“Anh thấy không Marcus, xã hội của chúng ta được xây dựng theo cách mà lúc nào chúng ta cũng phải lựa chọn giữa lý trí và đam mê. Lý trí không bao giờ có lợi cho ai cả còn đam mê thường xuyên mang tính hủy hoại. Do đó, tôi rất khó khăn khi giúp anh.
– Tại sao thầy lại nói như vậy với em?
– Vậy đấy. Cuộc đời là một trò bịp.
– Thầy có ăn khoai tây rán nữa không?
– Không. Nếu muốn, anh cứ ăn đi.
– Cảm ơn thầy.
– Anh thật sự không để ý tới điều tôi nói à?
– Có chứ ạ, em để ý lắm mà. Em nghe thầy chăm chú đấy chứ. Chương 14: cuộc đời là một trò bịp.
– Lạy Chúa, Marcus, anh chẳng hiểu gì cả. Đôi khi tôi có cảm giác mình đang trò chuyện với kẻ đần.”
16 giờ
Một ngày tuyệt đẹp. Một thứ Bảy cuối hè ngập tràn ánh nắng, tắm đẫm Aurora trong bầu không khi thanh bình. Tại trung tâm thành phố, mọi người đi dạo thư thái, dừng lại trước những tủ kính ngắm nghía và tận hưởng nốt những ngày đẹp cuối cùng trong năm. Trên đường phố giữa các khu dân cư, không hề có một bóng xe ô tô, nhưng lại có hàng đàn trẻ con đua xe đạp, trượt patanh trong khi các bậc cha mẹ ngồi trước cổng nhà vừa nhấm nháp cốc nước chanh đường vừa đọc báo.
Đây là lần thứ ba trong vòng chưa đầy một tiếng đồng hồ, Travis Dawn lái xe cảnh sát đi tuần khu dân cư ở Terrace Avenue và ngang qua ngôi nhà của gia đình họ Quinn. Buổi chiều yên tĩnh tuyệt đối; không có báo động cũng không có cuộc gọi nào từ ban chỉ huy. Anh kiểm tra giấy tờ một vài lái xe tải đường dài nhưng đầu óc chỉ nghĩ về Jenny. Hai cha con cô đang ngồi ở hiên trước. Họ ở đó suốt buổi chiều chơi trò điền từ vào ô trống, trong khi bà Tamara hí hoáy tỉa những khóm hoa khổng lồ trước nhà để chuẩn bị cho mùa thu. Khi đến gần ngôi nhà, Travis cố tình đi thật chậm, hi vọng Jenny sẽ để ý, quay đầu lại và nhìn thấy anh, rồi cô sẽ giơ tay vẫy anh, một cử chỉ thân mật. Anh sẽ có cớ dừng lại giây lát chào cô qua cửa kính ô tô kéo xuống. Thậm chí, cô có thể còn mới anh cốc trà ướp lạnh và họ sẽ nói dăm ba câu chuyện với nhau. Nhưng Jenny không quay đầu lại, cũng không nhìn thấy anh. Cô cười với cha mình, có vẻ hạnh phúc. Travis lái xe đi tiếp và dừng lại cách đó hơn chục mét, ngoài tầm nhìn của gia đình họ Quinn. Anh nhìn bó hoa đặt trên ghế ngồi phía sau, rút giấy ra bắt đầu viết những điều muốn nói:
Chào Jenny. Hôm nay thật đẹp. Nếu tối nay em rảnh, chúng ta có thể cùng đi đạo trên bãi biển được không. Thậm chí, chúng ta có thể đi xem chiếu bóng. Ở Montburry có chiếu phim mới (đưa cho cô ấy bó hoa).
Đề nghị cô ấy đi đạo và đi xem phim. Dễ dàng là vậy nhưng Travis lại không dám bước xuống ô tô. Anh ta vội vàng nổ máy và tiếp tục đi tuần trên con đường khiến anh phải đi qua nhà gia đình Quinn cách đây hai mươi phút. Travis cất gọn gàng những bông hoa trên ghế phía sau để không ai nhìn thấy. Đó là những bông hồng dại mọc bên bờ hồ gần Montburry mà Erne Pinkas chỉ. Thoạt nhìn, chúng có vẻ không đẹp bằng những bông hồng trồng ở nhà nhưng màu sắc lại rực rỡ gấp vạn lần. Travis luôn mong muốn rủ Jenny đến đó; thậm chí anh còn dựng lên cả một kế hoạch. Anh sẽ bịt mắt cô, rồi lái xe đưa cô đến tận mảnh đất mọc đấy hồng dại, sau đó mới cởi khăn che mắt để hàng nghìn màu sắc rực rỡ hiển hiện trước Jenny như màn bắn pháo hoa. Sau đó, cả hai sẽ ăn pic nic bên bờ hồ. Nhưng Travis chưa bao giờ có đủ can đảm để đề nghị cô điều đó. Lúc này, anh đang chạy xe trên Terrace Avenue, đi qua ngôi nhà của gia đình Kellergan, nhưng không chú ý đến nó một chút nào. Đầu óc anh đang để ở chỗ khác.
