Sự Thật Về Vụ Án Harry Quebert Hay Chuyện Nàng Nola

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8
Con Quạ

❊ ❊ ❊

“Ai cả gan thì người đó chiến thắng, Marcus ạ. Hãy nghĩ tới châm ngôn này mỗi khi anh phải đứng trước một lựa chọn khó khăn. Ai cả gan thì người đó chiến thắng.”

TRÍCH ĐOẠN TỪ VỤ ÁN HARRY QUEBERT

Thứ Ba, ngày 22 tháng Tám năm 2008, sau khi phát hiện ra xác chết của Nola vài tuần trước, dân chúng xung quanh thành phố Montburry nhỏ bé đều biết đến sự kiện khuấy động Aurora. Từng đoàn xe cảnh sát từ mọi ngả đổ về hướng nhà nghỉ gần khu công nghiệp. Đám đông người hiếu kì kháo nhau rằng có một người đàn ông đã tự tử, đó chính là cựu Cảnh sát trưởng ở Aurora.

Trung sĩ Gahalowood đứng trước cửa phòng, ngây người ra nhìn. Các nhân viên cảnh sát thuộc đội cảnh sát khoa học đang làm việc xung quanh hiện trường, còn trung sĩ Gahalowood thì chỉ biết đứng nhìn. Tôi tự hỏi không biết điều gì đang diễn ra trong đầu anh ta. Rốt cuộc thì anh ta quay lại, nhận ra tôi đang ngồi trên mui một chiếc xe cảnh sát quan sát mình. Trung sĩ nhìn tôi với ánh mắt hung dữ và tiến về phía tôi.

– Anh làm trò quái gì với máy ghi âm thế hả nhà văn?

– Tôi đang dựng cảnh cho cuốn sách của tôi.

– Anh có biết anh đang ngồi trên mui xe cảnh sát không?

* * *

– Anh làm trò quái gì với máy ghi âm thế hả nhà văn?

– Tôi đang dựng cảnh cho cuốn sách của tôi.

– Anh có biết anh đang ngồi trên mui xe cảnh sát không?

– Ồ, xin lỗi, thưa trung sĩ. Thế thì sao?

– Dừng ngay máy ghi âm của anh lại đi có được không.

Tôi làm theo mệnh lệnh. Gahalowood giải thích:

– Theo những phát hiện đầu tiên của cuộc điều tra, Cảnh sát trưởng Pratt bị đánh vào sau hộp sọ. Một hoặc nhiều cú đánh. Bằng vật nặng.

– Giống Nola à?

– Cùng kiểu đó. Ông ấy chết cách đây khoảng mười hai tiếng. Có nghĩa việc đó xảy ra vào đêm nay. Tôi nghĩ Pratt biết hung thủ. Đặc biệt là ông ta vẫn cắm chìa khóa trên ổ. Hẳn là ông ta đã mở cửa cho tên sát nhân, có thể ông ta đang đợi hắn đến. Các cú đánh giáng xuống phía sau hộp sọ, cho thấy lợi dụng lúc ông ta sơ hở quay người đi thì vị khách đã giáng cho ông ta những cú định mệnh. Chúng tôi vẫn chưa tìm thấy hung khí giết người. Thủ phạm đã mang nó đi. Có thể đó là một thanh sắt, hoặc cái gì đó tương tự. Như vậy có nghĩa, không hề có cãi và xảy ra trước hành vi giết người nhưng là hành động được suy tính trước. Có ai đó đã tới tận đây để giết Pratt.

– Có nhân chứng không?

– Không có ai. Nhà nghỉ gần như vắng người. Không ai nhìn thấy hay nghe thấy gì. Lễ tân đóng cửa lúc 19 giờ. Bảo vệ trực từ 22 giờ tới 7 giờ sáng nhưng lại ngồi chết dí trước tivi. Ông ta không hay biết gì. Ở đây cũng chẳng có camera.

– Theo anh, ai có thể gây ra chuyện này? Tôi hỏi. Phải chăng đó cũng chính là người kẻ đốt Goose Cove?

– Có thể. Rất có thể là người được Pratt bảo vệ, bây giờ hắn sợ ông ta khai ra. Có thể ngay từ đầu, Pratt biết đích danh kẻ giết Nola. Nhẽ ra ông ta phải bị trừ khử luôn để không bao giờ hở chuyện.

– Hình như anh đã có hẳn một giả thuyết phải không trung sĩ?

– Quả thật, yếu tố nào có thể nối liền tất cả các nhân vật lại với nhau: Goose Cove, chiếc Chevrolet màu đen, mà không phải là Harry Quebert…

– Elijah Stern?

– Elijah Stern. Tôi cũng nghĩ tới ông ta từ lâu và vẫn nghĩ tới ông ấy khi nhìn thấy xác chết của Pratt. Tôi không biết Elijah Stern có giết Nola hay không, nhưng ông ta đã che giấu Caleb từ ba mươi năm nay…Tự nhiên, hắn lại nghỉ việc một cách rất bí ẩn, rồi chiếc ô tô biến mất mà ông ta không hề báo cho ai.

– Anh đang nghĩ tới chuyện gì vậy, trung sĩ?

– Tôi cho rằng Caleb chính là tội phạm và Stern đã nhúng tay vào việc này. Tôi nghĩ khi Caleb bị phát hiện ở Side Creek trên chiếc Chevrolet đen rồi thoát được sự truy đuổi của Pratt, anh ta tới trốn ở Goose Cove. Toàn bộ khu vực bị vây chặn, anh ta biết không còn cơ hội thoát thân, nhưng sẽ chẳng ai đến tìm anh ta ở đó. Không ai hết ngoại trừ Stern. Rất có khả năng là ngày 30 tháng Tám năm 1975, Stern thực sự đã đi vắng cả ngày để giải quyết công việc riêng như ông ta khẳng định. Nhưng khi quay về nhà và nhận thấy Luther vẫn còn chưa về, tệ hơn nữa là anh ta đi bằng xe công vụ, làm sao có thể tưởng tượng ông ta khoanh tay ngồi im được? Lô gich thì ông ta phải đi tìm Luther để ngăn cản anh ta làm điều xằng bậy. Tôi nghĩ ông ta cũng đã làm như vậy, nhưng khi tới Aurora thì quá muộn rồi: cảnh sát ở khắp nơi, thảm kịch mà ông ta nghi ngờ đã xảy ra. Ông ta phải tìm Caleb bằng mọi giá. Ông ta sẽ đến đâu đầu tiên hả nhà văn?

– Goose Cove.

– Chính xác. Đó là nhà của Stern, ông ta biết Caleb sẽ cảm thấy an toàn ở đó. Nếu đến đấy, thậm chí anh ta còn có hẳn bộ chìa khóa riêng. Tóm lại, Stern đến xem điều gì xảy ra ở Goose Cove và ông ta đã tìm ra Luther.

* * *

Ngày 30 tháng Tám năm 1975, theo giả thuyết của Gahalowood

Stern phát hiện chiếc Chevrolet đen đỏ trước gara: Luther đang lom khom cúi xuống cốp xe.

– Luther! Stern nhảy xuống xe, hét lên. Cậu làm gì thế hả?

Luther hoảng hốt.

– Chúng phôi…chúng phôi… cãi nhau…. Phôi không muốn làm cô ấy đau.

Stern tiến lại gần, phát hiện ra Nola nằm trong cốp xe cùng chiếc túi da, cơ thể vặn vẹo một cách kì quái, cô bé không còn cử động.

