Sự Thật Về Vụ Án Harry Quebert Hay Chuyện Nàng Nola

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
19
Vụ Án Harry Quebert

❊ ❊ ❊

“Các nhà văn viết thâu đêm phát bệnh vì cà phê và hút thuốc lá cuộn là chuyện huyền thoại, Marcus ạ. Anh phải là người có kỉ luật, Marcus, chính xác như tập đấm bốc vậy. Cần phải tuân thủ nghiêm ngặt giờ giấc, phải luyện tập chuyên cần: phải giữ được nhịp độ, phải kiên quyết và tuân theo một trật tự tuyệt đối trong công việc. Đó chính là ba Nguyên tắc bảo vệ anh khỏi kẻ thù tồi tệ của các nhà văn.

– Kẻ thù là ai?

– Là kì hạn. Anh có hiểu thế nào là một kì hạn không?

– Không.

– Có nghĩa là não của anh, về bản chất rất đỏng đảnh, buộc phải sản xuất trong một khoảng thời gian có giới hạn do người khác đặt ra. Giống y như anh là một người giao hàng và ông chủ của anh bắt anh phải đến chỗ này vào đúng giờ này: anh phải tự xoay xở, không cần biết tình hình giao thông như thế nào hay xe anh có bị nổ lốp hay không. Anh không được phép đến muộn, nếu không thì đời anh đi tong. Y chang như thời hạn mà người xuất bản áp đặt anh. Người xuất bản của anh vừa là vợ anh, vừa là ông chủ của anh: không có anh ta, anh chẳng là gì cả, nhưng anh không thể không căm thù ông ấy. Quan trọng nhất là phải thực hiện đúng kì hạn, Marcus ạ. Nhưng nếu có khả năng, thì hãy chơi đùa với nó. Sẽ thú vị hơn gấp vạn lần”.

Chính bà Tamara Quinn kể cho tôi nghe việc bà ăn cắp tờ giấy ở nhà Harry. Bà thổ lộ với tôi vào ngày hôm sau khi tôi đến trò chuyện với bà ở tiệm Clark’s. Câu chuyện của bà đã kích động ghê gớm trí tò mò của tôi, và tôi chủ động đến gặp bà. Bà tiếp tôi trong phòng khách, rất phấn khích vì sự quan tâm của tôi. Trích lại lời khai của bà tại sở cảnh sát cách đây hai tuần trước, tôi hỏi bà làm thế nào lại biết được chuyện giữa Harry và Nola. Chính lúc đó, bà đã tiết lộ cho tôi về cuộc thăm viếng của bà ở Goose Cove vào tối Chủ nhật sau bữa tiệc ngoài vườn.

– Những lời lẽ tôi đọc thấy trên bàn làm việc của Harry thật là phát nôn, bà nói với tôi. Toàn những điều khủng khiếp về Nola!

Căn cứ vào thái độ của bà, tôi hiểu rằng bà sẽ không bao giờ đặt ra giả thuyết về một tình yêu thực sự giữa Harry và Nola.

– Không khi nào bà tưởng tượng rằng họ thực sự yêu nhau ư? Tôi hỏi.

– Yêu nhau á? Thôi đi, đừng có nói những điều ngu ngốc như thế. Quebert là một tên đồi trụy độc hại, chỉ thế thôi. Tôi không thể nào tưởng tượng được dù trong một giây Nola đã có thể đáp lại sự tấn công của gã. Chỉ Chúa mới biết được rằng gã đã làm cô bé phải chịu đựng cái gì… Khổ thân cô bé quá.

– Thế sau đó, bà làm gì với tờ giấy đó?

– Tôi đã lấy nó đi.

– Để làm gì?

– Làm hại Quebert. Tôi muốn gã phải vào tù.

– Thế bà có nói về tờ giấy đó với ai không?

– Đương nhiên rồi.

– Với ai vậy?

– Cảnh sát trưởng Pratt. Một vài ngày sau khi tôi tìm thấy tờ giấy.

– Bà chỉ nói với mỗi mình ông ta thôi ư?

– Tôi đã nói cho nhiều người hơn vào lúc Nola biến mất. Quebert là một hướng điều tra mà cảnh sát không thể bỏ qua.

– Vậy thì, theo như tôi hiểu, bà đã phát hiện Harry phải lòng Nola, và bà đã không nói với ai, cho đến tận khi cô bé biến mất, khoảng hai tháng sau đó.

– Chính thế.

– Thưa bà Quinn. Tôi chỉ mới biết bà, nên tôi không thể hiểu nổi tại sao vào lúc bà phát hiện ra tờ giấy, bà lại không dùng nó để chứng tỏ hành động sai trái của Harry, mà theo đánh giá của bà, đó là người đã cư xử không đúng đắn khi không tới dự bữa tiệc trong vườn nhà bà. Tôi muốn nói rằng, ngoài sự coi trọng của bà, bà là người rất dễ găm tờ giấy này lên các bức tường trong thành phố hoặc là phát tán nó vào tất cả các hộp thư của những người hàng xóm.

Bà ta cụp mắt xuống:

– Thế anh vẫn không hiểu à? Tôi đã vô cùng xấu hổ. Cực kì xấu hổ. Harry Quebert, một nhà văn lớn từ New York đến, đã từ chối con gái của tôi vì một đứa trẻ mười lăm tuổi. Con gái tôi! Thế anh nghĩ là tôi phải cảm thấy thế nào? Tôi vô cùng nhục nhã. Nhục nhã ê chề. Tôi đã tung tin đồn rằng chuyện giữa Harry và Jenny là thật, vậy hãy tưởng tượng vẻ mặt của mọi người sẽ như thế nào… Còn Jenny thì quá yêu gã đó. Nó sẽ chết nếu phát hiện ra sự thật. Vì vậy, tôi đã quyết định giữ riêng cho mình bí mật này. Anh phải nhìn thấy con gái Jenny của tôi, trong buổi vũ hội mùa hè vào tuần tiếp theo. Nó có vẻ rất buồn bã dù ở trong vòng tay của Travis.

– Thế còn Cảnh sát trưởng Pratt? Ông ta nói gì khi biết chuyện?

– Rằng ông ấy sẽ điều tra. Tôi lại nói lần nữa khi con bé biến mất: ông ấy đã nói có thể đó là một hướng điều tra. Vấn đề là đúng lúc đó thì tờ giấy lại biến mất.

– Sao lại biến mất?

– Tôi cất nó trong két sắt của tiệm Clark’s. Tôi là người duy nhất có chìa khóa. Và vào ngày đầu tiên của tháng Tám năm 1975, tờ giấy đó đã biến mất một cách bí ẩn. Không còn tờ giấy thì không có bằng chứng chống lại Harry.

– Ai có thể lấy tờ giấy đó?

– Tôi không biết. Đó vẫn là một bí ẩn lớn. Một két rất to, bằng kim loại, mà chỉ có tôi là người duy nhất có chìa khóa. Trong đó là toàn bộ giấy tờ sổ sách của tiệm, tiền để trả lương và một ít tiền mặt để mua hàng. Một buổi sáng, tôi phát hiện ra tờ giấy không còn đó nữa. Không hề có một dấu hiệu cậy khóa nào. Tất cả mọi thứ vẫn còn nguyên, ngoại trừ tờ giấy đáng nguyền rủa kia.

Tôi ghi chép mọi điều bà kể: mọi thứ càng trở nên hấp dẫn. Tôi hỏi thêm:

– Chỉ tôi và bà biết, thưa bà Quinn, bà cảm thấy thế nào khi phát hiện ra tình cảm Harry dành cho Nola?

– Tức giận, kinh tởm

– Sao bà không trả thù ông ta bằng cách gửi thư nặc danh?

– Thư nặc danh? Nhìn tôi có bộ mặt của kẻ làm trò đểu cáng đó không hả?

Tôi không nài nỉ và hỏi tiếp:

– Bà có nghĩ rằng Nola có thể cũng quan hệ với những người đàn ông khác ngoài Aurora không?

Bà suýt bị sặc vì trà đá.