Mặc dù trời đẹp, nhưng ông mục sư chỉ ở trong xưởng suốt buổi chiều để sửa chiếc xe Harley Davidson cũ kĩ, ông hi vọng sẽ bắt nó phải lăn bánh được vào một ngày nào đó. Theo báo cáo của cảnh sát Aurora thì ông chỉ rời xưởng để đi uống nước và mỗi khi như vậy, ông đều nhìn thấy Nola đọc sách rất chăm chú trong phòng khách.
* * *
17 giờ 30
Trời càng tối, trung tâm thành phố càng vắng vẻ hơn, trong các khu dân cư, trẻ con cũng về nhà chuẩn bị ăn tối, trước cổng nhà, chỉ còn lại những chiếc ghế đẩu vắng người và những tờ báo lộn xộn. Cảnh sát trưởng Gareth Pratt, đang nghỉ phép, còn vợ của ông ta là Amy, đang trên đường về nhà sau khi ghé chơi nhà mấy người bạn ở ngoại ô gần như suốt cả ngày. Cùng thời điểm đó, gia đình nhà Hattaway trong đó có cả Nancy, hai người anh trai và bố mẹ của cô đang trở về nhà ở Terrace Avenue, sau một buổi chiều nghỉ ngơi tại bãi biển Grand. Trong báo cáo của cảnh sát thì bà Hattaway, mẹ của Nancy, cho biết từ trong nhà gia đinh Kellergan, âm nhạc vọng ra với âm lượng chói tai.
Cách đó nhiều dặm, Harry đang trên đường tới nhà nghỉ Sea Side. Anh đăng kí ở phòng số 8 bằng tên giả, đồng thời thanh toán toàn bộ tiền phòng để khỏi phải xuất trình chứng minh thư. Trên đường tới nhà nghỉ Sea Side, anh còn dừng lại mua một bó hoa và đổ đầy xăng. Tất cả đã sẵn sàng. Chỉ còn một tiếng rưỡi nữa thôi. Thậm chí chưa đến. Ngay khi Nola tới, họ sẽ ăn mừng gặp mặt rồi đi ngay. Lúc 21 giờ, họ sẽ tới Canada rồi. Họ sẽ được ở bên nhau. Nàng sẽ không bao giờ cảm thấy bất hạnh nữa.
* * *
18 giờ
Bà Deborah Cooper, sáu mươi mốt tuổi, kể từ khi chồng chết, sống một mình trong ngôi nhà biệt lập ở bờ rừng Side Creek, đang ngồi bên bàn ăn trong phòng bếp nhào bột làm bánh táo. Gọt vỏ rồi cắt táo xong, bà vứt vài miếng qua cửa sổ cho bọn gấu mèo, và đứng phía sau của kính rình chúng tới. Đúng lúc ấy, bà thoảng nhìn thấy có bóng người chạy giữa những hàng cây: quan sát kĩ hơn, bà phát hiện rõ ràng một cô gái mặc váy đỏ đang bị một người đàn ông đuổi theo, sau đó họ bị những lùm cây che khuất. Bà vội vào phòng khách điện thoại khẩn cho cảnh sát. Báo cáo của cảnh sát ghi chép cú điện thoại của bà gọi tới ban chỉ huy vào lúc 18 giờ 21 phút. Cuộc gọi kéo dài 27 giây, nội dung như sau:
- Đây là trung tâm cảnh sát, xin lắng nghe vụ việc của quý vị.
- A lô, tôi là Deborah Cooper sống ở đường Side Creek. Hình như tôi vừa thấy một người đàn ông rượt đuổi một cô gái ở trong rừng.
- Xin bà hãy nói rõ hơn, sự việc xảy ra như thế nào?
- Tôi không biết! Tôi đang đứng ở cửa sổ nhìn về phía cánh rừng, thì thấy một cô gái chạy len lỏi giữa những hàng cây… Một người đàn ông chạy đuổi theo sau. Tôi nghĩ là cô gái ấy đang cố gắng thoát thân.
- Hiện tại họ ở đâu?