– Trời ơi! Cậu đã giết cô ấy rồi!

Stern nôn thóc nôn tháo.

– Cô ấy pháo cảnh sát, nếu không thì…

– Luther! Cậu đã làm gì thế hả? Cậu đã làm gì?

– Giúp phôi phới, thương phôi phới, Eli, hãy giúp phôi.

– Trốn đi, Luther. Nếu cảnh sát túm được, cậu sẽ phải chết trên ghế điện.

– Không, hãy thương hại phôi! Đừng vậy! Đừng vậy! Luther rống lên, vô cùng hoảng sợ.

Lúc đó Stern mới thấy vũ khí giắt ở thắt lưng của Luther.

– Luth! Cái… Cái gì thế này?

– Phà già… Phà già nhìn thấy hết.

– Bà già nào?

– Ở ngôi nhà đằng kia

– Lạy Chúa, có ai trông thấy cậu không?

– Eli, phôi và Nola cãi nhau… Cô ấy không bỏ qua. Phôi buộc phải phàm cô ấy đau. Nhưng cô ấy phoát ra rồi phùng chạy, cô ấy chạy phào ngôi nhà… Phôi chạy theo, phôi tướng ngôi nhà không có người ở. Nhưng có phà già ấy ở đó nên phôi phải giết phà ấy.

– Cái gì? Cái gì? Cậu nói gì?

– Eli, phôi phan ông, cứu phôi phới.

Cần phải phi tang xác chết thật xa. Không lãng phí một giây, Stern vớ lấy cái xẻng trong ga ra và vội vàng đi đào hố. Ông ta chọn bìa rừng, ở đó đất mềm nên không ai, nhất là Quebert có thể phát hiện ra dấu vết đào bới. Ông ta nhanh chóng đào một cái hồ không sâu lắm, sau đó gọi Caleb khiêng xác chết lại, nhưng ông ta không thấy Caleb ở đó nữa, anh ta đang quỳ trước chiếc xe, cúi xuống cạnh đống giấy.

– Luther? Trời ơi, cậu còn làm trò gì nữa thế?

Luther khóc.

– Phấy là cuốn sách của Quebert… Nola bảo tôi, Quebert đã viết cho cô ấy một cuốn sách… Đẹp tuyệt vời.

– Mang cô ta lại đây, tôi đào xong hố rồi.

– Đợi đã!

– Đợi gì?

– Phôi muốn nói với cô ấy rằng phôi yêu cô ấy.

– Hả?

– Hãy để phôi viết cho cô ấy một câu. Chỉ một câu thôi. Cho phôi mượn chiếc bút. Sau đó, chúng ta sẽ chôn cô ấy, sau đó, phôi sẽ biến mất mãi mãi.

Stern chấp thuận; ông ta rút chiếc bút từ túi áo vét đưa cho Caleb, anh ta ghi lên trang bìa tập bản thảo: Vĩnh biệt, Nola yêu quý. Sau đó anh ta cẩn thận bỏ tập bản thảo vào chiếc túi lúc nào cũng quàng chéo trên vai Nola, rồi vác cô bé tới tận miệng hố. Anh ta vứt xác Nola xuống đó. Hai người đàn ông vội vàng lấp đất lại, cẩn thận đặt lên trên vài cành thông gai, mấy cành cây và một ít rêu để nguỵ trang một cách hoàn hảo nhất.

* * *

– Thế rồi sau đó thì sao? Tôi hỏi.

– Sau đó, Gahalowood nói với tôi, Stern muốn tìm cách bảo vệ Luther. Chính là sử dụng Pratt.

– Pratt?

– Đúng vậy, tôi nghĩ Stern biết chuyện Pratt làm với Nola. Ta biết rằng Caleb lảng vảng ở Goose Cove, rình rập Harry và Nola: chắc có thể anh ta bắt gặp Pratt túm lấy Nola ở vệ đường và bắt cô ta mút dương vật. Rất có khả năng Caleb đã kể lại chuyện này cho Stern biết. Cho nên tối hôm đó, Stern để Luther ở Goose Cove, đi tìm gặp Pratt tại văn phòng cảnh sát: ông ta đợi thật muộn, có thể là sau 11 giờ, khi các cuộc tìm kiếm đã kết thúc. Ông ta muốn gặp một mình Pratt để ra điều kiện: ông ta yêu cầu để cho Luther chạy thoát và dàn xếp thế nào đó để Luther lọt qua được rào chắn, đổi lại, Stern sẽ không tiết lộ với ai chuyện giữa Pratt với Nola. Pratt chấp thuận. Rất có khả năng là như vậy, nếu không thì làm sao mà Caleb có thể đi tới tận Massachusetts? Nhưng Caleb cảm thấy bị lâm vào bước đường cùng. Anh ta không còn chỗ nào để đi, anh ta mất phương hướng. Anh ta mua rượu uống. Anh ta muốn kết thúc mọi chuyện. Anh ta đã lao xuống vực ở vách đá Sunset Cove. Vài tuần sau, khi tìm ra được chiếc xe, Pratt đích thân tới tận Sagamore để bịt kín mọi chuyện. Ông ta dàn xếp để Caleb không trở thành đối tượng tình nghi.

– Nhưng tại sao lại phải đánh lạc hướng nghi ngờ Caleb trong khi anh ta đã chết rồi?

– Vì còn Stern nữa. Stern biết chuyện. Nếu tha cho Caleb, thì Stern cũng sẽ được yên ổn.

– Vậy cả Pratt lẫn Stern đều biết sự thật từ đầu ư?

– Đúng. Họ đã đào sâu chôn kín câu chuyện này. Họ không bao giờ gặp lại nhau nữa. Stern rũ bỏ ngôi nhà ở Goose Cove bằng cách bán đứt cho Harry rồi sau đó không bao giờ đặt chân tới Aurora nữa. Trong suốt ba mươi năm, tất cả mọi người đều tin rằng câu chuyện này sẽ không bao giờ được giải quyết.

– Cho tới tận khi người ta phát hiện ra hài cốt của Nola.

– Và một nhà văn cứng đầu cứng cổ đã tới để lục lại toàn bộ sự việc. Một nhà văn khiến có kẻ tìm mọi cách buộc anh ta từ bỏ.

– Pratt và Stern muốn giấu kín sự việc này, tôi nói. Nhưng vậy thì ai đã giết Pratt? Phải chăng là Stern vì thấy Pratt có vẻ suy sụp và sắp khai ra sự thật à?

– Điều đó còn cần phải điều tra tiếp. Nhưng đừng tiết lộ nửa lời về tất cả những việc đó vào lúc này nhé, nhà văn, tôi không muốn có bất kì sự rò rỉ thông tin một lần nữa trên báo chí. Tôi sẽ tìm hiểu cặn kẽ thêm về cuộc đời Stern. Giả thuyết trên khá là khó kiểm chứng. Nhưng trong mọi trường hợp, đã có một mẫu số chung cho tất cả các kịch bản đó là Luther Caleb. Và nếu chính xác hắn là kẻ giết Nola Kellergan, thì chúng ta sẽ có được kết luận…

– Qua việc phân tích nét chữ… tôi nói.

– Chính xác.

– Câu hỏi cuối cùng, thưa trung sĩ: tại sao Stern lại muốn bảo vệ Caleb bằng bất cứ giá nào?

– Điều đó chính tôi cũng rất muốn biết, nhà văn ạ.

