm lần nhưng không bao giờ để ý-mà việc gì tôi phải để ý đến nó cơ chứ, ngoại trừ bắt đầu từ ngày hôm nay? Đó là một tòa nhà bằng gỗ lợp mái đỏ, bao quanh là hàng rào hoa hồng gai, ngay phía sau là rừng. Tất cả các phòng ở tầng trệt đều nhìn ra bãi đỗ xe, để lên các tầng trên phải đi cầu thang phía ngoài.

Theo nhân viên lễ tân mà tôi dò hỏi, tòa nhà này không hề thay đổi bất cứ chi tiết nào kể từ khi xây xong ngoại trừ nội thất của các phòng được hiện đại hóa và thêm một khu nhà ăn được xây sát vào nhà nghỉ. Để chứng thực cho lời nói của mình, anh ta đưa cho tôi xem cuốn album ảnh lưu niệm từ bốn mươi năm nay của nhà nghỉ.

– Tại sao anh lại quan tâm tới nhà nghỉ này như vậy? - Cuối cùng anh ta hỏi tôi.

– Vì tôi đang tìm những thông tin cực kì quan trọng, tôi trả lời.

– Tôi muốn anh nói thêm…

– Tôi cần biết có ai đã ngủ ở đây, trong phòng số 8, vào đêm thứ Bảy ngày 30 tháng Tám đến sáng Chủ nhật ngày 31 tháng Tám năm 1975.

Anh ta phá lên cười.

– Năm 1975 ư?Anh có đùa không thế? Kể từ khi thông tin được lưu trữ bằng điện tử, ta có thể xem được dữ liệu cùng lắm là hai năm trở về trước. Nếu anh muốn, tôi có thể nói cho anh biết ai ngủ ở đây vào đêm 30 tháng Tám năm 2006. Nhưng tôi chỉ nói thế về mặt kĩ thuật thôi, chứ còn đó là những thông tin mà hiển nhiên là tôi không có quyền được tiết lộ.

– Thế không có cách nào để biết được à?

– Ngoài các lưu trữ điện tử thì dữ liệu duy nhất nữa mà chúng tôi giữ là địa chỉ email của những người muốn nhận bản tin của nhà nghỉ. Anh có muốn nhận bản tin của chúng tôi không?

– Không, xin cảm ơn. Nhưng nếu có thể, tôi muốn được vào xem phòng số 8 một chút.

– Không thể. Nhưng phòng đó đang trống. Anh có muốn thuê phòng đó đêm nay không? Giá một đêm 100 đô la.

– Trên biển, các anh để giá của tất cả các phòng đều chỉ là 75 đô la, Anh biết không, tôi sẽ đưa riêng cho anh 20 đô la, anh dẫn tôi vào xem phòng đó, thể là cả hai chúng ta đều hài lòng.

– Anh thật là rắn rết. Nhưng thôi được, tôi đồng ý.

Phòng số 8 nằm ở tầng một. Căn phòng này cũng giống như tất cả mọi phòng khác, không có gì đặc biệt, có một giường, một bàn uống nước nhỏ, tivi, bàn viết và phòng tắm.

– Tại sao anh lại quan tâm tới căn phòng này thế? Gã nhân viên hỏi tôi.

– Chuyện rất phức tạp. Một người bạn nói với tôi rằng cách đây ba mươi năm anh ấy đã nghỉ qua đêm ở đây. Nếu như chuyện đó là thật thì anh ấy là người vô tội.

– Thế anh ấy bị buộc tội gì?

Tôi không trả lời câu hỏi, tiếp tục thẩm vấn:

– Tại sao người ta lại gọi nhà nghỉ này là Sea Side? Ở đây thậm chí nhìn ra biển cũng không được cơ mà?

– Không nhìn thấy biển được, nhưng có đường nhỏ xuyên qua rừng, dẫn ra tận bãi tắm. Thông tin này có trong tờ rơi quảng cáo. Nhưng khách hàng cũng hay chế giễu lắm, khách nghỉ đêm tại đây chẳng ai đi ra bãi biển bao giờ.

– Theo anh nói, thì tức là từ Aurora người ta có thể đi theo bãi biển, xuyên qua rừng để đến đây phải không?

– Đúng vậy.

* * *

Tôi dành toàn bộ phần thời gian còn lại của ngày hôm đó để tra cứu các lưu trữ ở thư viện thành phố và cố gắng tái tạo lại chuỗi sự việc đã diễn ra trong quá khứ một cách lô gich. Erne Pinkas đã hỗ trợ tôi rất nhiều: ông không hề tiếc thời gian giúp tôi tìm kiếm thông tin.