- Tôi… Tôi không nhìn thấy họ nữa. Họ đang trong rừng.
- Tôi sẽ cử một đội tuần tra đến ngay chỗ bà, thưa bà.
- Cám ơn ông, nhanh lên nhé!
Sau khi dập điện thoại, bà Deborah Cooper ngay lập tức quay trở lại cửa sổ phòng bếp. Bà không nhìn thấy gì nữa. Bà nghĩ có thể mình đã nhìn nhầm, mặc dù vậy, có cảnh sát đến kiểm tra khu vực này vẫn hơn. Bà đi ra cổng để đón đoàn tuần tra.
Trong bản báo cáo cũng ghi ban chỉ huy cảnh sát đã truyền thông tin cho cảnh sát ở Aurora. Cảnh sát duy nhất trực hôm đó là Travis Dawn. Anh có mặt ở đường Side Creek khoảng bốn phút sau cú điện cấp báo.
Sau khi nghe báo cáo nhanh tình hình, Travis lập tức tiến hành truy lùng trong rừng. Đi sâu vào rừng tầm chục mét tính từ hàng cây, anh tìm thấy mảnh vải màu đỏ. Nhận định tình hình có lẽ nghiêm trọng, Travis lập tức báo với Cảnh sát trưởng Pratt mặc dù ông đang nghỉ phép. Anh gọi điện thoại từ nhà bà Deborah Cooper. Lúc đó là 18 giờ 45 phút.
* * *
19 giờ
Cảnh sát trưởng Pratt nhận định vụ việc có vẻ nghiêm trọng nên đích thân ông đã tới tận nơi để tìm hiểu sự việc: Travis Dawn không bao giờ gọi điện tới nhà riêng tìm ông khi biết ông nghỉ phép nếu như tình hình không có gì đặc biệt.
Ngay khi tới đường Side Creek, ông ra lệnh cho bà Deborah Cooper đóng cửa ở trong nhà, còn ông ta và Travis Dawn cùng nhau lùng sục sâu hơn trong rừng. Họ tiến sâu vào rừng theo con đường nối dài từ bờ biển, đi theo hướng mà cô gái mặc váy đó nhiều khả năng đã gặp nạn. Trong báo cáo của cảnh sát có ghi, sau khi đi bộ được hơn một dặm, hai cảnh sát phát hiện ra vết máu và những lọn tóc vàng tại một khu vực rừng khá thưa thoáng hơn bình thường; giáp với bờ biển. Lúc đó là 19 giờ 30 phút.
Rõ ràng bà Deborah Cooper đã đứng ở cửa sổ phòng bếp cố gắng dõi theo hai cảnh sát. Khi họ vừa biến mất khỏi con đường mòn một lúc lâu thì bất chợt bà lại nhìn thấy cô gái xuất hiện trong rừng, váy rách bươm, mặt đầy máu, đang chạy vội về phía nhà bà kêu cứu. Bà Deborah Cooper hoảng hốt mở cửa bếp cho nạn nhân vào rồi vội vàng chạy vào phòng khách để gọi cảnh sát lần nữa.
Trong báo cáo của cảnh sát, bà Deborah Cooper gọi điện thoại lần hai đến ban chỉ huy trung tâm lúc 19 giờ 30 phút. Cuộc gọi kéo dài hơn 40 giây, nội dung được ghi lại như sau:
- Đây là trung tâm cảnh sát, xin lắng nghe vụ việc của quý vị!
- A lô? (giọng hoảng sợ). Tôi là Deborah Cooper, tôi… ban nãy tôi vừa gọi… để báo có một cô gái bị rượt đuổi trong rừng, bây giờ cô ấy đang trong bếp nhà tôi.
- Xin bà cứ bình tĩnh, chuyện gì xảy ra vậy?
- Tôi không biết gì hết! Cô ấy chạy từ rừng vào đây. Hơn nữa, lúc này có hai viên cảnh sát đang ở trong rừng, nhưng tôi nghĩ họ không nhìn thấy cô ấy! Tôi mở cửa cho cô ấy vào phòng bếp rồi. Tôi… tôi nghĩ cô ấy là con gái của ông mục sư… Tôi nghĩ chính là cô bé gái đang làm việc ở tiệm Clark’s…
- Địa chỉ nhà bà ở đâu?
- Deborah Cooper, đường Side Creek ở Aurora. Ban nãy, tôi đã gọi cho các ông một lần rồi! Cô bé ấy đang ở đây, ông hiểu rồi chứ? Mặt cô bé đầy máu! Tới đây nhanh lên!
- Được rồi, xin bà đợi chút. Tôi cử thêm tiếp viện đến ngay.