Cuộc điều tra về cái chết của Pratt thực sự rất phức tạp: cảnh sát không hề có bất kì một mắt xích cụ thể hay một hướng điều tra nào cả. Một tuần sau khi Pratt bị ám sát, người ta tổ chức lễ mai táng cho Nola, đồng thời trả bộ hài cốt về cho mục sư Kellergan. Buổi lễ diễn ra vào thứ Tư ngày 30 tháng Bảy năm 2008 nhưng tôi không tham dự. Hôm đó trời bất chợt đổ mưa bụi, người đi dự lẽ không đông lắm. David Kellergan đi xe mô tô tới tận mộ. Ông ta đeo tai nghe. Theo như lời mọi người kể lại cho tôi, những lời duy nhất ông ta nói là: “Tại sao lôi nó từ dưới đất lên để rồi lại chôn nó xuống dưới đất như vậy?” Ông ta không hề khóc.

Tôi không có mặt tại buổi lễ vì phải làm một việc quan trọng: đi gặp Harry để bầu bạn với ông. Harry ngồi trên bãi đỗ xe, ngực trần.

– Thầy có muốn vào trong trú mưa không, Harry, tôi nói với ông.

– Người ta đang chôn cô ấy đúng không?

– Vâng.

– Họ chôn nàng, còn tôi thậm chí không hề có mặt.

– Như vậy tốt hơn… Tốt nhất thầy không nên có mặt…Vì tất cả chuyện này.

– Quỷ tha ma bắt cái gọi là người ta đi! Họ đang chôn cất Nola và tôi thì thậm chí không có mặt để nói với nàng lời vĩnh biệt, để nhìn thấy nàng lần cuối cùng. Để được ở bên nàng. Từ ba mươi ba năm nay tôi chờ đợi để được gặp nàng, dù chỉ là một lần cuối cùng. Anh có biết tôi đang muốn được ở đâu không?

– Chỗ đám ma.

– Không. Ở thiên đường của các nhà văn.

Ông nằm dài người trên nền xi măng và không cựa quậy. Tôi nằm xuống cạnh ông. Mưa rơi xuống người chúng tôi.

– Marcus, tôi muốn chết.

– Em biết.

– Làm sao anh biết điều đó?

– Những người bạn thì cảm nhận được như vậy.

Yên lặng một hồi dài. Rốt cuộc tôi nói thêm:

– Hôm trước, thấy bảo chúng ta không thể là bạn của nhau được nữa.

– Đúng vậy. Chúng ta đang tới gần thời điểm nói lời vĩnh biệt Marcus ạ. Như thể anh biết rằng tôi đang đến gần cái chết, và anh biết rằng chỉ còn vài tuần nữa trước khi nói lời vĩnh biệt. Đây chính là bệnh ung thư của tình bạn.

Ông nhắm mắt lại. Dang rộng hai tay như thể đang nằm trên cây thánh giá. Tôi bắt chước ông. Chúng tôi cứ nằm như vậy trên nền xi măng rất lâu.

Sau đó, tôi rời nhà nghỉ đến tiệm Clark’s tìm cách nói chuyện với những người dự lễ mai táng Nola. Tiệm ăn hoàn toàn vắng bóng người: chỉ có duy nhất một nhân viên phục vụ đang uể oải đánh bóng quầy hàng và khi thấy tôi đến thì giả vờ hoạt bát nhanh nhẹn, rót cho tôi cốc bia lạnh. Đúng lúc đó tôi phát hiện ông Robert Quinn đang nằm ẹp dưới đất ở cuối phòng, vừa nhấm nháp lạc rang, vừa chơi trò điền từ vào ô trống trên mấy tờ báo cũ lăn lóc trên bàn ăn. Robert Quinn đang trốn vợ. Tôi tới gần, mời ông ấy uống bia, ông ấy nhận lời và ngồi dẹp vào một đầu ghế để nhường chỗ cho tôi. Một động tác hết sức cảm động: nhẽ ra tôi có thể ngồi đối diện với ông ấy, trên một trong số khoảng năm mươi chiếc ghế trống trong nhà hàng. Nhưng ông ấy lại ngồi lui về một đầu để tôi ngồi xuống ngay bên cạnh, trên cùng một chiếc ghế dài nhỏ.

– Ông có dự đám tang Nola không? Tôi hỏi.

– Có.

– Vậy việc diễn ra thế nào?

– Bẩn thỉu giống như toàn bộ câu chuyện này. Nhà báo nhiều hơn người nhà.

Chúng tôi ngồi im lặng một lúc lâu rồi ông ấy hỏi, để cho có chuyện mà nói.

– Thế việc viết sách của anh thế nào rồi?

– Đang tiến triển tốt. Nhưng cháu vừa đọc lại hôm qua và phát hiện cần phải làm sáng rõ thêm một số sự việc. Đặc biệt là về vợ bác. Bác ấy khẳng định đã có trong tay một tờ giấy quan trọng, do chính tay Harry Quebert viết, cho phép kết luận sự việc nhưng nó bị biến mất một cách bí ẩn. Thế bác có tình cờ biết tờ giấy đó biến đi đằng nào không ạ?

Ông uống một ngụm bia thật lớn, rồi còn tiếp tục ăn mấy hạt lạc trước khi trả lời tôi.

– Đốt rồi, ông nói với tôi. Tờ giấy chết tiệt ấy bị đốt rồi.

– Gì cơ ạ? Làm sao bác biết chuyện đó? Tôi vô cùng sửng sốt.

– Vì chính tôi là người đốt.

– Gì cơ? Nhưng tại sao? Sao bác chẳng bao giờ nói?

Ông nhún vai, nói rõ ràng:

– Bởi vì chưa bao giờ người ta hỏi tôi. Cho tới bây giờ tính ra là ba mươi ba năm vợ tôi nói với tôi về tờ giấy. Bà ấy gào thét, la lối om sòm: “Nó ở đấy cơ mà! Nó ở trong két này cơ mà! Ở đây cơ mà! Ở đây cơ mà!”. Bà ấy chưa bao giờ nói: “Robert, chồng yêu à, anh có tình cờ nhìn thấy tờ giấy ấy ở đâu không?”. Bà ấy chưa bao giờ hỏi tôi, thế cho nên tôi chưa bao giờ trả lời.

Tôi cố gắng không tỏ vẻ ngạc nhiên để ông nói tiếp.

– Thế là thế nào? Chuyện gì đã xảy ra?

– Mọi chuyện bắt đầu vào một chiều Chủ nhật: vợ tôi tổ chức một buổi liên hoan trong vườn rất nực cười để nghênh đón Quebert, nhưng Quebert lại không đến. Bà ấy phát điên phát dại, nên quyết định tới tận nhà riêng tìm gặp anh ta. Tôi còn nhớ rõ hôm đó là Chủ nhật ngày 13 tháng Bảy năm 1975. Cùng ngày cô bé Nola tự tử.

* * *

Chủ nhật, 13 tháng Bảy năm 1975

– Robert! Rooooooooooobert!

Tamara giận điên người xông vào nhà, tay cầm tờ giấy liên tục quạt quạt. Bà đi xuyên qua mấy phòng ở tầng trệt thì thấy ông chồng đang ngồi đọc báo trong phòng khách.

– Robert, trời đất ơi! Tại sao ông không trả lời khi tôi gọi hả? Ông có điếc không thế ? Nhìn đây! Nhìn cái kinh khủng này đi! Đọc đi, thật tởm lợm!