– Cậu quả đúng chả biết cái gì cả! Hoàn toàn không biết gì! Cô bé ấy rất hiền lành, vô cùng xinh xắn, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ người khác, chăm chỉ làm lụng, thông minh. Cái gì khiến cậu tưởng tượng ra những câu chuyện ngủ nghê dớ dẩn như vậy hả?

– Chỉ là một câu hỏi đơn giản thôi mà, mỗi thế thôi. Bà có biết người nào tên là Elijah Stern không?

– Tất nhiên rồi, bà trả lời như thể đó là một điều hiển nhiên, trước khi nói thêm: đó là chủ sở hữu trước Harry.

– Chủ sở hữu cái gì? Tôi hỏi.

– Của ngôi nhà ở Goose Cove, mẹ kiếp. Nó từng thuộc về Elijah Stern và trước kia, ông ta thường xuyên đến đó. Tôi nghĩ rằng đó là một ngôi nhà của dòng họ. Có một thời kì mọi người thường xuyên gặp ông ta ở Aurora. Khi ông ta tiếp quản công việc của cha mình ở Concord, thì ông ta không còn thời gian để đến đây nữa, vậy nên ông ta đã cho thuê ngôi nhà ở Goose Cove, trước khi bán đứt cho Harry.

Tôi không còn tin nổi vào tai mình:

– Goose Cove trước đây thuộc về Elijah Stern à?

– Tất nhiên rồi. Có chuyện gì xảy ra với cậu vậy, hả chàng trai người New York? Cậu có vẻ tái dại đi đấy…

* * *

Tại New York, thứ Hai ngày 30 tháng Sáu năm 2008, vào lúc 10 giờ 30, tại tầng 51 tòa nhà Schmid & Hanson trên phố Lexington Avenue, Roy Barnaski bắt đầu buổi hợp hàng tuần với Marisa, thư kí của mình.

– Marcus Goldman chỉ còn ngày hôm nay là hết hạn nộp bản thảo cho ông, Marisa nhắc.

– Tôi nghĩ rằng anh ta còn chưa gửi cho cô được gì

– Không có gì, ông Barnaski.

– Tôi cũng ngờ như vậy, tôi đã nói với anh ta hôm thứ Bảy. Đúng là một tên cứng đầu.

– Tôi phải làm gì?

– Hãy thông báo tình hình với Richardson. Hãy nói với anh ta rằng chúng ta sẽ khởi kiện.

Đúng lúc đó, trợ lí của Marisa tự ý ngắt quãng cuộc họp bằng cách gõ của văn phòng. Cô cầm một tờ giấy trên tay.

– Tôi biết là hai người đang họp, thưa ông Barnaski, cô ta tỏ ý xin lỗi, nhưng ông vừa nhận được một email và tôi nghĩ rằng rất quan trọng.

– Ai gửi vậy? Barnaski với vẻ tức tối.

– Marcus Goldman. Goldman?

– Mang lại đây ngay cho tôi!

Từ: mgoldman@nobook. com

Ngày: thứ Hai 30/06/2008 - 10:24

Gửi ông Roy,

Không thể xem một cuốn sách đáng nhét vào sọt rác có tác dụng khuấy động đông đảo mọi người là cuốn sách thu hút độc giả. Không phải là một cuốn sách bởi vì ông yêu cầu điều đó. Không phải là một cuốn sách để cứu lấy bản thân tôi. Đó là một cuốn sách bởi vì tôi là một nhà văn. Đó là một cuốn sách kể về câu chuyện nào đó. Đó là một cuốn sách về câu chuyện của một trong những người mà tôi phải mang ơn về tất cả. Ông hãy xem những trang đầu tiên tôi gửi kèm. Nếu ông thích; hãy gọi điện cho tôi. Nếu ông không thích, thì cứ việc gọi điện thoại cho Richardson và hẹn ông ở tòa án. Chúc ông có cuộc họp tốt đẹp với Marisa, nhờ ông chuyển tới cô ấy lời chào thân tình của tôi.

Marcus Goldman

– Cô có in tài liệu đính kèm ra chưa?

– Chưa, ông Barnaski.

– Thế thì đi in ngay lập tức cho tôi.

– Vâng thưa ông Barnaski.

VỤ ÁN HARRY QUEBERT

(Tựa đề tạm đặt)

Tác giả: Marcus Goldman

Vào mùa xuân năm 2008, gần một năm sau khi tôi trở thành ngôi sao mới nổi của nền văn học nước Mỹ, đã xảy ra một sự kiện mà tôi quyết định chôn chặt trong tâm trí của mình: tôi phát hiện ra thầy giáo dạy tôi hồi đại học, Harry Quebert, sáu mươi bảy tuổi, một trong những nhà văn được cả nước tôn vinh, đã từng có quan hệ với một bé gái mười lăm tuổi khi thầy ở độ tuổi ba mươi tư. Câu chuyện đó đã xảy ra trong suốt mùa hè năm 1975.

Tôi phát hiện chuyện này vào một ngày tháng Ba khi tôi đến sống trong nhà thầy ở Aurora, bang New Hampshire. Trong lúc lục tìm trên giá sách của thầy, tôi vô tình nhìn thấy một bức thư và vài tấm ảnh. Tôi hoàn toàn không ý thức rằng đó là lúc tôi trải qua điểm khởi đầu của một trong những vụ xì căng đan lớn nhất trong năm 2008.

[…]

Hướng điều tra về Elijah Stern đã được một người bạn cũ học cùng lớp với Nola gợi mở cho tôi, cô ấy tên là Nancy Hattaway, người vẫn luôn sống ở Aurora. Vào thời kì đó, Nola đã tâm sự với bạn mình về mối quan hệ của cô với một thương nhân ở Concord tên là Elijah Stern. Người đàn ông này cử tài xế của mình, là Luther Caleb, đến Aurora để tìm cô và lái xe đưa cô về nhà ông ta.

Tôi không hề có bất kì thông tin nào về Luther Caleb. Còn về Stern, trung sĩ Gahalowood lại từ chối thẩm tra ông ta vào lúc này. Ông trung sĩ cho rằng vào thời điểm này không có lí do chính đáng nào để lôi ông ta vào vụ án. Vậy thì mình tôi sẽ làm một chuyến viếng thăm ông ta. Tôi tìm được thông tin trên mạng rằng ông ta từng học tại Harvard và vẫn luôn là thành viên trong tổ chức cựu sinh viên của trường. Có vẻ ông ta đam mê nghệ thuật và là một Mạnh Thường Quân nổi tiếng. Rõ ràng là một người đàng hoàng dưới mọi góc độ. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên đặc biệt đáng lo ngại: ngôi nhà ở Goose Cove, nơi Harry sống, ban đầu chính là nhà riêng của ông ta.

Đây là những đoạn văn đầu tiên mà tôi viết về Elijah Stern. Khi tôi chấm bút các trang viết này của mình cũng là lúc tôi gửi những đoạn còn lại cho Roy Barnaski vào sáng ngày 30 tháng Sáu năm 2008. Sau đó, tôi đã đi thẳng đến Concord, quyết định phải gặp bằng được Stern và tìm hiểu điều gì đã gắn liền ông ta và Nola. Xe vừa lăn bánh được khoảng ba mươi phút, thì điện thoại của tôi bỗng đổ chuông.

– A lô.

– Marcus hả? Roy Barnaski đây.

– A, Roy à! Ông đã nhận được email của tôi chưa?

– Cuốn sách của anh, anh Goldman, thật tuyệt vời! Chúng ta sẽ làm!

– Thật chứ?

– Rất tuyệt! Tôi rất thích! Tôi rất thích, nhân danh cái tẩu! Người ta chắc hẳn nóng lòng được biết đoạn cuối.

– Chính tôi cũng đặc biệt quan tâm tới đoạn cuối của câu chuyện này.

– Hãy nghe đây, anh Goldman, anh viết cuốn sách này và chúng ta sẽ hủy bản hợp đồng đã ký trước đây của anh.