Theo báo chí thời kì đó, không ai nhận thấy có gì lạ thường xảy ra vào ngày Nola Kellergan mất tích: không hề thấy Nola bỏ đi, cũng không thấy có gã côn đồ lạ mặt nào lảng vảng. Dưới cái nhìn của tất cả mọi người, vụ Nola Kellergan biến mất hoàn toàn là một bí ẩn lớn, cái chết của bà Deborah Cooper còn bí ẩn hơn nữa. Tuy nhiên, một vài nhân chứng chủ yếu là hàng xóm thuật lại rằng họ đã nghe thấy nhiều tiếng ầm và cả tiếng kêu la từ gia đình nhà Kellergan ngày hôm đó ; một số người khác lại kể thực ra những tiếng ồn đó là âm nhạc mà ông mục sư vẫn thường xuyên nghe với âm lượng cực lớn. Điều tra của Aurora Star cho thấy cha Kellergan thường xuyên vừa sửa xe vừa nghe nhạc trong gara. Ông vặn âm lượng to hết cỡ để át đi tất cả tiếng ồn của các dụng cụ vì cho rằng âm nhạc hay và đáng nghe hơn âm thanh của máy móc ngay cả khi quá to. Nhưng nếu như con gái ông mà có kêu cứu, thì cũng có thể ông không nghe thấy gì hết. Theo Pinkas thì cha Kellergan lúc nào cũng tự hận mình vì đã vặn nhạc quá to: ông không bao giờ rời bỏ ngôi nhà ở Terrace Avenue, ông tự giam mình, sống cách biệt ở đó, lúc nào cũng vặn đi vặn lại đĩa nhạc với âm lượng chói tai, như để tự trừng phạt mình. Giờ thì gia đình nhà Kellergan chỉ còn có mỗi ông, người mẹ tên là Louisa qua đời đã lâu. Hình như buổi tối khi có thông tin chính xác rằng người ta đào được hài cốt của Nola, cánh nhà báo đã kéo đến rất đông tại nhà David Kellergan. Pinkas bảo tôi, “Một cảnh tượng thật buồn. Ông ấy chỉ nói có mấy câu, đại loại là: Vậy là con tôi đã chết… mà tôi cứ tiết kiệm từ bấy tới giờ để con tôi có điều kiện đi học đại học. Anh biết không, ngày hôm sau, có năm Nola giả đã xuất hiện trước cửa nhà ông ấy để định lấy tiền. Ông già đáng thương hoàn toàn mất phương hướng. Chúng ta đang sống ở một thời đại thực sự điên loạn: trái tim con người chứa đầy cứt đái, Marcus ạ. Đấy là ý kiến chủ quan của tôi thôi”

– Thế cha của Nola, ông ấy thường làm thế à, bật nhạc to hết cỡ ấy? Tôi hỏi.

– Đúng vậy, thường xuyên. Anh biết đấy, còn về Harry… hôm qua, trong thành phố, tôi có gặp bà Quinn.

– Bà Quinn ư?

– Đúng, trước kia, bà ấy là chủ tiệm Clark’s. Bà ấy kể cho tất cả mọi người rằng từ lâu bà ấy đã biết chuyện Harry để ý đến Nola… Bà ấy bảo có bằng chứng chắc chắn.

– Bằng chứng nào vậy? Tôi hỏi.

– Tôi hoàn toàn không biết.

– Thế anh có tin tức gì về Harry không?

– Ngày mai, cháu sẽ đi thăm ông ấy.

– Cậu chuyển giúp lời chào của tôi cho ông ấy nhé.

– Bác cứ đi thăm ông ấy nếu muốn… Ông ấy sẽ rất vui đấy.

– Tôi không chắc có thật sự muốn thăm hay không.

Tôi biết rằng ông Pinkas suốt đời là công nhân của một xưởng dệt may ở Concord, nghỉ hưu vào độ tuổi bảy mươi lăm, cả đời chẳng được học hành gì nên lúc nào cũng hối tiếc, không bao giờ có thể nguôi ngoai niềm say mê đối với sách vở nhưng cũng chỉ có thể làm thủ thư tình nguyện cho thư viện thành phố. Pinkas tỏ thái độ biết ơn vô hạn đối với Harry khi Harry cho ông ấy được miễn phí vào dự các buổi giảng về văn chương của thầy ở trường đại học Burrows. Vậy nên tôi luôn coi ông Pinkas là người ủng hộ Harry một cách trung thành nhất, vậy mà, bây giờ ngay cả ông ấy cũng giữ khoảng cách với Harry.

– Anh biết đấy, ông ấy nói với tôi, Nola là một bé gái đặc biệt dịu dàng, tốt bụng với tất cả mọi người. Ở đây ai ai cũng yêu quý cô bé, coi nó như con gái của chính mình vậy. Thế mà làm sao Harry lại có thể… Ý tôi là, ngay cả khi ông ta không phải là người giết Nola, nhưng lại viết một cuốn truyện như vậy cho Nola! Tóm lại là, mẹ kiếp! Nola mới có mười lăm tuổi! Vẫn còn là đứa trẻ nít! Yêu đến mức viết hẳn một cuốn sách như vậy ư? Một cuốn truyện tình! Tôi cưới vợ đã được năm mươi năm nay nhưng không bao giờ tôi phải viết cho vợ tôi cuốn sách như thế.