Bà chìa ra mẩu giấy vừa mới ăn cắp từ nhà Harry, ông đọc:

Nola của anh, Nola yêu quý, tình yêu Nola. Em đã làm gì? Tại sao em lại muốn chết? Phải chăng đó là vì anh? Anh yêu em, anh yêu em hơn tất cả. Đừng bỏ anh đi. Nếu em chết thì anh cũng chết. Điều quan trọng nhất trong cuộc sống của anh, Nola à, đó là em. Bốn chữ: N-O-L-A.

– Bà tìm thấy cái này ở đâu đấy?

– Ở nhà thằng con hoang Harry Quebert! Hừm!

– Bà đến nhà anh ta để ăn trộm cái này à?

– Tôi không ăn trộm cái gì cả, tôi cần cái này! Tôi biết chuyện này rồi! Hắn là loại người vô đạo đức bẩn thỉu, lừa đảo trẻ con mười lăm tuổi. Hắn làm tôi lộn mửa! Tôi muốn ói đây! Tôi muốn ói, Bobbo, ông nghe tôi nói chứ hả? Harry Quebert yêu trẻ con! Đây là chuyện bất hợp pháp! Hắn là đồ con lợn! Đồ con lợn! Hắn đến tiệm Clark’s là để lừa tình, ừ, đúng thế! Hắn tới quán ăn của tôi để ngắm đít trẻ!

Robert đọc đi đọc lại đoạn văn nhiều lần. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây đúng là những lời lẽ yêu đương do Harry viết ra. Lời lẽ yêu đương dành cho một bé gái mười lăm tuổi.

– Bà định làm gì với tờ giấy này? Ông hỏi vợ.

– Tôi không biết.

– Bà có định bảo cảnh sát không?

– Cảnh sát à? Không, Bobbo ạ. Bây giờ chưa phải lúc. Tôi không muốn tất cả mọi người biết tên tội phạm Quebert lại đi thích một đứa bé gái hơn Jenny cưng của chúng ta. Jenny đâu rồi? Trong phòng nó à?

– Bà biết không, mấy phút sau khi bà ra khỏi nhà, chàng cảnh sát trẻ Travis Dawn tới đây mời con gái chúng ta đi dự buổi vũ hội mùa hè đấy. Chúng nó đi ăn tối với nhau ở Montburry rồi. Jenny đã tìm được người để đi cùng đến dạ hội. Điều này không tuyệt hay sao?

– Tuyệt, tuyệt, chỉ có ông mới không ra gì, Bobbo khốn khổ của tôi ạ! Thôi nào, bây giờ hãy để cho tôi được yên! Tôi phải giấu tờ giấy này ở đâu để không ai biết.

Bobbo vâng theo lệnh, chạy ra trước cổng ngồi đọc nốt tờ báo. Nhưng ông không thể tập trung được, đầu óc quá bận rộn với điều mà bà vợ vừa phát hiện ra. Harry, một nhà văn lớn, vậy mà viết những lời lẽ yêu đương cho một đứa trẻ con chỉ bằng nửa tuổi anh ta. Cô bé Nola tốt bụng. Thật đúng là phiền toái. Có nên báo cho Nola biết chuyện này không nhỉ? Nói cho cô bé rằng Harry đang tràn đầy xúc cảm không thể kiềm chế, có thể anh ta sẽ trở nên nguy hiểm? Hay có phải báo cảnh sát, để cho cả bác sĩ đến thăm khám và chăm sóc anh ta?

Sau sự kiện trên một tuần thì diễn ra lễ hội mùa hè. Robert và Tamara Quinn đứng trong góc phòng, thưởng thức món cocktail không rượu. Đúng lúc đó họ nhận ra Harry Quebert giữa đám khách mời. “Nhìn kia, Bobbo, Tamara rít lên, kẻ vô đạo đức!” Họ quan sát Harry hồi lâu. Bà Tamara tiếp tục xả ra hàng loạt những lời chửi rủa thóa mạ mà chỉ Robert nghe thấy.

– Bà định làm gì với tờ giấy kia? Rốt cuộc ông Robert hỏi.

– Tôi không biết. Nhưng chắc chắn là tôi sẽ bắt anh ta phải trả nợ. Anh ta ghi sổ ở cửa hàng đến tận 500 đô la rồi!

Harry có vẻ rất lúng túng; anh đến quầy bar tự rót đồ uống và cố tỏ ra thật thoải mái. Sau đó, anh tiến lại phía nhà vệ sinh.

– Này, hắn đi vào toa lét kìa, bà Tamara nói. Nhìn kìa, nhìn kìa, Bobbo, ông có biết hắn chuẩn bị làm gì không.

– Thì đi ị chứ còn làm gì?

– Không, hắn vào đó nghĩ tới đứa bé kia và thủ dâm!

– Gì cơ?

– Thôi ông im đi Bobbo! Ông chỉ được cái ngoa ngoắt lắm mồm, tôi không muốn nghe ông nói nữa. Ông đứng im đây nhé.

– Bà đi đâu thế?

– Đứng im đấy. Rồi mở to mắt ra mà nhìn.

Bà Tamara đặt cốc nước lên bàn cao, lén lút đi về phía nhà vệ sinh, bước vào đúng phòng mà Harry Quebert vừa mới bước vào. Vài giây sau, bà bước ra, vội vàng chạy lại phía chồng.

– Bà làm gì thế? ông Robert hỏi.

– Đã bảo im mồm! Bà vợ vừa chửi chồng vừa nâng cốc lên. Ông im mồm đi, nếu không chúng ta sẽ bị tóm đấy!

Amy Pratt thông báo với khách mời đã tới giờ ăn. Đám đông chậm rãi đi lại bàn. Lúc đó , Harry bước ra khỏi nhà vệ sinh, người mướt mồ hôi, sợ sệt hòa lẫn vào đám khách mời.

– Nhìn hắn chạy như thỏ ý kìa, Tamara thì thầm. Hắn đang sợ.

– Rốt cuộc, bà đã làm gì thế? Robert hỏi.

Bà Tamara mỉm cười, kín đáo tung hứng thỏi son đỏ chót trên tay. Bà vừa mới dùng thỏi son đó để viết trên tấm gương trong nhà vệ sinh. Bà chỉ trả lời gọn lỏn:

– Tôi viết nhắn cho hắn mấy chữ mà hắn không thể quên được.

* * *

Ngồi khuất tận phía sau cùng trong tiệm ăn, tôi nghe ông Robert Quinn kể chuyện mà không khỏi sững sờ.

– Vậy ra tin nhắn trên tấm gương trong nhà vệ sinh là do vợ bác viết à? Tôi nói.

– Đúng vậy. Harry Quebert là nỗi ám ảnh của bà ấy. Bà ấy không còn nói với tôi chuyện gì khác ngoài tờ giấy. Bà ấy bảo chắc chắn sẽ hạ gục Harry. Bà ấy bảo báo chí trong vùng sẽ sớm loan tin: Nhà văn nổi tiếng là kẻ đồi bại. Rốt cuộc bà ấy báo với Cảnh sát trưởng Pratt. Mười lăm ngày sau buổi dạ hội mùa hè, bà ấy đã kể hết với Pratt.

– Làm sao bác biết được chuyện đó? Tôi hỏi. Ông do dự giây lát trước rồi trả lời:

– Tôi biết vì… chính Nola kể cho tôi.