Cảnh sát trưởng Pratt và Travis đang lần tìm theo những vệt máu trong rừng thì bỗng nghe thấy những tiếng nổ chát chúa vang lên từ ngôi nhà. Không do dự lấy một giây, vũ khí trong tay, họ chạy ngược trở lại ngôi nhà.
Đúng lúc đó, tổng đài điện thoại của ban chỉ huy cảnh sát không thể nối máy được với cả Travis Dawn lẫn Cảnh sát trưởng Pratt. Họ nhận định tình hình đã thực sự nghiêm trọng, nên quyết định rung chuông tổng báo động trụ sở cảnh sát và cảnh sát bang, vội vàng cử tiếp viện tới đường Side Creek.
* * *
9 giờ 45
Hai cảnh sát chạy hộc hơi vào trong nhà. Họ vào qua lối cửa sau, ra đến bếp thì phát hiện thi thể bà Deborah Cooper nằm sồng soài trong vũng máu trên sàn, một viên đạn xuyên qua ngực gần tim. Cảnh sát trưởng Pratt nhanh chóng tìm kiếm khắp tầng trệt nhưng không phát hiện được gì, vội chạy ra ô tô điện về ban chỉ huy yêu cầu tiếp viện. Nội dung ghi lại cuộc nói chuyện giữa Cảnh sát trưởng Pratt với ban chỉ huy:
- Tôi là Cảnh sát trưởng Pratt của Aurora. Tôi yêu cầu tiếp viện khẩn cấp tới đường Side Creek, nơi giao cắt với đường 1. Có một phụ nữ bị bắn chết và chắc chắn còn một cô bé nữa đang trong rừng.
- Cảnh sát trưởng Pratt, chúng tôi đã nhận được điện thoại của bà Deborah Cooper từ đường Side Creek cách đây 7 phút. Giọng bà ta rất hoảng loạn. Bà Deborah báo cho chúng tôi biết có một cô gái chạy vào nhà xin trú ẩn. Vậy hai việc có liên quan với nhau không?
- Cái gì? Người chết chính là bà Deborah Cooper ư? Trong ngôi nhà này không có ai nữa. Cử ngay một đội đến đây.
- Nhiều đội đã lên đường, thưa Cảnh sát trưởng. Tôi sẽ cử thêm các đội khác nữa.
Cuộc đối thoại chưa kịp kết thúc thì Cảnh sát trưởng Pratt đã nghe thấy tiếng còi hụ: đội tiếp viện đã tới. Ông ta còn chưa kịp thông báo tình hình cho Travis, nhất là để yêu cầu anh ta lục soát ngôi nhà, thì bỗng điện đài thông báo: một cuộc rượt đuổi vừa xảy ra trên con đường 1, gần bờ rừng, cách đó vài trăm mét. Phó Cảnh sát trưởng Paul Summond, chỉ huy đội quân tiếp viện, tình cờ nhìn thấy một chiếc Chevrolet Monte Carlo màu đen biển số bị mờ, phóng như điên ra khỏi cánh rừng và tiếp tục chạy hết tốc lực về hướng Bắc mặc dù Paul đã ra lệnh dừng xe.
Cảnh sát trưởng Pratt nhảy lên ô tô để hỗ trợ Summond. Ông đi vào đường rừng song song với đường 1 với mục đích chặn ngang tên đào tẩu: ba dặm sau đường Side Creek, ông ta lao ra đường chính, suýt nữa thì đâm vào chiếc Chevrolet đen.
Đoàn xe rượt đuổi phóng đi với vận tốc điên dại. Chiếc Chevrolet đen tiếp tục đi đường 1 theo hướng Bắc. Cảnh sát trưởng Pratt gọi điện đài yêu cầu các đơn vị dựng rào chắn, và yêu cầu trực thăng tới. Ngay lập tức, chiếc xe Chevrolet quay ngoắt một cú ngoạn mục, rẽ lên đường phụ rồi lại chuyển tiếp sang đường khác. Chiếc xe đổi hướng nhanh đến chóng mặt, xe cảnh sát bám theo một cách chật vật. Từ điện đài trên ô tô, Pratt đang gào lên vì cả đội cảnh sát sắp bị chiếc Chevrolet cắt đuôi.