– Nhưng cuốn sách đó là một tuyệt tác.

– Cuốn sách đó là một thứ quỷ quái. Một cuốn sách đồi trụy. Tôi vứt hết đống sách đó rồi. Ai cũng quá bức xúc.

Tôi thở dài, không trả lời. Không muốn tranh luận với ông ấy, tôi chỉ hỏi:

– Bác Erne này, liệu cháu có thể cho chuyển một bưu kiện tới đây được không? Tới thư viện này?

– Một bưu kiện à? Tất nhiên rồi. Tại sao?

– Cháu cần một thứ rất quan trọng đang để ở nhà nên phải nhờ bà giúp việc gửi chuyển phát nhanh tới đây. Nếu bác cho phép được gửi tới chỗ bác thì tốt quá vì không mấy khi cháu ở nhà ở Goose Cove. Hơn nữa, cái thùng thư ở đó chật ních những bưu phẩm bẩn thỉu… Ít nhất, khi gửi về đây thì sẽ đảm bảo hơn.

Thùng thư ở Goose Cove thể hiện rõ tình hình nổi tiếng của Harry: toàn bộ nước Mỹ, sau khi đã chiêm ngưỡng và tôn thờ ông, thì nay lại quay ra réo tên ông la ó và tới tấp tung vào đó những bức thư thóa mạ. Xì căng đan lớn nhất trong lịch sử ngành xuất bản đã xảy ra: Nguồn gốc cái xấu xa từ nay hoàn toàn biến mất khỏi các giá trưng bày trong hiệu sách và bị xóa tên khỏi chương trình giảng dạy ở trường học. Tạp chí Boston Globe cũng chấm dứt hợp tác với Harry, còn ban Quản trị trường đại học Burrows thì kí quyết định có hiệu lực tức thời đuổi Harry khỏi chức vụ công tác. Từ đó, báo chí không còn ngần ngại khi miêu tả Harry như một loại động vật nặng dục tính; ông là đối tượng của mọi cuộc trò chuyện và mọi lời đàm tiếu. Roy Barnaski, đánh hơi được một cơ hội kinh doanh không thể bỏ lỡ vì bất kì lí do nào, khăng khăng ý đồ xuất bản sách liên quan đến vụ việc này. Vì Douglas không thuyết phục được tôi, nên rốt cuộc Roy Barnaski đích thân gọi điện thoại nhằm dạy tôi một bài học nhỏ về kinh tế thị trường:

– Dân chúng muốn cuốn sách này, ông ta giảng giải. Hãy nghe tôi đi, ngay cả dưới tòa nhà của tôi cũng sẽ có cả đám đông hâm mộ căng biểu ngữ viết tên anh cho xem.

Ông ta chum tay làm loa phát thanh và ra hiệu cho đám trợ lí đồng loạt hô to trong điện thoại: Gold-man! Gold-man! Gold-man!

– Họ không phải là những người hâm mộ tôi Roy ạ, họ là những người trợ lí của ông thôi. Xin chào Marisa.

– Chào anh Marcus, Marisa trả lời.

Barnaski lại cầm lấy điện thoại.

– Tóm lại, hãy cố gắng suy nghĩ một chút, anh Goldman: chúng ta sẽ xuất bản cuốn sách này vào mùa thu. Chắc chắn là thành công! Một tháng rưỡi để viết cuốn sách đó, anh có thấy như vậy là rất hợp lí không?

– Một tháng rưỡi á? Tôi từng mất hai năm để viết cuốn đầu tiên. Hơn nữa, tôi còn chưa biết sẽ kể cái gì, chưa ai biết thực sự chuyện gì đã xảy ra.

– Anh biết gì không, tôi sẽ cung cấp các nhà văn ma[1] cho nhanh. Với lại, cũng không cần phải viết cái gì cao cấp: dân chúng chỉ nóng lòng muốn biết Harry Quebert làm gì đứa bé gái đó. Cứ viết văn trần thuật thôi là quá tốt rồi, kết hợp với kĩ thuật bỏ lửng, thêm ít nhiều chi tiết giật gân là quá đủ, và tất nhiên là cũng nên kèm thêm một tí sex vào.

– Sex á?

– Thôi đi nào, Goldman, tôi chả cần phải dạy anh cách hành nghề của chính anh: ai người ta thèm mua sách nếu không có những cảnh đồi trụy giữa lão già cốc đế với đứa trẻ con bảy tuổi? Đấy chính là thứ mà công chúng cần. Ngay cả khi cuốn sách không thú vị gì, mình vẫn có thế bán được cả tấn. Đấy mới là điều quan trọng, phải không?

– Harry mới ba mươi tư tuổi còn Nola mười lăm!

– Thôi đi, đừng có cứng nhắc như vậy… Nếu anh viết cuốn sách này, tôi sẽ hủy hợp đồng trước của anh và thêm vào đó , tôi sẽ ứng trước cho anh cả nửa triệu đô la để cảm ơn anh về việc hợp tác.