– Tôi sẽ viết cuốn sách này, nhưng theo cách của tôi. Tôi không muốn nghe các gợi ý vô lí của ông. Tôi không muốn nghe ý kiến của ông và không muốn bị kiểm duyệt.

– Hãy làm theo kiểu nào anh cho là hay, Goldman. Tôi chỉ có một điều kiện duy nhất: cuốn sách này phải được xuất bản vào mùa thu. Kể từ khi Obama trở thành ứng cử viên của Đảng Cộng hòa, mẹ kiếp, bản tiểu sử của ông ta được bán như bánh mì buổi sáng ấy. Vậy thì cuốn sách về chuyện này phải được xuất bản nhanh, trước khi bị nhấn chìm trong cơn điên dại của cuộc bầu cử tổng thống. Tôi cần bản thảo của anh vào cuối tháng Tám này.

– Cuối tháng Tám? Vậy tôi chưa có nổi hai tháng.

– Chính xác.

– Thế thì quá ngắn.

– Hãy tự xoay xở đi. Tôi muốn khiến anh trở thành tâm điểm tiêu khiển cho mùa thu. Quebert có biết chuyện không?

– Không, chưa biết.

– Thế thì hãy báo cho ông ta đi, lời khuyên thân tình đó. Và hãy thông báo cho tôi những tiến triển từ phía anh.

Tôi đang định dập điện thoại thì ông ta hỏi:

– Goldman, từ từ đã!

– Chuyện gì?

– Điều gì làm anh thay đổi ý kiến vậy?

– Tôi bị đe dọa. Tôi bị đe dọa nhiều lần. Có vẻ ai đó rất hoang mang về những gì tôi có thể phát hiện ra. Thế nên tôi tự nhủ là sự thật sẽ đáng để viết thành sách. Cho Harry, cho Nola. Đó là một phần của nghiệp nhà văn, đúng không nào?

Barnaski không nghe tôi nữa. Ông ta vẫn còn đang dừng lại ở đoạn bị đe dọa.

– Bị đe dọa à? Ôi thế thì thật là tuyệt vời! Sẽ là một cú quảng cáo ra trò đây. Thậm chí cứ tưởng tượng rằng anh là nạn nhân của một vụ mưu sát nào đó, anh có thể thẳng tay viết thêm một chữ số 0 nữa vào phần doanh số bán ra. Mà có khi viết thêm hẳn hai chữ số 0 nếu anh muốn!

– Với điều kiện là tôi chết trước khi viết xong cuốn sách.

– Dĩ nhiên. Anh đang ở đâu thế? Nghe không được rõ lắm.

– Tôi đang trên đường. Tôi đang đi đến nhà Elijah Stern.

– Vậy anh thật sự nghĩ rằng ông ta có dính líu đến chuyện này à?

– Đó chính là điều tôi nghĩ mình sẽ phát hiện ra.

– Anh đúng là điên thật, Goldman, đó chính là điều tôi thích ở anh.

Elijah Stern sống trong một trang viên ở phía trên Concord. Cánh cửa dẫn vào để ngỏ nên tôi có thể lái xe vào bên trong cơ ngơi. Một con đường nhỏ trải dài tới tận ngôi nhà xây bằng đá của chủ nhân, xung quanh là những bụi hoa nở đẹp tuyệt và ở khoảng không phía trước, có một đài phun nước tạc hình sư tử bằng đồng, một tài xế đang rửa ghế ngồi phía sau của một chiếc ô tô xa xỉ.

Tôi đỗ xe ở giữa sân, chào người tài xế từ xa như thể rất thân quen với anh ta và tôi ung dung bước vào trong bấm chuông cửa chính. Một người phục vụ trong nhà ra mở cửa cho tôi. Tôi nói tên mình và yêu cầu được gặp ông Stern.

– Ông có hẹn trước không?

– Không.

– Thế thì không được rồi. Ông Stern không bao giờ tiếp khách không hẹn trước. Ai để cho ông vào đến tận trong này?

– Cổng để ngỏ. Vậy làm thế nào để hẹn được với ông chủ của chị?

– Chính ông Stern sẽ hẹn gặp.

– Hãy để cho tôi gặp ông ấy mấy phút thôi. Sẽ không lâu đâu.

– Không thể được.

– Hãy nói với ông ta rằng tôi đến về việc của Nola Kellergan. Tôi nghĩ rằng cái tên này sẽ nói cho ông ta điều gì đó.

– Nhân viên phục vụ để tôi đợi ở ngoài trước khi nhanh chóng quay lại. “Ông Stern sẽ tiếp ông, cô ấy nói với tôi. Chắc ông phải là một người nào đó rất quan trọng”. Cô ta dẫn tôi đi xuyên qua tầng trệt đến tận một văn phòng được trải thảm, lát gỗ và ở đó, một người đàn ông lịch lãm ngồi trong chiếc ghế bành nghiêm khắc nhìn tôi với dáng vẻ bề trên. Đó là Elijah Stern.

– Tôi tên là Marcus Goldman, tôi nói với ông ta. Cảm ơn ông đã tiếp tôi.

– Nhà văn Goldman?

– Đúng vậy.

– Cuộc gặp bất ngờ và không đúng lúc này liên quan gì tới tôi?

– Tôi điều tra về vụ Kellergan.

– Tôi không biết có một vụ là Kellergan.

– Chúng ta cứ gọi vụ đó là một ẩn số chưa được làm rõ.

– Đó không phải là việc của cảnh sát sao?

– Tôi là một người bạn của Harry Quebert.

– Thế thì liên quan gì tới tôi?

– Tôi nghe nói ông đã từng sống Ở Aurora. Rằng ngôi nhà ở Goose Cove nơi bây giờ Harry Quebert sinh sống là nhà của ông trước kia. Tôi muốn ông khẳng định thông tin này là chính xác.

Ông ta ra hiệu cho tôi ngồi xuống.

– Các thông tin của anh đều chính xác, ông ta nói với tôi. Tôi đã bán ngôi nhà đó cho Quebert vào năm 1976, ngay sau khi ông ấy trở nên nổi tiếng.

– Thế thì ông biết Harry Quebert?

– Rất ít. Hồi đó tôi có gặp ông ta một vài lần khi ông ta vừa tới Aurora. Chúng tôi không bao giờ giữ liên lạc với nhau.

– Tôi có thể biết ông có quan hệ như thế nào với Aurora được không?

Ông ta nhìn tôi với một vẻ khó chịu.

– Đây là một cuộc hỏi cung hả anh Goldman?

– Không hề. Tôi chỉ đơn giản tò mò muốn biết tại sao một người như ông lại sở hữu một ngôi nhà trong một thành phố nhỏ bé như Aurora.

– Một người như tôi? Ý anh muốn nói là rất giàu có?

– Vâng, so với những thành phố ven biển khác, Aurora không có điểm gì đặc biệt đến thế.

– Bố tôi chính là người đã xây ngôi nhà đó. Ông muốn có một ngôi nhà bên bờ biển nhưng lại gần Concord. Thêm vào đó Aurora là một thành phố xinh xắn. Giữa Concord và Boston, thành phố này gần phía đông hơn. Khi còn nhỏ, tôi đã có rất nhiều mùa hè đẹp ở đó.

– Thế tại sao ông lại bán nó?

– Khi bố tôi qua đời, tôi đã được thừa hưởng một gia tài lớn. Tôi không còn thời gian để hưởng thụ ở đó nữa và tôi không còn sử dụng ngôi nhà ở Goose Cove. Thế là tôi quyết định cho thuê ngôi nhà đó trong vòng gần mười năm. Nhưng người thuê thì rất hiếm. Ngôi nhà này thường xuyên vắng bóng người. Thế nên khi Harry đề nghị muốn mua lại, tôi đã đồng ý ngay lập tức. Hơn nữa, tôi còn bán rẻ cho ông ta, tôi không bán nó để lấy tiền: tôi vui sướng vì thấy ngôi nhà ấy tiếp tục sống. Nhìn chung, lúc nào tôi cũng yêu thích Aurora. Trong thời kì mà tôi còn rất nhiều thương vụ ở Boston, tôi thường xuyên ghé qua đó. Tôi còn thường xuyên tài trợ cho buổi vũ hội mùa hè ở đó. Và tiệm Clark’s là nơi bán bánh mì kẹp thịt ngon nhất trong vùng. Ít ra thời kì đó là như vậy.