* * *

Thứ Ba ngày 5 tháng Tám năm 1975

Khoảng 18 giờ, ông Robert từ xưởng may găng tay trở về. Như mọi khi, ông đỗ chiếc Chrysler cũ kĩ trong lối đi, sau khi đã tắt máy, ông soi vào kính chiếu hậu chỉnh lại chiếc mũ, bắt chước kiểu nhìn của diễn viên Robert Stack lúc anh ta đóng vai Eliot Ness đang chuẩn bị đánh một trận ra trò vào mông các thành viên trong đội. Ông thường mang theo cái mũ ấy trong xe ô tô. Từ lâu Ông không còn có cảm hứng về nhà. Đôi khi ông đi lòng vòng về nhà muộn, thỉnh thoảng ông dừng lại chỗ người bán kem. Khi đứng dậy, ông nghe thấy có tiếng gọi từ sau hàng rào. Ông quay lại, nhìn quanh, chợt nhận ra Nola đang trốn sau hàng cây mào gà.

– Nola à? Robert hỏi. Chào cháu gái, cháu khỏe không?

Cô bé thì thầm:

– Cháu cần nói chuyện với bác, bác Quinn. Chuyện rất quan trọng.

Ông vẫn tiếp tục nói to và dõng dạc:

– Thế thì vào nhà đi cháu, bác sẽ làm cho cháu một cốc nước chanh thật tươi mát.

Cô bé ra hiệu cho ông hạ thấp giọng.

– Không, Nola nói, chúng ta phải tới chỗ nào đó yên tĩnh. Có thể lên xe của bác đến nơi khác không ạ? Trên đường Montburry có chỗ bán xúc xích, có thể ở đó yên tĩnh.

Mặc dù rất ngạc nhiên trước đề nghị này, nhưng Robert không hề từ chối. Ông cho Nola lên ô tô rồi đi theo hướng Montburry. Họ dùng lại cách Montburry vài dặm, trước túp lều nhỏ dựng bằng gỗ ván nơi bán xúc xích và đồ ăn sẵn. Robert mua cho Nola một chiếc bánh sáp ong và một lon soda; mua cho mình một chiếc xúc xích và chai bia không cồn. Cả hai ngồi bên chiếc bàn kê ngoài bãi cỏ.

– Nào, có chuyện gì hả cô bé? Robert vừa hỏi vừa nhồm nhoàm ăn xúc xích rất ngon lành. Chuyện gì nghiêm trọng đến nỗi cháu không thể vào nhà uống nước chanh được nào?

– Cháu cần bác giúp, bác Quinn ạ. Cháu biết điều này đối với bác có vẻ kì cục, nhưng… Hôm nay, ở tiệm Clark’s đã xảy ra một chuyện, mà chỉ có bác là người duy nhất mới có thể giúp cháu.

Thế là Nola kể lại câu chuyện mà cô bé đã ngẫu nhiên chứng kiến cách đó hai tiếng đồng hồ. Lúc đó, Nola tới gặp bà Quinn để lĩnh tiền công cho những ngày phục vụ tại quán vào thứ Bảy từ trước vụ cô tự tử mà không thành. Lúc đó là khoảng 16 giờ. Cô đến tiệm Clark’s và chỉ thấy Jenny cùng vài người khách trong quán. Jenny mải xếp lại chồng đĩa, chỉ bảo với Nola là bà Quinn đang bận trong phòng làm việc và cũng không nói còn ai khác trong phòng. Phòng làm việc là nơi bà Quinn lưu giữ tất cả các giấy tờ sổ sách kế toán và các công thức chế biến trong két sắt, là nơi mắng mỏ những người giao hàng chậm qua điện thoại hoặc chỉ đơn giản là nơi để bà Quinn vào đó đóng cửa lại không có lí do gì chính đáng mỗi khi Nola muốn được trả tiền công. Đó là một căn phòng chật chội, trên cửa có gắn biển PHÒNG RIÊNG. Có thể đi vào phòng làm việc từ hành lang dành cho nhân viên phục vụ ở phía sau và dẫn tới khu vệ sinh của nhân viên.

Nola tiến tới trước cửa phòng làm việc, chuẩn bị gõ cửa thì nghe có tiếng nói. Có ai đó cũng đang ở trong phòng cùng với bà Tamara.

Giọng đàn ông. Nola giỏng tai lên nghe, hiểu được một đoạn của cuộc đối thoại.

– Hắn là tên tội phạm, ông hiểu chứ? Bà Tamara nói. Cũng có thể hắn là yêu quái râu xanh! Ông phải làm gì đó đi.

– Bà có chắc chắn chính Harry Quebert viết những dòng này không?

Nola nhận ra giọng nói của Cảnh sát trưởng Pratt.

– Hoàn toàn chắc chắn, bà Tamara trả lời. Chính tay hắn viết. Harry Quebert nhòm ngó con gái của ông Kellergan, hắn đã viết những lời lẽ bẩn thỉu trụy lạc về cô bé. Ông phải làm gì đó đi.

– Được rồi. Bà kể với tôi chuyện này là đúng. Nhưng bà lại đột nhập bất hợp pháp vào nhà của Quebert ăn cắp mảnh giấy này. Bây giờ tôi chưa thể làm gì được cả.

– Không thể làm gì được cả? Thế nghĩa là sao? Phải đợi cho gã thần kinh điên loạn này làm hại xong cô bé thì ông mới hành động được sao?

—Tôi không nói như vậy, Cảnh sát trưởng đấu dịu. Tôi sẽ theo dõi Quebert sát sao. Trong khi chờ đợi, bà cứ giữ lấy tờ giấy này cẩn thận. Tôi không thể giữ nó được, tôi có thể sẽ gặp phiền toái.

– Tôi cất nó trong két sắt này, bà Tamara nói. Không ai mở được nó. Nó sẽ được bảo toàn. Tôi xin ông, ông hãy làm điều gì đó đi, Quebert là loại tội phạm rác rưởi! Một tên tội phạm! Một tên tội phạm!

– Đừng lo lắng quá, bà Quinn, bà sẽ thấy chúng tôi làm thế nào với loại người như vậy.

Nola nghe thấy tiếng bước chân tiến về phía cửa, cô bé vội vàng chạy ra ngoài phòng ăn.

Robert cảm thấy vô cùng bối rối vì điều Nola vừa kể. Ông nghĩ bụng: khổ thân cô bé, biết được Harry viết ra những điều bậy bạ về mình, chắc hẳn phải choáng váng lắm đây. Cô bé cần được tâm sự với ai đó, và cô bé đã tìm đến ông; ông sẽ phải tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy này, phải giải thích rõ ràng tình hình, phải nói với cô bé rằng đàn ông là một loại chim kì cục, đặc biệt là Harry Quebert, cho nên nhất định cô bé phải tránh xa anh ta và nếu sợ anh ta làm điều gì xấu thì phải báo ngay cho cảnh sát biết. Hơn nữa, không biết anh ta đã làm hại cô bé chưa? Không biết cô bé có cần tâm sự mình đã bị làm hại hay không? Không biết ông có biết cách ứng xử phù hợp nếu cô bé thổ lộ những tâm sự như thế không. Theo như bà vợ ông, thì ông là người không đủ khả năng để biết bữa tối phải dọn bàn như thế nào. Nuốt xong miếng xúc xích, ông vội nghĩ ra những ngôn từ để an ủi mà ông có thể nói được thành lời, nhưng ông còn chưa kịp nói gì thì Nola tuyên bố:

– Bác Quinn ơi, bác phải giúp cháu lấy được mẩu giấy đó.