Tôi từ chối thẳng thừng ngay lập tức làm cho Barnaski phát cáu:

– Thế được, tại anh thích chơi xấu đấy nhé anh Goldman, thì tôi cũng sẽ đối xử với anh tương tự: tôi đợi anh nộp cho tôi bản thảo viết tay trong vòng chính xác là mười một ngày, nếu không anh sẽ phải ra tòa và phá sản là chắc chắn!

Ông ta hung dữ dập luôn điện thoại. Sau đó, khi đang mua sắm mấy thứ lặt vặt trong cửa hàng bách hóa trên phố chính, tôi nhận được cú điện thoại của Douglas, chắc chắn Douglas đã bị chính Barnaski cảnh báo nên gọi điện hòng cố gắng thuyết phục tôi:

– Marc à, cậu không thể làm khó dễ trong chuyện này được nhé, - Douglas nói. - Tớ báo cho cậu biết là Barnaski nắm chắc hai quả cà của cậu rồi đó! Bản hợp đồng trước vẫn có giá trị hiệu lực và biện pháp duy nhất để cậu hủy nó là chấp nhận lời đề nghị của ông ta. Rồi cuốn sách này sẽ làm cho sự nghiệp của cậu một lần nữa vang dội rực rỡ. Món ứng trước tận nửa triệu đô la, cậu còn phàn nàn gì nữa nào?

– Barnaski muốn mình viết truyện theo thể loại ba hoa bịa đặt! Không bao giờ có chuyện đó, Douglas ạ. Mình không muốn có cuốn sách như vậy, mình không viết một cuốn truyện để rồi bị vứt vào thùng rác sau vài tuần. Để có sách hay, phải có thời gian!

– Nhưng đây là phương pháp hiện đại để tăng doanh số! Các nhà văn chỉ giỏi mơ mộng viễn vông, chờ tuyết rơi trong khi lang thang tìm cảm hứng, thời đó qua rồi! Sách của cậu còn chưa được viết lấy nửa dòng, nhưng vị trí của nó đã được khẳng định rồi vì tất cả mọi người đều muốn đọc từ đầu tới cuối nội dung câu chuyện. Đọc ngay lập tức. Lối ngỏ thị trường rất là hạn hẹp: mùa thu này sẽ có bầu cử tổng thống và chắc chắn các ứng cử viên sẽ xuất bản sách vận động, những cuốn sách đó sẽ hoàn toàn chiếm chỗ trên các phương tiện truyền thông.

Tôi không còn tin vào điều gì nữa. Tôi thanh toán những món đồ đã chọn và quay trở ra xe ô tô đậu ngoài phố. Đúng lúc đó, tôi nhìn thấy mẩu giấy được gài vào sau cần gạt nước. Lại vẫn thông điệp đó:

Hãy trở về nhà, Goldman.

Tôi nhìn xung quanh: không có ai. Một vài người đang ngồi uống nước ở bàn trên vỉa hè gần đó, vài khách hàng bước ra từ cửa hàng bách hóa. Ai đã bám theo tôi? Ai là người theo dõi tôi điều tra về cái chết của Nola Kellergan?

* * *

Ngày hôm sau khi xảy ra sự việc trên, thứ sáu ngày 20 tháng Sáu, tôi trở lại thăm Harry trong nhà tù. Trước khi rời Aurora, tôi rẽ qua thư viện nơi tôi nhờ nhận bưu kiện.

– Cái gì thế? Pinkas tò mò hỏi khi nhìn thấy tôi mở gói bưu kiện.

– Một dụng cụ mà cháu cần.

– Dụng cụ gì thế?

– Dụng cụ làm việc. Cảm ơn bác đã nhận giúp cháu, bác Erne.

– Đợi đã, thế cậu không muốn uống một li cà phê à? Tôi vừa mới pha đây. Cậu có cần kéo để mở không?

– Cảm ơn bác Erne. Để lần khác cháu sẽ đến uống cà phê nhé. Cháu phải đi rồi.

Khi đến Concord, tôi quyết định rẽ qua trụ sở cảnh sát bang để đi tìm ông trung sĩ Gahalowood trình báo vài giả thuyết mà tôi phác thảo ra từ sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của chúng tôi.

Trụ sở cảnh sát của bang New Hampshire, nơi đóng trụ sở của đội cảnh sát chống tội phạm là một tòa nhà lớn xây bằng gạch đỏ nằm ở số 33 Hazen Drive, trung tâm thị trấn Concord. Lúc đó là gần 13 giờ; tôi được thông báo rằng Gahalowood ra ngoài ăn trưa và được mời ngồi đợi trong hành lang, trên ghế dài, cạnh chiếc bàn có đặt máy bán cà phê và một số tạp chí. Một tiếng sau, khi anh ta quay về, khuôn mặt hằn vẻ khó chịu.