– Thế còn Nola Kellergan, ông cũng có biết cô ấy chứ?

– Hơi hơi. Chúng ta phải thừa nhận rằng tất cả mọi người đều nghe nói về cô ấy khắp cả bang vào lúc cô ấy biến mất. Một câu chuyện kinh hoàng, và bây giờ người ta lại còn tìm thấy xác cô bé ở Goose Cove. Lại còn cuốn sách của Quebert viết cho cô bé . .. Thật là những chuyện bẩn thỉu. Và hỏi tôi có cảm thấy nuối tiếc vì đã bán ngôi nhà ở Goose Cove cho ông ta không? Hiển nhiên là có rồi. Nhưng làm sao mà tôi lại biết được cơ chứ?

– Nhưng thực tế vào lúc Nola biến mất, ông vẫn còn là chủ sở hữu của Goose Cove.

– Anh định nói bóng gió điều gì vậy? Rằng tôi có liên quan tới cái chết của cô bé à? Anh biết không? Từ mười ngày nay tôi đang phân vân không biết có phải Harry Quebert đã mua ngôi nhà ấy của tôi chỉ để chắc chắn rằng không ai có thể phát hiện ra xác chết được chôn trong vườn.

Stern nói là biết rất ít về Nola; liệu tôi có nên tiết lộ cho ông ta biết bằng chứng khẳng định ông ta và Nola có quan hệ với nhau? Tôi quyết định giữ con bài này trong tay đã, tuy nhiên nhằm nắn gân ông ta một chút, tôi bèn nhắc đến tên Caleb.

– Thế còn Luther Caleb?

– Luther Caleb cái gì?

– Ông có biết ai tên là Luther Caleb không?

– Nếu như anh đã hỏi tôi như vậy thì chính anh cũng biết rằng đó là lái xe của tôi trong nhiều năm trời. Anh đang chơi trò gì vậy, anh Goldman?

– Một nhân chứng đã thấy Nola bước lên xe ô tô của anh ta nhiều lần vào mùa hè trước khi cô ta biến mất.

Ông ta giơ tay lên chỉ vào mặt tôi lên tiếng dọa dẫm.

– Đừng có đánh thức người chết dậy, anh Goldman. Luther là một người đáng kính, dũng cảm và trung thực. Tôi không cho phép bất kì ai đến đây làm nhơ bẩn tên anh ta trong khi mà anh ta không còn ở đây để tự bảo vệ nữa.

– Anh ta chết rồi ư?

– Đúng vậy, đã từ lâu. Chắc chắn người ta đã nói với anh rằng anh ta thường xuyên tới Aurora và đó là sự thật: anh ta có nhiệm vụ chăm nom ngôi nhà của tôi khi mà tôi còn cho thuê. Anh ta coi sóc để ngôi nhà ở tình trạng tốt nhất. Đó là một người đàn ông hào phóng và tôi không cho phép anh đến đây để nói xấu người quá cố. Một vài người vô học ở Aurora chắc hẳn cũng khẳng định với anh rằng anh ta là người lập dị: đúng là anh ta khác so với một lũ người tầm thường đáng chết. Trên mọi phương diện. Anh ta có một hình thức kinh dị: gương mặt biến dạng ghê gớm, cấu tạo xương hàm không đúng vị trí nên khi nói rất khó nghe. Nhưng anh ta có một trái tim nhân hậu, anh ta được trời phú cho một khả năng nhạy cảm đặc biệt.

– Thế ông không nghĩ rằng anh ta có thể liên quan tới việc Nola mất tích sao?

– Không. Tôi khẳng định. Tôi cho rằng Harry Quebert chính là thủ phạm. Hình như ông ta hiện đang bị giam trong tù thì phải…

– Tôi không tin rằng ông ta có tội. Chính vì vậy mà tôi đến đây.

– Thôi nào, người ta đã tìm thấy xác của bé gái đó trong vườn nhà ông ta và bản thảo của một trong những cuốn sách của ông ấy bên cạnh xác chết. Một cuốn sách mà ông ta đã viết cho cô bé… Anh còn muốn gì nữa?

– Viết không phải là giết, thưa ông.

– Cuộc điều tra của anh chắc hẳn phải tắc tị, chẳng thu được gì nên anh mới đến đây để nói với tôi về quá khứ của tôi và Luther tốt bụng. Cuộc nói chuyện này chấm dứt ở đây, thưa anh Goldman.

Ông ta gọi người phục vụ đến để đưa tôi ra ngoài.

Tôi rời phòng làm việc của Stern với một cảm giác khó chịu vì cuộc gặp gỡ này chẳng được tích sự gì. Tôi tiếc là đã không thể đối chất với ông ta bằng lời buộc tội của Nancy Hattaway, nhưng tôi không có đủ bằng chứng để có thể kết tội ông ta. Gahalowood đã báo trước cho tôi: chỉ mỗi bằng chứng này không đủ, lời nói của cô ta đối kháng với lời nói của Stern. Tôi cần phải có một bằng chứng cụ thể. Và tôi nghĩ có khi phải tham quan ngôi nhà này một chút.

Khi đến sảnh vào rộng thênh thang, tôi liền hỏi người giúp việc tôi có thể rẽ qua nhà vệ sinh trước khi ra ngoài không. Cô ta dẫn tôi tới tận khu nhà vệ sinh dành cho khách, ở dưới tầng trệt và chỉ cho tôi, do phép tắc bắt buộc, cô ta sẽ đợi tôi ở cửa vào. Ngay khi cô ta biến mất, tôi vội vàng đi vào trong hành lang để khám phá một phần của khu nhà nơi tôi đang đứng. Tôi không biết mình đang tìm kiếm cái gì, nhưng tôi phải làm thật nhanh. Đây là cơ hội duy nhất để tìm ra một điều gì đó nối liền Stern và Nola. Trống ngực đập thình thịch, tôi mở đại một vài cánh của, cầu chúa phù hộ phía sau những cánh cửa không có ai. Và tất cả đều vắng bóng người: chỉ là những phòng khách nối tiếp những phòng khách, tất cả đều được trang trí vô cùng cầu kì. Qua những ô cửa kính to, tôi có thể nhìn thấy một công viên tuyệt đẹp ở đằng sau. Giỏng tai nghe ngóng những tiếng động nhỏ nhất, tôi tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình. Một cánh cửa khác mở ra một phòng làm việc nhỏ. Tôi lập tức đột nhập vào bên trong và mở các ngăn kéo tủ: hàng chồng các file lưu tài liệu. Nhưng tất cả đều chẳng giúp ích gì được cho tôi. Tôi tìm một thứ gì đó: nhưng là cái gì? Cái gì trong căn nhà này, ba mươi năm sau, sẽ có thể bất ngờ xuất hiện trước mắt tôi và giúp đỡ tôi? Thời gian quá gấp rút, người phục vụ chắc chắn sắp đến tìm tôi ở nhà vệ sinh nếu tôi không nhanh chóng quay trở lại. Rốt cuộc tôi tới được một hành lang thứ hai và cứ thế bước tiếp. Nó dẫn tới một cánh cửa duy nhất và tôi liều mạng mở ra: phía sau là một sân rộng được bao quanh bởi một rừng cây leo để bảo vệ nó trước những con mắt tò mò. Ở đó có những giá vẽ, một vài bức tranh còn dang dở; những chiếc bút lông trên một chiếc bàn. Đây là một xưởng vẽ. Trên tường có treo rất nhiều bức tranh, tất cả đều tuyệt vời. Một trong số đó liền thu hút ánh mắt của tôi: tôi lập tức nhận ra chiếc cầu treo ngay trước khi tới Aurora, trên bờ biển. Khi đó tôi mới phát hiện thấy tất cả các bức tranh đều là những biểu tượng của Aurora. Có cả bãi biển Grand, con phố chính, thậm chí cả tiệm Clark’s. Những bức tranh giống thật một cách kinh ngạc. Tất cả đều được kí tên L. C. và ngày tháng thì không muộn hơn năm 1975. Và chính lúc đó, tôi mới chú ý đến một bức tranh to hơn hẳn các bức khác, treo ở một góc: bên dưới có kê một chiếc ghế bành và đó là bức duy nhất có đèn chiếu sáng. Bức chân dung của một cô gái trẻ. Người ta chỉ nhìn thấy phía trên ngực của cô gái, nhưng đều hiểu rằng nàng không mặc gì. Tôi tiến lại gần: tôi có cảm giác gương mặt này không hề xa lạ với mình. Tôi ngắm thêm một lúc và bất chợt hiểu ra khiến tôi đứng như trời trồng vì kinh ngạc: đó là một bức chân dung của Nola. Chính là cô ấy, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi dùng di động chụp lại một vài kiểu rồi lập tức thoát khỏi đó. Người giúp việc đang sốt ruột dậm chân ở lối vào. Tôi lịch sự chào bà ta và vội vàng đi thẳng, run rẩy toát mồ hôi hột.