Ông Quinn suýt nghẹn xúc xích.

* * *

– Không cần phải vòng vo làm gì, anh Goldman ạ, ông Robert Quinn nói với tôi. Tôi đã lường trước hết mọi điều, trừ mỗi điều đó: Nola muốn tôi lấy tờ giấy quỷ quái đó. Anh có muốn uống thêm cốc bia nữa không?

– Vâng, được ạ, giống như cốc ban nãy. Bác có thấy phiền không nếu như cháu ghi âm lời bác?

– Ghi âm tôi á? Xin anh cứ việc. Lần đầu tiên có người quan tâm tới điều tôi nói đến thế.

Ông gọi nhân viên phục vụ thêm hai cốc bia; tôi lấy máy ghi âm ra và bấm nút.

– Vậy là, ở quán xúc xích đó, cô bé muốn bác giúp đỡ, tôi nói để bắt đầu vào chuyện.

– Đúng vậy. Rõ ràng là vợ tôi sẵn sàng làm mọi việc để làm hại Harry Quebert. Còn Nola thì sẵn sàng làm mọi chuyện để bảo vệ Harry trước hành động của vợ tôi. Tôi còn sửng sốt về cuộc trò chuyện lúc đó. Tôi bắt đầu hiểu ra đúng là có chuyện giữa Nola và Harry. Tôi còn nhớ rõ cô bé nhìn tôi, đôi mắt sáng long lanh điềm tĩnh, còn tôi thì hỏi: “Cái gì? Thế nghĩa là thế nào? Lấy lại mẩu giấy đó ?” Cô bé trả lời tôi: “Cháu yêu anh ấy. Cháu không muốn bất kì điều gì có hại cho anh ấy. Anh ấy viết những dòng đó là vì cháu muốn tự tử. Tất cả đều là do lỗi của cháu, nhẽ ra cháu không nên tìm đến cái chết làm gì. Cháu yêu Harry, anh ấy là tất cả những gì cháu có, là tất cả ước mơ của cháu từ trước tới nay”. Rồi chúng tôi trò chuyện với nhau về tình yêu. “Vậy cháu muốn nói là cháu với Harry Quebert, hai người…” “ Chúng cháu yêu nhau!” “ Yêu á? Cháu đang kể chuyện gì với bác thế? Cháu không thể yêu anh ta được!” “ Tại sao lại không được?” “ Tại vì anh ta quá già so với cháu.” “Tuổi tác không thành vấn đề!” “ Tất nhiên đó là vấn đề!” “Vậy nhẽ ra nó không nên là vấn đề mới phải!” “ Những cô bé ở tuổi cháu không việc gì phải quan hệ với một gã tầm tuổi như anh ta.” “ Cháu yêu anh ấy!” “ Đừng có nói những điều kì quái thế, cháu có ăn bánh sáp ong đi không nào?” “Nhưng bác Quinn ơi, nếu như cháu mất anh ấy tức là cháu mất tất cả!” Tôi không tin vào mắt mình nữa, anh Goldman ạ: cô gái bé nhỏ này đang yêu Harry phát điên. Những tình cảm mà cô bé thể hiện là những tình cảm tôi không bao giờ biết, hay nói cách khác, tôi không nhớ tôi có cảm nhận như vậy với chính vợ tôi. Vào giây phút đó, vì bé gái mười lăm tuổi này mà tôi nhận ra rằng rõ ràng tôi chưa hề được biết đến tình yêu, rất nhiều người chắc chắn cũng không hề biết tới tình yêu. Họ chỉ biết hài lòng với những tình cảm vốn tốt, rồi tự chôn vùi bản thân trong những tiện nghi của một cuộc sống đáng thương và làm tuột mất những cảm giác thần diệu mà chính nó mới đáng là điều duy nhất biện minh cho sự tồn tại. Tôi có người cháu sống ở Boston, làm việc trong ngân hàng, kiếm được cả núi tiền mỗi tháng, có vợ và ba con, một cô vợ tuyệt vời và một chiếc xe ô tô tuyệt đẹp. Đúng là một cuộc sống lí tưởng chứ còn gì nữa. Nhưng một hôm, nó về nhà, nói với vợ là, nó sẽ ra đi vì nó tìm thấy tình yêu với một cô sinh viên đúng bằng tuổi con gái nó đang học ở trường Harvard mà nó gặp tình cờ trong một hội nghị. Ai cũng nói rằng thằng cháu tôi bị điên, rằng nó cố tìm lại tuổi trẻ đã mất của nó ở cô sinh viên này, nhưng tôi thì tôi tin rằng, đơn giản là nó đã tìm thấy tình yêu. Nhiều người lầm tưởng họ yêu nhau nên cưới nhau. Rồi một ngày, thậm chí là họ không hề mong muốn cũng không hề ngờ tới, họ phát hiện ra tình yêu. Cứ như bị tình yêu tát vào giữa mặt. Lúc đó, cứ như thể hydro gặp không khí, nó phát nổ một cách ngoạn mục và phá hủy tất cả. Ba mươi năm cuộc sống vợ chồng không thoả mãn đột ngột tan vỡ, giống như cái hố xí tự hoại khổng lồ bị nóng sôi lên đến độ bùng nổ bắn tung toé ra tất cả mọi người xung quanh. Khủng hoảng tuổi bốn mươi, đàn ông chín muồi muốn làm tình với trẻ nít, đó chính là những người biết đến tình yêu quá muộn và buộc phải làm cho cuộc sống của mình hoàn toàn đảo lộn.

– Vậy bác đã làm gì? Tôi hỏi.

– Cho Nola ư? Tôi từ chối. Tôi nói không muốn dính líu gì tới việc này và dù sao đi chăng nữa thì tôi cũng chẳng làm gì được. Tờ giấy nằm trong két sắt, mà chiếc chìa khóa duy nhất để mở két sắt thì đêm cũng như ngày, lúc nào cũng treo trên cổ của bà vợ tôi. Nghĩa là chịu chết. Cô bé van xin tôi, nói nếu cảnh sát túm được tờ giấy thì Harry sẽ gặp rắc rối nghiêm trọng, sự nghiệp của anh ta sẽ bị đổ bể, cũng có thể còn phải bị ngồi tù trong khi anh ta không làm điều gì xấu xa. Tôi còn nhớ đôi mắt cháy bỏng, thái độ và những điệu bộ của cô bé nữa… Trong đó chứa đựng biết bao nhiêu niềm say mê tuyệt diệu. Tôi còn nhớ cô bé nói: “Họ sẽ phá hỏng hết bác Quinn à! Người ở thành phố này hoàn toàn điên, làm cháu nhớ đến vở kịch Những bà phù thủy ở Salem của Arthur Miller, thế bác đọc Miller chưa?” Đôi mắt cô bé bắt đầu ươn ướt, lệ bắt đầu ứa ra rồi chảy tràn trên má. Tôi đọc Miller rồi. Tôi còn nhớ tiếng vang của vở kịch khi được ra mắt lần đầu tiên ở Broadway: buổi biểu diễn đầu tiên đó đúng vào buổi tối xử tử hình vợ chồng Rosenberg. Tôi còn nhớ hôm đó là thứ Sáu. Chuyện đó làm tôi sởn gai ốc vì gia đình nhà Rosenberg cũng có con nhỏ ở độ tuổi Jenny nhà tôi lúc đó. Tôi tự hỏi không biết điều gì sẽ xảy ra với Jenny nếu tôi cũng bị xử tử hình như thế. Tôi thấy nhẹ cả người khi không phải là cộng sản.