– Là anh à? Anh ta gần như hét lên khi nhìn thấy tôi. Tôi bị người ta gọi về nói rằng: Perry, mau lên, có một tay đang đợi anh cả tiếng đồng hồ rồi, thế là tôi phải bỏ dở bữa cơm vội vàng chạy về đây xem có chuyện gì quan trọng xảy ra, nhưng rốt cuộc thì tôi phải tiếp một tay nhà văn!

– Đừng có giận tôi… Tôi nghĩ rằng chúng ta đã xuất phát trên những cơ sở giả định sai lầm và có thể…

– Tôi rất ghét anh, nhà văn ạ, nhớ đấy, tôi chỉ nói một lần thôi. Vợ tôi đã đọc cuốn sách của anh: cô ấy khen anh đẹp trai, thông minh. Cái mặt anh, in ở đằng sau cuốn sách ấy, nằm chễm trệ trên bàn trong phòng ngủ riêng của vợ chồng tôi hàng mấy tuần liền. Anh được chung sống trong phòng ngủ của vợ chồng tôi! Anh ngủ chung với chúng tôi! Anh ăn tối với chúng tôi! Anh đi nghỉ mát cùng chúng tôi! Anh tắm chung bồn tắm với vợ tôi! Toàn bộ đám bạn gái của vợ tôi ai cũng ngưỡng mộ anh! Anh phá hoại cuộc sống của tôi!

– Anh cũng đã cưới vợ cơ à trung sĩ? Điên thật đấy, con người anh khó chịu đến mức tôi đã thề là chắc chắn chẳng có ai thèm kết hôn với anh.

Anh ta tức giận thụt sâu cái đầu vào trong cái cằm béo bổ đôi:

– Chúa ơi, vậy thì anh muốn gì? Tay trung sĩ gầm gừ như chó sủa.

– Muốn hiểu.

– Quá tham vọng với loại người như anh.

– Tôi biết.

– Làm ơn để cho cảnh sát làm việc.

– Tôi cần có thông tin thưa trung sĩ. Tôi muốn biết hết mọi chuyện. Thật là bệnh hoạn, nhưng tôi là người cả lo nên tôi cần phải chi phối được mọi điều xảy ra.

—Thế thì được, chi phối đi, cứ chi phối cái bản thân anh cái đã!

– Ta có thể vào phòng làm việc của anh được không?

– Không.

– Hãy nói cho tôi biết, chỉ một điều thôi, có phải Nola đã chết vào độ tuổi mười lăm không?

– Đúng vậy. Các phân tích về bộ hài cốt đã khẳng định điều này.

– Vậy thì cô ta đã bị bắt và bị giết vào cùng một thời điểm?

– Đúng vậy.

– Nhưng còn chiếc túi… Tại sao cô ta lại bị chôn cùng với chiếc túi?

– Tôi chịu.

– Vậy nếu như cô ta có túi, có thể chúng ta buộc phải nghĩ rằng cô ta muốn bỏ nhà? Nếu anh định chuẩn bị một cái túi để bỏ nhà đi, thì anh phải nhét đầy quần áo vào cái túi đấy đúng không nào?

– Chính xác.

– Thế mà trong cái túi đấy chỉ có mỗi cuốn sách.

– Anh đã ghi được một điểm, tôi nói. Trí thông minh sắc sảo của anh làm tôi lóa mắt. Nhưng chiếc túi này…

Anh ta ngắt lời tôi:

– Nhẽ ra hôm trước tôi không nên nói với anh về chuyện cái túi này. Tôi không hiểu lúc đấy tôi bị làm sao…

– Tôi cũng không biết.

– Tôi nghĩ tại lòng thương hại. Đúng, chính thế đấy: anh đã khiến tôi thương hại anh bằng vẻ mặt ngơ ngác và đôi giầy lấm đầy bùn.

– Cảm ơn anh. Cho phép tôi được hỏi tiếp: anh có thể cung cấp cho tôi biết thêm vài thông tin về việc phân tích xác chết được không? Với lại, không biết người ta có gọi là phân tích xác chết khi phân tích một bộ xương không nhỉ?

– Tôi chả biết gì hết.

– Không biết liệu thuật ngữ khám nghiệm pháp y có chính xác hơn không nhỉ?

– Mặc kệ các thuật ngữ chính xác, tôi không quan tâm. Điều tôi có thể nói cho anh biết, đó là người ta đã đập vỡ hộp sọ cô ta! Bộp! Bạp! Bạp!

Vì vừa nói anh ta vừa bắt chước âm thanh những cú đập vào đầu, nên tôi hỏi:

– Nghĩa là họ đập vào đầu bằng một miếng bạt à?

– Tôi không biết, anh là đồ làm phiền ngu ngốc!

– Đàn bà hay đàn ông?

– Cái gì?

– Liệu phụ nữ có thể đập được những cú như vậy không? Tại sao nhất thiết phải là đàn ông cơ chứ?