* * *

Nửa tiếng sau phát hiện của mình, tôi khẩn cấp đến phòng làm việc của Gahalowood, trong khu văn phòng chung của cảnh sát Bang. Hiển nhiên là anh ta giận điên tiết vì tôi đã tới nhà Stern mà không hỏi ý kiến anh ta trước.

– Anh thật là cứng đầu, nhà văn ạ! Thật là cứng đầu!

– Tôi chỉ đi thăm ông ta thôi mà, tôi giải thích. Tôi bấm chuông, tôi yêu cầu được gặp ông ta và ông ta đã mời tôi vào! Tôi chẳng thấy cái gì xấu cả.

– Tôi đã nói với anh là đợi đã cơ mà!

– Nhưng đợi cái gì, trung sĩ? Đợi sự ban phước lành của thần thành ư? Đợi bằng chứng sẽ rơi từ trên trời xuống à? Anh rên rỉ rằng mình không muốn đối mặt với ông ta, thế thì chính tôi đã ra tay. Anh thì rên rỉ, còn tôi thì hành động! Và hãy xem tôi đã tìm thấy cái gì ở nhà ông ta này!

Tôi chỉ cho anh ta xem những bức ảnh tôi chụp bằng di động.

– Một bức tranh à, Gahalowood nói vẻ khinh bỉ.

– Nhìn cho kỹ vào.

– Chúa ơi… Hình như là…

– Nola! Có một bức tranh của Nola Kellergan ở nhà của Elijah Stern.

– Tôi gửi email các bức ảnh cho Gahalowood để anh ta in chúng ra khổ lớn.

– Đúng là cô ấy rồi, đúng là Nola, anh ta thừa nhận khi đem so sánh với những bức ảnh vào thời kì đó trong tập hồ sơ.

– Tuy chất lượng ảnh không thật sự tốt nhưng rõ ràng không còn nghi ngờ gì nữa.

– Vậy rõ ràng có mối liên hệ giữa Stern và Nola, tôi nói. Nancy Hattaway khẳng định là Nola có quan hệ với Stern và tôi đã tìm thấy bức chân dung Nola trong xưởng vẽ của ông ấy. Mà tôi cho anh biết thêm điều này: ngôi nhà của Harry trước kia thuộc về Elijah Stern đến tận năm 1976. Vì thế, trên giấy tờ, vào thời điểm Nola mất tích, chính Stern mới là người sở hữu ngôi nhà ở Goose Cove. Một sự trùng hợp tuyệt vời, phải không? Tóm lại, hãy kí lệnh và cho gọi một đội quân: chúng ta sẽ khám nhà Stern kỹ càng và kết thúc mọi chuyện.

– Một lệnh khám nhà? Nhưng anh bạn đáng thương của tôi ơi, anh điên thật rồi! Dựa trên cơ sở nào? Từ những bức ảnh của anh à? Chúng là bất hợp pháp! Những bằng chứng này không hề có giá trị gì hết: anh đã lục lọi trong nhà người ta mà không được phép. Tôi không có giải pháp. Chúng ta cần một bằng chứng khác để tấn công Stern, và từ giờ đến lúc ấy, chắc chắn ông ta sẽ có đủ thời gian để tiêu hủy bức tranh.

– Trừ trường hợp ông ta không biết tôi đã nhìn thấy nó. Tôi đã nói với ông ta về Luther Caleb, và ông ta đã rất căng thẳng. Còn về Nola, ông ta giả vờ chỉ biết Nola sơ sơ thế mà ông ta lại có hẳn một bức tranh cô ta gần như là trần truồng. Tôi không biết ai là người đã vẽ bức tranh này, nhưng những bức khác trong xưởng vẽ đều kí tên LC. Phải chăng là Luther Caleb?

– Câu chuyện này làm cho sự việc đổi theo hướng mà tôi không lấy gì làm thích thú, nhà văn ạ. Nếu tôi nhắm đến Stern và cứ thế dấn vào điều tra, tôi sẽ gặp rất nhiều trở ngại.

– Tôi biết, thưa trung sĩ.

– Vậy hãy kể cho Harry về Stern. Cố gắng biết thêm điều gì đó. Còn tôi sẽ đào sâu về cuộc đời của tên Luther Caleb này. Chúng ta cần có những bằng chứng cụ thể.

Trong ô tô, trên đường từ khu văn phòng chung của cảnh sát tới nhà tù, tôi nghe đài được biết rằng toàn bộ các cuốn sách của Harry từ bây giờ sẽ bị rút khỏi chương trình học phổ thông của hầu hết các bang trong cả nước. Đúng là tận cùng của đáy vực: chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần, Harry đã trắng tay. Từ bây giờ, ông là một nhà văn bị cấm, một thầy giáo bị sa thải, một cá nhân bị cả đất nước căm ghét. Dù cho cuộc điều tra và vụ án có kết cục như thế nào thì tên tuổi của ông sẽ bị vấy bẩn mãi mãi từ bây giờ, khi người ta nhắc tới tác phẩm của ông sẽ không thể không đề cập tới cuộc tranh cãi không có điểm dừng về mùa hè đã qua với Nola, và để tránh tai tiếng, trong tất cả các sự kiện văn hóa, chẳng ai dám liều lĩnh để Harry Quebert có tên trong chương trình của mình. Tệ nhất là Harry hoàn toàn nhận thức đầy đủ về tình hình; khi vào tới phòng thăm tù nhân, câu đầu tiên ông nói với tôi là:

– Họ sẽ giết tôi chứ?

– Không ai giết thầy cả, Harry.

– Nhưng thực ra tôi đã chết rồi đúng không nào?

– Không, thầy chưa chết! Thầy là Harry Quebert nổi tiếng! Tầm quan trọng của biết cách ngã, thầy còn nhớ chứ? Điều quan trọng, đó là phải để cho nó không trở thành một cú trượt dài, bởi vì cú trượt dài là không thể tránh khỏi, điều quan trọng là phải biết đứng lên. Và chúng ta sẽ đứng dậy.

– Anh là một tay cừ đấy, Marcus. Nhưng con mắt của tình bạn đã ngăn anh không nhìn ra được sự thật. Xét cho cùng, vấn đề không phải là biết rằng tôi có giết Nola, Deborah Cooper hay thậm chí là cả Tổng thống Kennedy. Vấn đề là tôi đã có mối quan hệ với đứa bé gái này và đó là một hành vi không thể tha thứ. Và còn cuốn sách nữa chứ? Thật không hiểu tôi bị làm sao mà lại viết ra nó!

Tôi nhắc lại:

– Chúng ta sẽ đứng dậy, rồi thầy sẽ thấy. Thầy hẳn còn nhớ trận đòn mà em đã hứng ở Lowell, trong cái nhà kho được chuyển đổi thành phòng tập đấm bốc lén lút. Em chưa bao giờ đứng dậy tốt hơn lúc đó.