Cuộc rượt đuổi tiếp tục trên những con đường hẹp: tên đào tẩu dường như rất thông thạo đường đi, càng ngày càng bỏ xa đoàn xe cảnh sát. Khi đến một ngã tư, chiếc Chevrolet suýt đâm vào một xe khác đi ngược chiều, khiến nó lao lên giữa vỉa hè. Pratt tránh được vật cản bằng cách đi lên cỏ, nhưng Summond đi ngay phía sau không kịp tránh, đâm sầm vào chiếc xe ngược chiều, nhưng không có hậu quả gì nghiêm trọng. Từ lúc đó, Pratt là người duy nhất bám sau chiếc Chevrolet. Ông ta mất bóng đối tượng trong một giây nhưng ngay sau đó nhìn thấy nó xuất hiện trên con đường từ Montburry, rồi lại bị mất bóng hoàn toàn. Chính lúc đó ông ta thấy đội tiếp viện kéo đến từ hướng ngược lại, ông hiểu rằng chiếc xe khả nghi đã trốn thoát. Ngay lập tức ông ta yêu cầu thắt nút toàn bộ mạng lưới giao thông, ra lệnh tổng truy lùng toàn vùng và yêu cầu tiếp viện từ cảnh sát bang. Tại đường Side Creek, Travis Dawn khẳng định: hoàn toàn không còn thấy bất kì dấu vết nào của cô gái mặc váy đỏ, trong nhà không có, bên ngoài cũng không.
* * *
20 giờ
Ông mục sư Kellergan vô cùng hoảng loạn, quay số điện thoại khẩn của cảnh sát báo rằng Nola, cô con gái mười lăm tuổi của ông, đã biến mất. Phó Cảnh sát trưởng là người đầu tiên tới căn nhà 245 Terrace Avenue, ngay sau đó Travis Dawn cũng có mặt. 20 giờ 15 phút, Cảnh sát trưởng Pratt cũng đến. Cuộc gọi cuối cùng của bà Deborah Cooper được ghi lại đã giúp xóa sạch nghi vấn: Nola Kellergan chính là cô gái ở đường Side Creek.
Các đội tiếp viện của cảnh sát đổ về từ khắp mọi ngả. Giai đoạn đầu tiên của cuộc tìm kiếm từ rừng ra bãi biển được bắt đầu với hi vọng tìm thấy Nola Kellergan trước khi trời tối. Các toán cảnh sát chạy đảo cả vùng để tìm chiếc Chevrolet màu đen hiện tại không còn dấu vết.
* * *
21 giờ
21 giờ, nhiều đội cảnh sát bang đã tới đường Side Creek dưới sự chỉ huy của đại úy Neil Rodik. Tốp cảnh sát khoa học cũng nhanh chóng tới nhà Deborah Cooper và nơi có vết máu trong rừng. Những chùm đến cao áp đã được lắp thêm soi sáng cả một vùng; cảnh sát tìm thấy nhiều lọn tóc vàng vướng lại, các mảnh răng vỡ và nhiều miếng vải đỏ.
Ro dik và Pratt, sau khi quan sát hiện trường đã nhận định tình hình
– Phải nói là chẳng khác gì một lò mổ lợn, Pratt nói.
Rodik gật đầu đồng tình rồi hỏi:
– Anh có nghĩ, cô bé vẫn còn ở trong rừng không?
– Hoặc cô bé đã biến mất với chiếc ô tô đó, hoặc cô ấy còn ở trong rừng. Chúng tôi lùng sục ngoài bãi biển như dùng lược dày chải chấy rồi. Không có gì cả.
Rodik nghĩ ngợi giây lát.
– Điều gì có thể xảy ra nhỉ? Không biết cô bé đã bị mang đi xa chưa? Hay biết đâu còn nằm lại chỗ nào đó trong rừng?
– Tôi chẳng hiểu gì cả, Pratt thở dài. Tôi chỉ muốn nhanh chóng tìm được cô bé còn sống.
– Tôi biết, Cảnh sát trưởng ạ. Nhưng nhìn lượng máu mà cô gái bị mất, nếu còn sống đâu đó trong rừng thì hẳn tình trạng cũng rất bi thảm. Thật không hiểu cô bé lấy sức ở đâu mà về được tận ngôi nhà này. Chắc đó là sức mạnh của nỗi tuyệt vọng.
– Chắc vậy.
– Không có tin tức gì về chiếc xe à? Rodik hỏi tiếp.
– Không hề. Một bí ẩn thực sự. Chặn đường khắp nơi, trên tất cả mọi ngả.
Khi hai viên cảnh sát phát hiện những vết máu khắp từ ngôi nhà của bà Deborah Cooper cho đến tận chiếc Chevrolet đen, Rodik nhăn mặt vẻ thất bại.
– Tôi không thích phán đoán điều chẳng lành, ông ta nói, nhưng hoặc là cô ta đã lết đi đâu đó rồi chết, hoặc là cô ta cũng chết trong cốp của chiếc xe ô tô kia rồi.