– Tại vì vào thời kì đó, nhân chứng là bà Deborah Cooper đã chính thức nhận dạng rằng kẻ sát nhân là đàn ông. Thôi đủ rồi đấy, cuộc đối thoại này đến đây chấm dứt, nhà văn ạ. Anh làm tôi bực mình quá.

– Thế còn anh, bản thân anh nghĩ gì về toàn bộ chuyện này?

Anh ta rút trong ví ra tấm ảnh gia đình.

– Tôi có hai con gái, nhà văn ạ. Một đứa mười bốn và một đứa mười bảy tuổi. Tôi không thể tưởng tượng được mình có thể sống sót qua sự kiện mà cha Kellergan đã phải trải qua. Tôi muốn biết sự thật. Tôi muốn có công lý. Công lý không phải là tổng hợp tất cả những sự kiện đơn giản: đó là một công việc phức tạp hơn nhiều. Vậy nên tôi phải tiếp tục cuộc điều tra. Nếu như tôi phát hiện ra Quebert vô tội, hãy tin tôi rằng ông ta sẽ được thả tự do. Nhưng nếu ông ta là tội phạm, thì hãy tin chắc rằng tôi sẽ không đời nào để cho Roth lừa bịp quan tòa một lần nữa dù cho Roth biết bí quyết thả tội phạm. Điều đó sẽ không xảy ra thêm một lần nữa, vì đó không phải là công lý.

Với vẻ của con bò dại đang lên cơn, Gahalowood lại có triết lý làm tôi rất vui lòng.

– Suy cho cùng về bản chất thì anh là người tốt bụng, trung sĩ ạ. Tôi sẽ trả tiền bánh rán, chúng ta vừa ăn vừa nói chuyện tiếp chứ?

– Tôi không muốn ăn bánh rán, tôi muốn anh biến ngay khỏi đây. Tôi còn phải làm việc.

– Nhưng anh phải báo cho tôi biết điều tra thì phải làm gì. Tôi không biết điều tra. Thế tôi phải làm thế nào?

– Tạm biệt nhà văn. Tôi gặp anh hôm nay thế là đủ cho cả tuần rồi đấy nhé. Mà có khi đủ cho cả đời tôi nữa rồi cũng nên.

Thất vọng vì không được đánh giá nghiêm túc, tôi cũng không muốn nài nỉ nữa. Tôi chìa tay ra để chào anh ta, bằng những ngón tay to béo, anh ta bóp tay tôi một cách tàn bạo, thế rồi tôi quay lưng bước đi. Nhưng khi ra đến bãi đậu xe phía ngoài, tôi nghe thấy anh ta hét với theo: “Nhà văn!” Tôi quay lại và thấy trung sĩ đang lê tấm thân to lớn về phía tôi.

– Nhà văn, khi đã đuổi kịp tôi, anh ta vừa nói vừa thở hổn hển. Cảnh sát giỏi là người không quan tâm tới kẻ sát nhân… mà quan tâm tới nạn nhân. Anh phải điều tra về hướng nạn nhân. Cần phải bắt đầu từ lúc trước khi xảy ra vụ giết người. Chứ không phải bắt đầu từ cuối câu chuyện. Anh đã đi lạc đường khi cứ tập trung vào vụ án. Anh phải tự đặt câu hỏi ai là người bị giết… Anh phải tự hỏi ai là Nola Kellergan…

– Và Deborah Cooper?

– Nếu anh muốn biết quan điểm của tôi, thì theo tôi, tất cả đều liên quan tới Nola. Deborah Cooper chỉ là một nạn nhân bất đắc dĩ kéo theo sau đó. Hãy tìm cho ra Nola Kellergan là ai thì anh sẽ tìm thấy thủ phạm giết cô bé và bà mẹ Cooper cùng một lúc.

* * *

Nola Kellergan là ai? Đó là câu hỏi mà tôi cũng định hỏi Harry khi tôi quay trở lại thăm ông ở nhà tù. Sắc mặt Harry không được tốt cho lắm. Ông có vẻ rất lo lắng vì những thứ trong ngăn để đồ của mình ở phòng tập thể hình.

– Anh tìm thấy hết chứ? Còn chưa kịp chào nhau thì ông đã hỏi ngay.

– Vâng, thấy hết.

– Rồi anh đã đốt hết chứ?

– Vâng, đã đốt hết.

– Cả bản thảo chứ?

– Cả bản thảo.

– Tại sao anh lại không báo cho tôi biết? Tôi lo đến chết mất! Thế hai ngày vừa rồi, anh ở đâu?

– Em bận điều tra. Thầy Harry, tại sao cái hộp đó lại được cất trong tủ đựng đồ ở phòng tập?

– Tôi biết là anh thấy điều này hơi bất thường… Sau chuyến thăm của anh tới Aurora vào tháng Ba, tôi sợ có ai đó nữa thấy chiếc hộp. Tôi nghĩ bất kì ai cũng có thể thấy nó, chẳng hạn như một vị khách tò mò hay người giúp việc. Tôi cho rằng cất giấu các kỉ niệm của tôi ở chỗ khác sẽ là cẩn trọng hơn.