Ông cố gắng mỉm cười, rồi hỏi:

– Thế còn anh? Anh có nhận thêm được lời đe dọa nào nữa không?

– Tức là cứ mỗi lần em trở về Goose Cove, em lại tự hỏi không biết có ai đang đợi mình ở đó.

– Hãy tìm ra kẻ đã làm điều đó, Marcus. Hãy tìm ra hắn và táng cho hắn một cú đấm thật mạnh vào giữa thái dương. Tôi không thể chỉ được có kẻ nào đó đe dọa anh.

– Thầy đừng để ý đến điều đó.

– Thế còn cuộc điều tra của anh?

– Có tiến triển Harry, em đã bắt đầu viết một cuốn sách.

– Tuyệt vời!

– Cuốn sách về thầy. Em sẽ nói về chúng tôi, về Burrows. Và em sẽ nói về câu chuyện của thầy với Nola. Đó là một chuyện tình. Em tin vào tình yêu của thầy.

– Thật cảm phục quá.

– Thế thì thầy sẽ cầu nguyện cho em chứ?

– Tất nhiên rồi, Marcus. Anh biết đấy, anh chắc chắn đã là một trong những người bạn thân nhất của tôi. Anh là một nhà văn tuyệt vời. Tôi cảm thấy sung sướng được là chủ đề trong cuốn truyện sắp tới của anh.

– Tại sao thầy lại dùng từ thời quá khứ? Tại sao thầy lại bảo em đã là một trong những người bạn thân của thầy. Chúng ta vẫn đang là những người bạn thân mà đúng không ạ?

Ông nhìn tôi buồn bã:

– Tôi đã nói là như vậy.

Tôi nắm lấy vai thầy:

– Chúng ta sẽ luôn luôn là bạn, Harry! Em không bao giờ để cho thầy ngã. Cuốn sách này, sẽ là bằng chứng của tình bạn không thể phá hủy giữa chúng ta.

– Cảm ơn, Marcus. Tôi cảm động quá. Nhưng tình bạn không phải là nguyên nhân của cuốn sách này.

– Thế nghĩa là sao?

– Anh có còn nhớ cuộc trò chuyện của chúng ta vào ngày anh nhận bằng tốt nghiệp ở Burrows không?

– Vâng, chúng ta đã cùng nhau đi bộ rất lâu xuyên qua ký túc xá. Chúng ta đã đi bộ đến tận phòng đấm bốc. Thầy đã hỏi em định bắt đầu làm gì từ lúc đó, và em đã trả lời mình sẽ viết một cuốn sách. Rồi thầy hỏi tại sao em lại viết. Em trả lời vì em thích viết và thầy đã nói…

– Ừ, thầy trả lời thế nào?

– Rằng cuộc sống chỉ có rất ít ý nghĩa. Và viết sẽ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.

– Chính vậy đó, Marcus. Và anh thật sai lầm khi chấp nhận đòi hỏi của Barnaski cách đây vài tháng về một bản thảo mới. Anh đã bắt đầu viết một cuốn sách bởi vì anh phải viết một cuốn và không phải để mang lại cho cuộc sống một ý nghĩa. Làm để mà làm sẽ không bao giờ có ý nghĩa: vậy nên không có gì đáng ngạc nhiên khi anh đã không viết nổi lấy một dòng. Anh có một khả năng thiên phú không phải bởi vì anh có thể viết đúng, mà bởi vì anh có thể mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của mình, như vậy mới gọi là khả năng thiên phú. Hằng ngày, có những người được sinh ra, có những người khác phải chết đi. Ngày nào cũng có hàng đội quân lao động vô danh đến và đi trong tòa nhà cao tầng màu xám kia. Và rồi có cả những nhà văn. Các nhà văn sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn nhiều so với những người khác, tôi nghĩ vậy. Đừng có viết nhân danh tình bạn của chúng ta, Marcus. Hãy viết bởi vì đó là cách thức duy nhất đối với anh để làm cho cái điều nhỏ nhoi vô nghĩa mà người ta gọi là cuộc sống này có một trải nghiệm giá trị và thỏa đáng.

Tôi nhìn thầy chăm chú hồi lâu. Tôi có cảm giác đang nghe bài giảng cuối cùng của người Thầy. Đó là một cảm giác không thể chịu đựng nổi. Rốt cuộc ông nói:

– Nàng rất yêu nhạc kịch, Marcus ạ. Hãy cho thêm điều đó vào cuốn sách của anh. Vở nhạc kịch yêu thích nhất của nàng là Madame Butteffly. Nàng nói rằng những vở nhạc kịch hay nhất đều là “ chuyện tình buồn.”

– Ai? Nola ư?

– Đúng. Người con gái mười lăm tuổi này yêu nhạc kịch đến chết đi được. Sau khi cố gắng tự tử, nàng đã đến Charlotte Hill, một trại an dưỡng, nghỉ ngơi khoảng chục ngày. Giờ người ta gọi đó là trại tâm thần. Tôi thường bí mật tới thăm nàng. Tôi mang đến cho nàng những đĩa nhạc kịch và mở bằng chiếc máy hát nhỏ cầm tay. Nàng đã cảm động đến phát khóc, nàng nói rằng nếu như nàng không trở thành diễn viên ở Hollywood, thì nàng sẽ trở thành ca sĩ ở Broadway. Và tôi bảo nàng rằng nàng sẽ trở thành một ca sĩ lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Anh biết không, Marcus, tôi thực sự nghĩ rằng Nola Kellergan đã có thể ghi dấu cho đất nước này bằng dấu ấn của nàng…

– Thầy có nghĩ rằng bố mẹ Nola có thể đã đổ trách nhiệm lên đầu cô ấy không?

– Không, tôi nghĩ rất ít có khả năng đó. Và rồi tập bản thảo, rồi từ đó… Dù sao thì, tôi không thể tưởng tượng được là David Kellergan lại giết chết con gái mình.

– Dù sao thì cô ấy đã phải chịu những trận đòn.

– Những trận đánh đấy… Chuyện thật khó tin…

– Thế còn Alabama? Nola có bao giờ nói với thầy về Alabama?

– Alabama ư? Gia đình nhà Kellergan chuyển đến từ Alabama thì có, nàng nói với tôi như vậy.

– Không, còn chuyện khác nửa kia, Harry. Em nghĩ rằng, có sự kiện nào đó đã xảy ra ở Alabama và rõ ràng có liên quan tới việc họ rời khỏi đó. Nhưng em không biết là sự kiện gì. Em không biết ai có thể nói cho em biết về điều này.

– Marcus tội nghiệp, thầy có cảm giác là anh càng đào sâu vào chuyện này, thì anh càng giải mã được nhiều ẩn số…

– Đó không chỉ là cảm giác đâu thầy Harry. Hơn nữa, em đã phát hiện ra chính Tamara Quinn là người biết chuyện giữa thầy và Nola. Bà ấy đã nói với em như vậy. Vào ngày mà Nola cố tình tự sát, bà ấy đã đến nhà thầy, vì tức tối bởi thầy không giữ lời đến dự bữa tiệc ngoài vườn do bà ấy tổ chức. Nhưng thầy không ở nhà, và bà ấy đã lục lọi trong phòng làm việc của thầy. Bà ấy đã thấy tờ giấy mà thầy viết về Nola.

– Giờ nghe anh nói tôi mới nhớ ra đúng là tôi bị mất một tờ giấy. Tôi đã tìm rất lâu, nhưng vô ích. Tôi nghĩ rằng nó đã bị mất, và điều này khiến tôi rất kinh ngạc vì hồi đó, tôi là người rất ngăn nắp. Bà ấy đã làm gì với nó?

– Bà ấy nói là đã để lạc đâu mất

– Vậy những bức thư nặc danh kia là của bà ấy?