20 giờ 45 phút, khi hoàng hôn chỉ còn là một vầng hồng nhảy nhót ở đường chân trời, Rodik yêu cầu Pratt dừng các cuộc tìm kiếm.
– Ngừng các cuộc tìm kiếm ư? Pratt phản đối. Anh không suy nghĩ à. Hãy tưởng tượng cô bé vẫn còn sống ở đâu đó, ngay đây, đang đợi người tới cứu. Dù sao thì chúng ta cũng không thể bỏ mặc cô bé trong rừng! Lính tráng sẽ phải thức suốt đêm nếu cần, nếu cô bé còn ở đó thì họ sẽ tìm được.
Rodik là chuyên gia thực địa dày dạn kinh nghiệm. Ông biết đôi khi cảnh sát địa phương khá ngây thơ và ông đôi khi cũng phải thuyết phục họ quay trở về thực tế.
– Cảnh sát trưởng Pratt, anh phải từ bỏ các cuộc tìm kiếm thôi. Khu rừng này quá rộng, ta chẳng nhìn thấy gì nữa. Tìm kiếm ban đêm là vô ích. Tốt nhất đừng lãng phí nguồn lực, nên bắt đầu lại vào ngày mai. Tệ nhất là có thể sẽ bị lạc mất cả chiến sĩ của mình trong khu rừng mênh mông này rồi lại phải đi tìm họ nữa đó. Anh lo lắng thế là đủ rồi.
– Nhưng phải tìm ra cô bé!
– Hãy tin vào kinh nghiệm của tôi: qua đêm trong rừng là vô ích. Nếu cô bé còn sống, ngay cả khi bị thương thì chúng ta sẽ tìm thấy vào ngày mai.
Trong lúc đó, tại Aurora, dân chúng hoàn toàn bấn loạn. Hàng trăm kẻ hiếu kì vây quanh ngôi nhà của gia đình Kellergan khiến cảnh sát rất khó khăn mới thiết lập được trật tự. Ai cũng muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Khi Cảnh sát trưởng Pratt quay trở lại, ông phải khẳng định các tin đồn: Deborah Cooper chết, Nola biến mất. Trong đám đông rú lên nhiều tiếng kêu hoảng loạn; các bà mẹ vội đưa con mình về và nhốt chúng trong nhà, còn các ông bố thì mang hết súng cũ ra, tổ chức tập trận dân sự để bảo vệ khu phố. Nhiệm vụ của Cảnh sát trưởng Pratt càng trở nên phức tạp: ông không thể để cả thành phố bị nhấn chìm trong nỗi lo sợ. Trên phố, các đội cảnh sát không ngừng đi tuần để trấn an dân chúng, trong khi đó cảnh sát bang có trách nhiệm đến từng nhà thu thập bằng chứng của những người hàng xóm tại Terrace Avenue.
* * *
23 giờ
Trong phòng họp của đồn cảnh sát Aurora, Cảnh sát trưởng Pratt và đại úy Rodik đang kết luận sự việc. Những phát hiện đầu tiên của cuộc điều tra chỉ ra rằng không hề có bất cứ một dấu vết nào chứng tỏ có người đột nhập vào phòng Nola hay có xung đột xảy ra trong phòng cô bé. Chỉ có cửa sổ là mở rộng.
– Cô bé có mang theo quần áo không? Rodik hỏi.
– Không. Không quần áo, không tiền bạc. Ống tiền tiết kiệm vẫn còn nguyên, trong đó có 120 đôla.
– Có hơi hướng của vụ bắt cóc.
– Nhưng hàng xóm không nhận thấy có điều gì đặc biệt.
– Tôi không lấy làm ngạc nhiên, có kẻ nào đó đã thuyết phục được cô bé bỏ trốn cùng hắn ta.
– Theo lối cửa sổ à?
– Có thể.
– Cũng có thể không, vì bây giờ là tháng Tám, tất cả các nhà đều mở rộng cửa sổ. Có thể cô bé ra ngoài đi đạo và gặp phải tên khốn nạn nào đó.
– Có thể. Một nhân chứng tên là Gregory Stark nói rằng khi dẫn chó đi dạo đã nghe thấy những tiếng kêu phát ra từ nhà Kellergan. Lúc đó khoảng 17 giờ, nhưng anh ta không dám chắc.
– Không dám chắc nghĩa là thế nào? Rodik hỏi.
– Vì tiếng nhạc phát ra từ nhà Kellergan quá to, nên anh ta không dám chắc đó có phải là tiếng kêu hay không.