– Thầy giấu chúng đi à? Nhưng điều đó biến thầy thành tội phạm. Còn tập bản thảo… đó chính là bản thảo của cuốn Nguồn gốc cái xấu xa phải không ạ?

– Đúng vậy. Đó là bản đầu tiên.

– Em cũng nhận ra nội dung. Bên ngoài không có tựa đề.

– Tôi lấy tựa đề sau khi chuyện đó xảy ra.

– Ý thầy là sau khi Nola mất tích?

– Đúng vậy. Thôi đừng nói về bản thảo đó nữa, Marcus. Nó thật đáng nguyền rủa, nó chỉ mang đến cho tôi những nỗi bất hạnh, bằng chứng đó: Nola đã chết còn tôi thì ở tù.

Chúng tôi nhìn nhau giây lát. Tôi để lên bàn chiếc túi nhựa bên trong có gói bưu kiện tôi vừa nhận được.

– Cái gì vậy? Harry hỏi.

Tôi không trả lời, mở túi lấy ra chiếc máy chạy đĩa nhỏ có cắm micro cho phép ghi âm. Tôi đặt trước mặt Harry.

– Marcus, mẹ kiếp, anh làm cái trò gì thế? Đừng có nói là anh giữ cái máy quỷ quái này đấy nhé…

– Tất nhiên chứ thầy Harry, em luôn gìn giữ nó rất cẩn thận.

– Làm ơn cất đi cho tôi nhờ.

– Đừng tỏ thái độ khó chịu như vậy thầy Harry…

– Nhưng anh muốn làm cái mẹ gì với cái máy quỷ quái này?

– Em muốn thầy nói với em về Nola, về Aurora, về tất cả. Về mùa hè năm 1975, về cuốn sách của thầy. Em cần biết. Sự thật phải được giấu ở đâu đó.

Thầy Harry cười buồn bã. Tôi bật máy ghi âm và để cho ông nói. Cảnh tượng thật đẹp: giữa nhà giam, ở chính nơi thăm tù nhân, cạnh những bộ bàn ghế bằng nhựa, những người chồng gặp vợ, những người cha gặp con cái, tôi gặp người thầy của mình để nghe ông kể toàn bộ chuyện riêng.

Tối hôm đó, trên đường trở về Aurora, tôi ăn cơm sớm. Sau đó, vì không muốn về luôn Goove Cove để chịu cảnh một thân một mình trong căn nhà rộng trống trải, tôi lái xe chạy dọc theo bờ biển. Ngày tàn dần, mặt đại dương sáng lấp lánh: khung cảnh thật diệu kì. Tôi đi qua nhà nghỉ Sea Side, qua khu rừng Side Creek, đường Side Creek, Goove Cove, tôi đi qua Aurora rồi đến bãi biển Grand. Tôi xuống xe đi bộ tới tận mép nước, rồi ngồi xuống những viên đá cuội tận hưởng cảnh màn đêm thanh bình đang dần buông. Ánh sáng ở Aurora nhảy nhót từ xa trong ngàn tia lấp lánh của những đợt sóng; chim mòng biển hét lên những tiếng chói tai, những chú họa mi hát ngọt ngào trong những bụi cây xung quanh, tôi còn nghe thấy những tiếng còi của ngọn hải đăng. Tôi bật máy ghi âm, giọng Harry vang lên trong bóng tối:

Anh biết bãi tắm Grand chứ Marcus? Đấy là bãi biển đầu tiên của thành phố Aurora khi tôi đến từ Massachusetts. Thỉnh thoảng tôi đến đó khi hoàng hôn buông xuống để ngắm nhìn ánh sáng thành phố. Tôi nghĩ đến tất cả những điều xảy ra từ ba mươi năm nay. Bãi biển này chính là nơi tôi dừng chân vào ngày tôi đến Aurora. Đó là ngày 20 tháng Năm năm 1975. Lúc ấy tôi ba mươi tư tuổi. Tôi từ New York tới, và vừa mới quyết định tự tay nắm lấy số phận mình: tôi đã trút bỏ tất cả, bỏ dạy Văn, gom toàn bộ số tiền tiết kiệm được quyết thử vận may để trở thành nhà văn: tự cách li mình ở New England để viết cuốn tiểu thuyết mà tôi hằng mơ ước.