– Em không chắc. Bà ấy thậm chí chưa bao giờ tưởng tượng có bất kỳ chuyện gì xảy ra giữa Nola và thầy. Bà ấy nghĩ đơn giản rằng thầy chỉ mơ mộng hoang tưởng về cô ấy thôi. Nói tới chuyện này, đã bao giờ thầy bị cảnh sát trưởng Pratt thẩm vấn khi ông ta điều tra về việc Nola mất tích không?

– Cảnh sát trưởng Pratt? Không, chưa bao giờ.

Thật là lạ: tại sao cảnh sát trưởng Pratt lại chưa từng thẩm vấn Harry trong khuôn khổ cuộc điều tra của mình khi mà Tamara khẳng định đã thông báo cho ông phát hiện của bà ta chứ? Không nhắc đến Nola, cũng không nói tới bức tranh, tôi bèn liều lĩnh gợi tới cái tên Stern.

– Stern? Harry nói. Có, tôi biết ông ta. Đó chính là chủ nhân của ngôi nhà ở Goose Cove. Tôi đã mua lại của ông ta sau khi cuốn Nguồn gốc cái xấu xa xuất bản thành công.

– Thầy có biết rõ về ông ta không?

– Rõ thì không. Tôi đã gặp ông ta một, hai lần gì đó vào mùa hè năm 1975. Lần đầu tiên là tại buổi vũ hội mùa hè. Chúng tôi ngồi cùng một bàn. Đó là một người đàn ông dễ mến. Sau đó tôi có gặp lại ông ta vài lần. Ông ta hào phóng, và rất tin tưởng tôi. Ông ta đã có nhiều đóng góp cho văn hóa, đó là một người đàn ông rất tốt.

– Thầy gặp ông ta lần cuối là khi nào?

– Lần cuối à? Chắc hẳn là khi kí kết hợp đồng bán nhà. Khoảng cuối năm 1976. Ma xui quỷ khiến thế quái nào tự nhiên anh lại nói về ông ta với tôi thế?

– Chỉ có vậy thôi. Hãy nói cho em biết, Harry, buổi vũ hội mùa hè mà thầy nói đấy có phải chính là buổi lễ hội mà Tamara Quinn hi vọng thầy sẽ đến rủ con gái của bà ta tham dự không?

– Chính nó. Rốt cuộc tôi đến đấy một mình. Đúng là một buổi tối…Anh biết không, chính tôi đã trúng giải nhất khi quay xổ số: một tuần đi nghỉ ở Martha’s Vineyard.

– Thầy đã đi chứ?

– Hiển nhiên rồi.

Buổi tối hôm đó khi trở về đến Goose Cove, tôi nhận được email của Roy Barnaski gửi cho tôi một lời chào mời mà không một nhà văn nào có thể từ chối.

Từ: rbarnaski@schmidandhansoncom

Ngày: thứ Hai 30/06/2008 19:54

Marcus thân!

Tôi rất thích cuốn sách của anh. Để khẳng định tiếp cho cuộc trò chuyện điện thoại của chúng ta sáng nay, anh sẽ thấy trong tài liệu đính kèm là bản dự thảo hợp đồng mà tôi nghĩ rằng anh sẽ không từ chối đâu.

Hãy gửi cho tôi những trang viết mới nhanh nhất có thể. Như là tôi đã nói với anh đó, tôi nhắm thời điểm mùa thu để xuất bản cuốn sách. Tôi nghĩ rằng nó sẽ là một thành công vang dội. Thực ra là tôi chắc chắn điều đó. Hãng phim Warner Bros nói rằng rất quan tâm tới việc chuyển thể nó thành phim. Tất nhiên là sẽ có thảo luận với anh về khoản tiền bản quyền điện ảnh.

Ở tài liệu đính kèm là một bản dự thảo hợp đồng mà theo đó, ông ta hứa ứng trước cho tôi một triệu đô la.

Đêm hôm đó, tôi thức rất khuya, suy nghĩ đủ thứ. Đúng 22 giờ 30, tôi nhận được điện thoại của mẹ tôi. Có âm thanh nào đó ở đằng sau còn mẹ tôi cứ thì thào.

– Mẹ à?

– Markie! Markie, con không thể đoán nổi mẹ đang ở với ai đâu.

– Với bố à?

– Đúng rồi. À mà không phải. Con biết không, bố con và mẹ quyết định đi New York chơi một buổi tối và bố mẹ đã ăn tối ở quán Ý gần Colombus Circle. Và bố mẹ đã gặp ai trước lối vào nào? Là Denise! Thư kí của con!

– Ôi thế à mẹ!

– Đừng có giả vờ ngây ngô nữa! Con tưởng là mẹ không biết những điều mà con đã làm à? Cô ấy đã nói hết với mẹ! Nói hết!

– Nói gì ạ?

– Rằng con đã đuổi việc cô ấy!

– Con không đuổi việc cô ấy. Con đã tìm cho cô ấy một công việc béo bở ở Schmid & Hanson. Con chẳng có gì hơn nữa mà cho cô ấy, không còn sách, không còn dự án gì cả, chẳng còn gì hết! Thì con cũng cần phải đảm bảo cho tương lai của cô ấy một chút chứ, đúng không ạ? Con đã tìm cho cô ấy một việc làm hái ra tiền ở phòng marketing.

– Ồ , Markie, mẹ và cô ấy đã ngã vào vòng tay của nhau. Cô ấy nói là rất nhớ con.

– Tội quá, mẹ ạ.

Mẹ tôi lại thì thào. Tôi nghe không rõ lắm.

– Mẹ có ý này, Markie.

– Gì ạ?

– Con có biết ông Soljenitsyne không?

– Nhà văn á?

– Có. Thế thì sao ạ?

– Tối hôm qua, mẹ đã xem một phim tài liệu về ông ta. Thật là run rủi khiến mẹ xem chương trình này con ạ! Con có biết không, ông ấy đã cưới cô thư kí của mình! Thư kí của ông ấy! Và hôm nay thì mẹ gặp ai hả con? Thư kí của con! Đó là điềm báo, Markie ạ! Cô ấy không xấu tẹo nào và nhất là cô ấy vô cùng nữ tính! Mẹ biết điều đó, phụ nữ cảm nhận được điều đó. Cô ấy rất là mắn đẻ, ngoan ngoãn, cứ chín tháng một cô ấy sẽ đẻ cho con một đứa trẻ! Mẹ sẽ dạy cô ấy biết cách nuôi nấng trẻ con, và như thế thì tất cả chúng nó sẽ giống như ý mẹ muốn! Điều đó tuyệt vời làm sao?

– Không bao giờ có chuyện đó. Con không thích cô ấy, cô ấy quá già đối với con và hơn nữa, cô ấy cũng có bạn trai rồi. Thêm vào đó, người ta không cưới thư kí của mình.

– Nhưng nếu nhà văn lớn như Soljenitsyne đã làm vậy, thì có nghĩa rằng được phép! Cô ấy đúng là có đi cùng với một thanh niên, nhưng đó là một đồ giẻ rách! Anh ta có mùi của nước hoa Cologne rẻ tiền mua ngoài chợ. Con ấy à, con là một nhà văn lớn, Markie. Con là Siêu Nhân!

– Siêu Nhân đã bị Marcus Goldman đánh bại rồi mẹ. Và vào thời điểm đó thì con mới có thể bắt đầu sống.

– Ý con là thế nào?

– Không có gì mẹ ạ, nhưng hãy để mặc Denise được yên thân ăn tối ngon lành, con xin mẹ.