– Tại sao Nola lại nhờ chính bác?

– Chắc vì cô bé tưởng tôi có thể mở được khóa của két sắt. Nhưng không phải vậy. Như tôi đã nói với anh, không ai ngoài vợ tôi có quyền mở cải tủ ấy. Lúc nào bà ấy cũng giữ rịt chiếc chìa khoá, treo vào dây chuyền và lúc nào cũng khư khư kẹp giữa hai bầu vú. Còn tôi thì, từ lâu đã chẳng được chạm vào ngực của bà ấy rồi.

– Thế chuyện gì xảy ra?

– Nola nài nỉ tôi. Cô bé nói: “Bác rất khéo léo nhanh nhẹn. Bác tự biết phải làm thế nào! Rốt cuộc thì tôi đồng ý. Tôi nói với cô bé là sẽ cố gắng.

– Tai sao? Tôi hỏi.

– Tại sao à? Thì bởi vì tình yêu! Như tôi đã nói với anh ban nãy, cô bé mới chỉ mười lăm tuổi nhưng nói được những điều mà tôi hoàn toàn không biết và chắc hẳn tôi sẽ chẳng bao giờ biết. Ngay cả khi, thú thực, chuyện với Harry khiến tôi buồn nôn. Tôi làm điều này là vì cô bé chứ không phải vì Harry. Tôi hỏi cô bé định làm gì với Cảnh sát trưởng Pratt. Có bằng chứng hay không có bằng chứng, thì ông ta đã biết rõ mọi chuyện. Cô bé nhìn thẳng vào mắt tôi nói: “Cháu sẽ không cho ông ta gây hại. Cháu sẽ biến ông ta thành tội phạm”. Vào lúc đó, tôi còn chưa hiểu gì hết. Chỉ cách đây vài tuần, khi Pratt bị bắt, tôi mới ngã ngửa người ra, chắc đã có chuyện kì quái.

* * *

Thứ Tư ngày 6 tháng Tám năm 1975

Không hề bàn bạc thống nhất với nhau nhưng cả hai đều bắt tay hành động ngay ngày hôm sau cuộc trò chuyện. Khoảng 19 giờ, Robert Quinn mua thuốc ngủ tại quầy thuốc ở Concord. Cùng lúc đó, tại đồn cảnh sát Aurora, Nola quỳ gối xuống dưới bàn làm việc của Cảnh sát trưởng Pratt, cố gắng bảo vệ Harry bằng cách kết tội Pratt, biến ông ta thành tội phạm, kéo ông ta theo một chuỗi sự kiện xoắn xuýt vào nhau trong suốt ba mươi năm.

Đêm hôm đó, bà Tamara ngủ say như chết. Sau khi ăn tối xong, bà cảm thấy mệt đến mức lăn ra ngủ khi còn chưa tẩy trang. Bà ngã vật xuống giường tựa một xúc thịt và ngủ rất sâu. Giấc ngủ tới nhanh đến mức Robert lo sợ đã bỏ thuốc quá liều sẽ giết chết vợ mình, nhưng những tiếng ngáy như sấm dậy với nhịp điệu như đoàn quân duyệt binh ngay lập tức trấn tĩnh ông. Ông đợi tới một giờ sáng mới hành động: Ông đợi cho chắc chắn Jenny cũng đã ngủ, và ở thành phố, sẽ không có ai có thể nhìn thấy ông. Khi đến lúc bắt đầu hành động, ông lay vợ thật mạnh để chắc chắn bà hoàn toàn không còn biết gì: ông cảm thấy hoan hỉ khi thấy bà vợ không phản ứng gì. Lần đầu tiên trong đời, ông cảm thấy mình mạnh mẽ là vậy: con rồng khi ngủ không còn làm ai phải sợ. Ông tháo vòng cổ của bà ra, lấy chìa khóa, vẻ đắc thắng. Lúc đi qua, ông còn bóp vú vợ một cái cật lực và tiếc nuối nhận ra rằng việc đó chẳng gây cho ông tý tẹo hứng thú nào.

Ông rời khỏi nhà không một tiếng động. Để giữ im lặng tuyệt đối và không gây bất kì ngờ vực nào, ông lấy xe đạp của con gái đạp đi trong đêm, chiếc chìa khóa của tiệm Clark’s và của két sắt yên vị trong túi. Ông làm điều này vì Nola, nhưng trên hết là làm hại vợ ông. Ông đạp xe như bay xuyên qua thành phố, bỗng cảm thấy tự do phơi phới, tới mức ông quyết sẽ li dị vợ. Jenny giờ đã là người lớn, chẳng còn lí do gì để níu giữ. Ông đã chán ngáy con hổ cái này, ông có quyền được sống một cuộc đời mới. Ông cố ý đạp loanh quanh thêm mấy vòng để kéo dài cảm giác hừng hực đang dâng trào. Khi tới con phố chính, ông xuống xe dắt bộ để có đủ thời gian quan sát xung quanh: cả thành phố đang chìm trong giấc ngủ yên bình. Không một tia sáng hay tiếng động nào. Ông dựng xe vào tường, mở cửa tiệm Clark’s rồi lần mò đi vào trong nhờ ánh đèn ngoài đường hắt vào qua cửa kính. Ông đi tới tận phòng làm việc. Đây là nơi ông không bao giờ được vào nếu không được sự đặc cách của vợ, thế mà bây giờ ông đang làm chủ ở đây; ông giẫm nó, ông xâm phạm nó, lãnh địa này đã được ông chinh phục. Ông thắp đèn và bắt đầu khám phá từng giá để từng chồng tài liệu và từng tập hồ sơ. Biết bao nhiêu năm nay ông mơ được lục lọi nơi này: vợ ông có thể cất giấu những gì ở đây? Ông ngó vội vào những chồng tài liệu, ngạc nhiên khi nhận ra mình đang tìm kiếm những bức thư tình. Ông tự hỏi liệu vợ ông có lừa dối ông không. Nhưng ông chỉ thấy những chồng đơn đặt hàng và các tài liệu kế toán. Vì thế ông chuyển sang tìm trong két sắt đồ sộ, cao tới một mét. Ông tra chìa vào ổ và vặn, run người khi nghe tiếng ổ khóa bắt đầu xoay. Ông kéo cánh cửa nặng nề, rọi đèn pin vào bên trong. Có bốn tầng tất cả. Đây là lần đầu tiên ông thấy két sắt mở; ông run lên vì hồi hộp.

Trên tầng đầu, ông thấy các tài liệu ngân hàng, bản sao kê tài khoản mới nhất, các phiếu thu và phiếu trả lương nhân viên.

Ở tầng thứ hai, ông thấy một chiếc hộp bằng sắt trắng đựng quỹ tiền mặt của tiệm Clark’s, một túi đựng tiền mặt trả người cung cấp hàng.