Mới đầu tôi định thuê nhà ở Maine, nhưng một nhân viên bất động sản ở Boston đã thuyết phục tôi thử lựa chọn Aurora. Anh ta kể cho tôi nghe về một ngôi nhà như trong mộng hoàn toàn phù hợp với cái tôi đang tìm kiếm: đó chính là Goose Cove. Vào đúng giây phút tôi đặt chân tới trước ngôi nhà này, tôi đã phải lòng nó ngay lập tức. Đây chính là nơi mà tôi cần: một nơi ở tách biệt yên tĩnh, hoang dại, nhưng cũng không phải là hoàn toàn biệt lập, vì chỉ cách Aurora có mấy dặm thôi. Vả lại tôi cũng vô cùng thích thành phố Aurora. Cuộc sống ở đây có vẻ rất nhẹ nhàng, trẻ con chơi đùa trên đường phố hoàn toàn vô lo, tỉ lệ tội phạm hoàn toàn không tồn tại; đó là một nơi đẹp như trong tranh. Ngôi nhà ở Goose Cove vượt xa khả năng chi trả của tôi nhưng công ty tư vấn bất động sản chấp nhận cho tôi trả làm hai đợt. Tôi tính rằng nếu không tiêu hoang phí quá, tôi vẫn sẽ có thể sống được. Hơn nữa, tôi có linh cảm rất lành, có cảm giác mình chọn đúng. Tôi đã không nhầm, bởi vì quyết định này đã làm thay đổi cả cuộc đời tôi: cuốn sách tôi viết mùa hè năm đó giúp tôi trở thành người giàu có và nổi tiếng.

Tôi cho rằng, điều khiến tôi thích thú đến thế ở Aurora chính là cái vị thế mà tôi đã nhanh chóng được hưởng: ở New York, tôi chỉ là một thầy giáo cấp ba, một nhà văn vô danh, nhưng ở Aurora, tôi là Harry Quebert, nhà văn từ New York về để viết tiểu thuyết. Anh biết đấy, Marcus, lại là câu chuyện về “Siêu Nhân”, giống như anh lúc ở trường cấp ba vậy và chính anh cũng đã rất hài lòng khi có thể làm biến đổi mối quan hệ tương quan giữa bản thân mình với những người khác để tỏa sáng: chính điều này cũng xảy ra với tôi khi ở Aurora. Tôi là người tự tin, lịch thiệp, trẻ khỏe, vạm vỡ, đẹp trai và có học thức, hơn nữa lại còn sống trong dinh thự đẹp như mộng ở Goose Cove. Dân tình ở Aurora, dù không biết tên tôi, nhưng căn cứ vào cơ ngơi tôi ở, phong cách sống và thái độ của tôi, thì nghĩ rằng tôi là người thành công trong cuộc sống. Không phải cần thêm gì nữa để dân chúng ở đây nghĩ tôi là siêu sao New York: rồi ngày một ngày hai tôi nhanh chóng trở thành người có tên tuổi. Chính ở Aurora mà tôi trở thành nhà văn được kính trọng ở New York! Tôi cung cấp cho thư viện thành phố vài cuốn truyện đầu tiên của tôi vẫn còn giữ, và anh biết không, cái mớ giấy đáng thương từng bị cả New York coi thường thì ở Aurora đã thổi bùng lên những say mê. Đó là năm 1975, một thành phố bé tí tẹo của bang New Hampshire, đang nỗ lực tìm ra một điều gì đó đáng tự hào để khẳng định sự tồn tại của mình, thì vào thời kì đó, trước khi có internet và công nghệ thông tin hiện đại, đã tìm ra ở tôi một ngôi sao mà nó hằng mong ước.

* * *

Tôi trở về Goose Cove vào khoảng 23 giờ. Khi rẽ vào con đường nhỏ rải đá dẫn vào nhà, tôi bỗng thấy luồng sáng đèn pha ô tô quét vào một bóng người vội vàng lẩn trốn vào rừng. Tôi phanh gấp, nhảy bổ ra khỏi ô tô hét lớn, chạy thục mạng đuổi theo bóng kẻ đột nhập. Chính lúc đó, tôi phát hiện ánh sáng hừng hực đập vào mắt tôi một đám cháy ở gần nhà. Tôi chạy lại xem điều gì xảy ra: chiếc xe Corvette của Harry đang bốc cháy. Ngọn lửa bốc lên cao lắm rồi, một cột khói nâu cuộn ngút lên tận trời. Tôi hô hoán nhưng không ai trả lời. Chỉ có rừng rậm vây bọc xung quanh. Cửa kính chiếc Corvette bùng nổ trước sức nóng của ngọn lửa, lớp kim loại bắt đầu chảy ra, lửa bùng cháy dữ dội gấp đôi so với trước, liếm lên cả tường nhà xe. Tôi không còn làm được gì hơn nữa. Tất cả sẽ bị thiêu rụi.

❀ ❀ ❀

[1] Thuật ngữ “Nhà văn ma” lấy lại từ tiếng Anh Ghost Writer, để chỉ một người “lùn” trong văn chương, tức là một nhà văn viết dưới tên một nhà văn khác. Bằng cách sáng tạo ra từ Ghost Writer, những người nói tiếng Anh đã biết ý thức được sự bạo tàn trong chức năng này đối với người sử dụng nó (chú thích của tác giả).

tác: The Truth About the Harry Quebert Affair ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Phụ Nữ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.