Một tiếng sau, một đội cảnh sát tuần tra xuất hiện để đảm bảo mọi việc đều yên ổn. Hai nhân viên ở độ tuổi tôi, họ rất dễ mến. Tôi mời họ uống cà phê và họ nói rằng sẽ ở lại một lúc đằng trước ngôi nhà. Màn đêm thật dịu dàng, và qua khung cửa sổ để ngỏ, tôi nghe thấy tiếng đùa cợt chuyện phiếm của họ lúc này đang ngồi trên mui ô tô, hút thuốc lá. Tôi bất chợt cảm thấy cô đơn và quá xa rời với thế giới. Tôi vừa mới được đề nghị một khoản kếch xù để xuất bản một cuốn sách sẽ đưa tôi lên vị trí số 1 trên màn kịch sân khấu, và tôi sẽ tận hưởng một cuộc sống khiến cho hàng triệu người Mỹ phải mơ ước, nhưng tôi vẫn thấy thiếu thốn một cái gì đó: một cuộc sống thực sự. Trên tài khoản facebook, tôi xem lại danh sách hàng nghìn người bạn ảo, không có một người nào mà tôi có thể gọi để rủ đi uống một cốc bia. Tôi muốn có một nhóm bạn tốt để cùng họ theo dõi giải vô địch bóng chày, hay cùng nhau cắm trại vào cuối tuần; tôi muốn có một người bạn gái, dịu hiền và tốt bụng, làm cho tôi cười và mơ mộng một chút. Tôi không muốn cô đơn nữa. Trong phòng làm việc của Harry, tôi ngắm nhìn rất lâu những tấm hình tôi chụp lại từ bức tranh và Gahalowood đã tặng tôi một bức phóng to. Ai là họa sĩ? Caleb? Stern? Trong mọi trường hợp, đây là một bức vẽ tuyệt đẹp. Tôi mở máy thu âm và nghe lại đoạn hội thoại với Harry.

- Cảm ơn, Marcus. Tôi cảm động quá. Nhưng tình bạn không phải là nguyên nhân của cuốn sách này. Thế nghĩa là sao?

- Anh có còn nhớ cuộc trò chuyện của chúng ta vào ngày anh nhận bằng tốt nghiệp ở Burrows không?

- Vâng chúng ta đã cùng nhau đi bộ rất lâu xuyên qua khu ký túc xá. Chúng ta đã đi bộ đến tận phòng đấm bốc. Thầy đã hỏi em định bắt đầu làm gì từ lúc đó, và em đã trả lời mình sẽ viết một cuốn sách. Và thế là thầy hỏi tại sao em lại viết. Em trả lời thầy, em viết bởi vì em thích viết và thầy đã trả lời em rằng…

- Ừ, thầy trả lời thế nào?

- Rằng cuộc sống chỉ có rất ít ý nghĩa. Và viết sẽ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.

Theo lời khuyên của Harry, tôi bắt đầu ngồi trước máy tính để tiếp tục viết.

Goose Cove, nửa đêm. Từ khung cửa sổ mở rộng ở phòng làm việc, gió nhẹ ngoài đại dương tràn vào phòng. Một thứ mùi thật dễ chịu của những kì nghỉ. Trăng sáng vằng vặc soi tỏ mọi thứ bên ngoài.

Cuộc điều tra tiến triển tốt. Hay ít ra là trung sĩ Gahalowood và cả tôi nữa đang dần khám phá ra quy mô của vụ án. Tôi tin rằng vụ án này không đơn giản chỉ là câu chuyện tình bị cấm hay là một vụ việc ngớ ngẩn vào một tối mùa hè, một bé gái bỏ nhà và trở thành nạn nhân của một thằng vô lại, mà còn xa hơn thế nhiều. Có quá nhiều câu hỏi còn bỏ ngỏ:

– Vào năm 1969, gia đình nhà Kellergan đã rời bỏ Jackson, Alabama, trong khi mà David, người cha, đang cai quản một nhà thờ phát triển rực rỡ. Tại sao như vậy?

– Mùa hè năm 1975, Nola đang trải qua một chuyện tình với Harry Quebert, và Harry Quebert lấy cảm hứng từ đó để viết Nguồn gốc cái xấu xa. Nhưng Nola cũng còn có một mối quan hệ với Elijah Stern, người đã vẽ chân dung không mảnh vải che thân. Cô bé này thực sự là ai? Phải chăng là một loại nữ thần?

– Vai trò của Luther Caleb là gì, chính Nancy Hattaway đã tiết lộ với tôi rằng anh ta tới đón Nola ở Aurora để đưa tới Concord?

– Ngoài Tamara Quinn thì còn ai nữa biết được chuyện về Nola và Harry? Ai là người có thể gửi cho Harry những bức thư nặc danh?

– Tại sao Cảnh sát trưởng Pratt, người đang phụ trách cuộc điều tra về vụ Nola mất tích, lại không thẩm vấn Harry sau khi Tamara Quinn đã tiết lộ phát hiện của mình? Ông ta có thẩm tra Stern không?

– Ai là tên sát nhân đã giết chết Deborah và Nola Kellergan?

– Và ai là cái bóng không thể nắm giữ được muốn ngăn chặn tôi kể ra câu chuyện này?

TRÍCH ĐOẠN TỪ: NGUỒN GỐC CÁI XẤU XA,

TÁC GIẢ: HARRY QUEBERT

Thảm kịch đã xảy ra vào ngày Chủ nhật. Nàng thật đau khổ và đã cố gắng tìm đến cái chết.

Con tim nàng không còn đủ sức đập từng nhịp nếu như nó không đập vì anh. Nàng cần có anh để sống. Và kể từ khi anh hiểu ra điều đó, anh đã tới bệnh viện hàng ngày để bí mật nhìn nàng. Làm thế nào mà một người con gái đẹp nhường ấy, lại có thể muốn tự kết liễu đời mình? Anh hận bản thân. Cứ như thể chính anh là người đã gây ra đau khổ cho nàng.

Ngày nào cũng vậy, anh bí mật đến ngồi trên một chiếc ghế dài trong công viên công cộng bao quay khu bệnh viện và chờ đợi thời điểm nàng bước ra ngoài để tận hưởng ánh nắng mặt trời. Anh nhìn nàng sống. Sống thật là quan trọng. Sau đó, anh lợi dụng lúc nàng ra khỏi phòng để đặt vào dưới gối nàng một bức thư.

Người yêu dịu dàng của anh!

Em không bao giờ được chết. Em là một thiên thần. Thiên thần không chết bao giờ.

Xem kìa, anh không bao giờ rời xa em. Hãy lau khô những giọt nước mắt, anh xin em. Anh không thể chịu đựng được khi thấy em buồn.

Anh ôm em để nỗi đau của em vơi bớt.

Tình yêu của em,

Thật là bất ngờ khi thấy bức thư của anh lúc em đi ngủ! Em bí mật viết thư hồi âm anh: buổi tối, chúng em không được phép thức sau giờ giới nghiêm và các nữ y tá thì quả là quá quắt. Nhưng em không thể cưỡng lại được: em phải trả lời ngay sau khi đọc thư của anh. Chỉ để nói rằng em yêu anh. Em mơ được khiêu vũ với anh. Em chắc chắn rằng anh sẽ khiêu vũ giỏi hơn hẳn những người khác. Em rất muốn anh đưa em tới buổi vũ hội mùa hè, nhưng em biết rằng anh không thích. Anh sẽ nói rằng nếu mọi người thấy chúng ta bên nhau, chúng ta sẽ thất bại. Dù sao thì em cũng chưa thể ra khỏi đây. Nhưng sống để làm gì khi mà chúng ta không thể yêu nhau? Đó là câu hỏi em đặt ra khi em làm điều mà mình đã làm.

Em mãi mãi thuộc về anh.

Thiên thần kiều diễm của anh,

Một ngày nào đó, chúng ta sẽ khiêu vũ cùng nhau. Anh hứa với em. Sẽ có ngày tình yêu của chúng ta giành chiến thắng và chúng ta có thể công khai yêu nhau. Và chúng ta sẽ khiêu vũ, chúng ta sẽ nhảy trên bờ biển. Trên bờ biển, như ngày đầu tiên. Em đẹp tuyệt khi em ở trên bãi biển.

Hãy nhanh chóng bình phục nhé! Một ngày nào đó, chúng ta sẽ khiêu vũ trên bãi biển.

Tình yêu của em,

Khiêu vũ trên bãi biển. Em chỉ ước mơ có vậy.

Hãy nói với em rằng một ngày nào đó anh sẽ dìu bước em khiêu vũ trên biển, chỉ mình anh và em…

tác: The Truth About the Harry Quebert Affair ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Phụ Nữ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.