Rodik nhăn nhó:
– Chúng ta chẳng có gì cả: không dấu vết, không bằng chứng. Cứ như chuyện ma vậy. Chỉ thoáng nhìn thấy một bé gái người đầy máu me, hoảng loạn và kêu cứu.
– Theo anh, bây giờ chúng ta nên làm gì? Pratt hỏi.
– Theo tôi, anh đã làm hết khả năng cho tối nay. Bây giờ, đến lúc anh cần tập trung cho những việc tiếp theo. Anh cho mọi người về nghỉ hết đi, chỉ để đội lính gác trên đường. Phải chuẩn bị kế hoạch tìm trong rừng, phải tiếp tục tìm kiếm ngay rạng sáng ngày mai. Anh là người duy nhất có khả năng tiến hành việc này vì chỉ có anh mới biết rõ mọi ngóc ngách của khu rừng. Cũng phải chuẩn bị gửi thông báo cho toàn thể đội ngũ cảnh sát, cố gắng đưa tất cả các chi tiết chính xác về Nola. Cô bé đeo trang sức gì hay các đặc điểm hình dạng khác biệt với những người khác để mọi người có thể nhận dạng dễ dàng. Tôi sẽ báo tin đến FBI, cảnh sát các bang lân cận và cảnh sát biên phòng. Ngày mai tôi sẽ cử trực thăng và cả chó nghiệp vụ tiếp viện tìm kiếm. Anh cũng phải ngủ một chút và hãy cầu nguyện đi. Tôi là người yêu nghề, cảnh sát trưởng ạ, nhưng các vụ bắt cóc trẻ con thật quá sức chịu đựng của tôi.
Suốt đêm, cả thành phố hoàn toàn náo loạn vì những màn trình diễn ô tô thiện nghệ của cảnh sát và những kẻ hiếu kì tụ tập trên Terrace Avenue. Một số người xung phong vào rừng. Một số khác đến đồn cảnh sát tình nguyện tham gia tìm kiếm. Hoảng sợ bao trùm trong dân chúng.
* * *
Chủ nhật ngày 31 tháng Tám năm 1975
Một trận mưa giá buốt dội xuống, rồi mây đen dày đặc dâng lên từ biển bao trùm cả vùng. 5 giờ sáng, gần ngôi nhà của Deborah Cooper, dưới tấm bạt căng vội, Cảnh sát trưởng Pratt và đại úy Rodik ra lệnh cho toán cảnh sát đầu tiên và những người tình nguyện. Trên bản đồ, khu rừng được phân thành bốn vùng, mỗi vùng giao cho một nhóm chó nghiệp vụ và lính kiểm lâm dự định sẽ được điều tới trong buổi sáng để giúp mở rộng hơn nữa các cuộc tìm kiếm và luân phiên giữa các nhóm. Thời điểm hiện tại, lệnh điều động trực thăng bị hủy bỏ bởi vì lí do thời tiết xấu sẽ khiến tầm nhìn từ trực thăng rất hạn chế.
7 giờ sáng, trong phòng số 8 của nhà nghỉ Sea Side, Harry giật mình thức giấc, anh đã mặc nguyên cả bộ vest đi ngủ. Trên đài vẫn tiếp tục phát bản tin thời sự: …tổng báo động trên toàn thành phố Aurora sau vụ một thiếu nữ mười lăm tuổi, tên là Nola Kellergan, mất tích tối hôm qua, vào khoảng 19 giờ. Cảnh sát tìm tất cả những người có thể cung cấp thông tin […] Vào lúc biến mất, Nola Kellergan mặc váy đỏ […]
Nola! Cả hai người đã thiếp ngủ nên quên mất đích đến! Anh nhảy khỏi giường, gọi Nola. Trong tích tắc, anh nhận ra nàng không có mặt trong phòng. Sau đó anh nhớ ra tối qua nàng không đến. Tại sao nàng lại bỏ rơi anh như vậy? Tại sao nàng không ở đây? Trên đài đang thông báo Nola mất tích, vậy rõ ràng nàng đã bỏ nhà đi như dự định. Nhưng tại sao lại không có anh? Nàng có gặp trở ngại gì không? Liệu nàng tại sao lại không có anh? Nàng có gặp trở ngại gì không? Liệu nàng có trốn ở Goose Cove không? Thế là cuộc chạy trốn của họ đã trở thành thảm họa.
Vẫn chưa ý thức hết được tính nghiêm trọng của vấn đề, anh vứt bó hoa, vội vàng rời căn phòng, thậm chí không thèm chải đầu hay thắt lại cà vạt. Anh ném va li vào trong xe, vội vã khởi động máy quay về Goose Cove. Đi chưa đến hai dặm, anh đã gặp một đội cảnh sát chặn đường kiểm tra. Cảnh sát trưởng Pratt lúc đó cũng có mặt, súng hơi trong tay. Tất cả mọi người đều căng thẳng. Ông nhận ra xe của Harry trong dòng xe bị chặn và tiến lại gần. Harry kéo kính xuống hỏi:
– Cảnh sát trường, tôi nghe trên đài thông tin về Nola. Có chuyện gì vậy?
– Chuyện tồi tệ, rất tệ, ông ta trả lời.
– Nhưng là chuyện gì?
– Chẳng ai biết cả: cô bé đã biến mất khỏi nhà. Người ta nhận ra cô bé ở sau đường Side Creek tối hôm qua rồi sau đó thì không còn dấu vết, chúng tôi đã chặn toàn bộ vùng này, toàn bộ khu rừng cũng đang được lật tung để tìm Nola.
Harry tưởng tim mình sắp ngừng đập. Đường Side Creek chính là hướng đi tới nhà nghỉ. Hay là nàng đã bị thương khi đang trên đường tới nơi hẹn với anh? Nàng sợ một khi bị phát hiện ở đường Side Creek, thì cảnh sát sẽ ập đến tận nhà nghỉ bắt cả hai? Vậy nàng đang trốn ở đâu?
Pratt nhận thấy nét mặt khác lạ của Harry, trong cốp xe chứa đầy hành lí bèn hỏi:
– Anh vừa đi nghỉ về à? Ông ta hỏi.
Harry nói đúng như kế hoạch đã thống nhất với Nola.
– Tôi vừa đi Boston về. Có mấy việc liên quan tới cuốn sách.
– Boston à? Pratt ngạc nhiên. Thế sao anh lại về từ hướng Bắc.
– Đúng vậy, Harry lắp bắp. Vì tôi rẽ qua Concord.
Vẻ mặt Pratt đầy nghi ngờ, Harry lái xe Chevrolet Monte Carlo màu đen. Ông ta ra lệnh cho Harry tắt máy.
– Có chuyện gì thế? Harry hỏi.
– Chúng tôi đang tìm chiếc xe ô tô giống xe của anh vì có thể nó liên quan tới vụ việc.
– Một chiếc Monte Carlo à?
– Đúng vậy.
Hai nhân viên cảnh sát lục tung chiếc xe. Họ không tìm thấy gì khả nghi nên Cảnh sát trưởng Pratt cho phép Harry đi. Ông ta nói: “Đề nghị anh không được đi đâu khỏi vùng. Tất nhiên, việc này chỉ là để phòng bất trắc”. Trên đài vẫn tiếp tục đưa thông tin miêu tả Nola: Thiếu nữ, da trắng, cao 1 m69, nặng 50kg, tóc vàng dài, mắt xanh, mặc váy đỏ. Cổ đeo dây chuyền vàng khắc tên NOLA.
Nàng không ở Goose Cove. Không có trên bãi biển, không ở ngoài sân cũng không có trong nhà. Không thấy nàng đâu cả. Anh gọi nàng, chẳng thèm quan tâm có ai đó nghe thấy. Anh đi khắp bãi biển, vẻ điên dại. Anh tìm một bức thư, một mẩu tin nhắn. Nhưng hoàn toàn không có dấu vết gì. Lo sợ bắt đầu xâm chiếm anh. Tại sao nàng trốn đi nếu như không phải để gặp anh?
Không còn biết phải làm gì, anh đến tiệm Clark’s. Chính tại đây anh được biết bà Deborah Cooper đã nhìn thấy Nola người đầy máu trước khi bị giết chết. Anh không thể tin nổi. Điều gì đã xảy ra? Tại sao anh lại đồng ý để nàng tự đi? Nhẽ ra họ nên hẹn gặp ở Aurora. Anh đi bộ xuyên qua thành phố đến tận nhà gia đình Kellergan, xung quanh rất nhiều xe cảnh sát đang tham gia bàn luận với đám dân hóng chuyện để tìm thêm thông tin. Cuối buổi sáng, anh trở về Goose Cove, ngồi ngoài hiên với chiếc ống nhòm và hộp bánh mì cho bọn mòng biển. Anh đợi nàng đi lạc đường, rồi nàng sẽ quay lại. Nàng sẽ quay lại, chắc chắn sẽ quay lại. Anh đưa ống nhòm lên quan sát thật kĩ khắp nơi. Anh tiếp tục đợi. Màn đêm dần buông.