Ở tầng thứ ba, ông thấy mẩu gỗ có hình con gấu. Ông mỉm cười. Đây là kỷ vật đầu tiên ông tặng cho bà Tamara khi họ chính thức đi chơi với nhau lần đầu tiên. Khi ấy, ông đã phải chuẩn bị rất kỹ càng cho buổi hẹn hò đó. Mấy tuần liền ông đều đi làm thêm ở trạm xăng sau mỗi buổi học ở trường để có thêm thu nhập dẫn Tami của ông tới tiệm ăn sang trọng nhất trong vùng, tiệm Chez Jean-Claude, một tiệm ăn Pháp phục vụ những món tôm hảo hạng. Ông nghiên cứu toàn bộ thực đơn ở đó, tính toán cụ thể sẽ phải trả bao nhiêu nếu bà chọn những món đắt tiền nhất; ông tiết kiệm cho tới khi có đủ tiền, rồi mời bà đi ăn. Buổi tối đáng nhớ hôm đó, khi ông tới đón bà tận nhà, biết được nơi họ sẽ tới, bà van xin ông đừng phung phí tiền bạc vì bà. “Ồ, Robert, tình yêu của em, nhưng như vậy lãng phí quá, không cần thiết”, bà nói như vậy. Bà nói hai chữ tình yêu. Để thuyết phục ông từ bỏ ý định, bà đề nghị đi ăn mì ở một nhà hàng nhỏ của Ý tại Concord mà từ lâu bà rất thích. Họ ăn spaghetti, uống chianti và rượu nho của nhà hàng cho đến khi chuếnh choáng say. Ăn xong, họ cùng nhau đi dự hội làng gần đấy. Khi quay trở về, họ dừng lại bên bờ biển, cùng nhau đợi mặt trời mọc. Trên bãi cát, ông tìm thấy một mẩu gỗ nhìn rất giống con gấu, ông đưa cho bà trong khi bà đang áp vào ngực ông trong ánh sáng đầu tiên của ngày mới. Bà bảo rằng sẽ giữ nó mãi mãi và hôn ông lần đầu tiên.

Tiếp tục khám phá bên trong két sắt, ông Robert rất cảm động khi thấy bên cạnh mẩu gỗ đó, có cả đống ảnh của chính ông chụp qua các năm. Sau lưng mỗi tấm, bà Tamara đều viết mấy chữ chú thích, thậm chí ngay cả sau những tấm ảnh gần đây nhất. Tấm ảnh cuối cùng có ghi tháng Tư, khi họ cùng nhau đi xem đua ô tô. Trên tấm ảnh, ông Robert đang dí mắt vào óng nhòm để bình luận trận đấu. Đằng sau tấm ảnh, bà Tamara ghi: Robert của tôi lúc nào cũng vô cùng say mê cuộc sống. Tôi sẽ yêu Robert của tôi đến hơi thở cuối cùng.

Bên cạnh những tấm ảnh là rất nhiều kỉ niệm về cuộc sống chung của hai người: tấm thiệp mời cưới của họ, thiệp thông báo Jenny chào đời, các tờ thực đơn cả hai cùng làm mà ông cứ ngỡ đã vứt từ lâu, những món quả nhỏ, một con quay giả, chiếc bút lưu niệm, hay cả chiếc chặn giấy hình xoáy ốc mà họ mua làm kỉ niệm trong kì nghỉ ở Canada. Còn ông, người lúc nào cũng bị mắng mỏ bằng những lời lẽ thật chua ngoa, đại loại như: Này Bobbo, ông muốn tôi làm trò ngu vậy à? Thế mà ở đây, bà ấy trân trọng lưu giữ tất cả trong chiếc két sắt này. Ông Robert cho rằng tất cả những thứ vợ ông cất giữ trong két sắt mới thể hiện đúng tình cảm và trái tim của bà. Nhưng ông không hiểu tại sao.

Ở tầng trên cùng, ông thấy một cuốn tập dày đóng bìa da và mở ra đọc: nhật kí của vợ ông, bà Tamara. Vợ của ông viết nhật kí. Thế mà ông chưa bao giờ mảy may biết đến điều đó. Ông mở một trang bất kì, đọc dưới ánh đèn pin:

Ngày 1 tháng Một năm 1975 Lễ thánh Sylvestre được tổ chức tại gia đình Richardson. Cảm nhận về buổi tối: 5 tháng Mười. Thức ăn không ngon lắm còn gia đình nhà Richardson là những người buồn chán. Thế mà chưa bao giờ mình để ý tới điều này. Mình nghĩ lễ thánh Sylvestre là dịp tốt để biết được ai trong số bạn bè của mình là những người buồn chán. Bobbo nhanh chóng nhận thấy mình chán và muốn làm mình khuây khỏa. Anh ấy đóng vai chú hề, kể chuyện tiếu lâm. Những người trong gia đình Richardson cười lăn cười bò. Thậm chí Paul Richardson còn đứng lên lấy bút ghi lại một chuyện của anh. Nó bảo nó sẽ không bao giờ quên chuyện này. Còn mình, tất cả những gì mình có thể làm, đó là cãi nhau với anh. Trong ô tô lúc về mình nói với anh những lời kinh khủng. Mình bảo: “Ông chẳng làm ai cười được với những truyện tiếu lâm rẻ tiền đâu. Ông thật thảm hại. Ai bắt ông phải làm thằng hề thế? Có phải ông là kĩ sư của một nhà máy lớn không? Sao ông không nói về nghề nghiệp, tỏ ra là người nghiêm túc, quan trọng. Có phải ông là người làm trong gánh xiếc đâu, mẹ kiếp! ”Anh trả lời là các câu chuyện anh kể làm Paul cười rất nhiều. Mình quát bắt anh câm miệng, bảo không muốn nghe anh nói nữa.

Mình không hiểu tại sao mình cứ tỏ ra độc ác thế. Mình yêu anh biết bao. Anh dịu dàng thế, chăm sóc ân cần chu đáo thế. Mình không hiểu tại sao mình lại cư xử tồi tệ với anh. Sau đó mình lại tự hận mình, mình ghét bản thân mình. Mình thật xấu xa.

Ngày đầu năm, mình quyết định thay đổi. Rốt cuộc thì năm nào cũng vậy, mỗi năm mình lại quyết định như thế vào ngày đầu năm nhưng rồi mình chẳng bao giờ thực hiện. Từ mấy tháng nay, mình quyết định đến khám bác sĩ Ashcroft ở Concord. Chính bác sĩ khuyên mình ghi nhật kí. Mình tới bác sĩ mỗi tuần một lần. Chẳng ai biết chuyện này. Mình quá xấu hổ nếu có ai biết mình đi gặp bác sĩ tâm thần. Mọi người sẽ bảo mình điên. Mình không điên. Mình đau khổ. Mình đau khổ nhưng không hiểu tại sao. Bác sĩ Ashcroft nói, mình có xu hướng phá hủy tất thảy những gì tốt đẹp cho mình. Người ta gọi hiện tượng này là sự tự phá hủy. Bác sĩ bảo mình lo lắng về cái chết và có thể là vì điều đó. Mình cũng chẳng biết nữa. Mình chỉ biết rằng mình cảm thấy đau khổ. Mình yêu Robert, mình chỉ yêu mỗi anh ấy. Không có anh, mình sống thế nào được?

Robert đóng cuốn sổ lại. Ông khóc. Điều vợ ông không bao giờ nói được với ông thì bà ấy viết ra đây. Bà ấy yêu ông. Bà ấy yêu ông thực sự. Bà ấy chỉ yêu mỗi mình ông. Ông thấy đây là những lời đẹp nhất mà ông từng đọc. Ông lau nước mắt để khỏi làm nhòe cuốn sổ và tiếp tục đọc; Tamara đáng thương, Tamy yêu quý, người phải im lặng chịu đựng. Tại sao bà ấy lại không nói với ông tất cả mọi chuyện đi khám bác sĩ Ashcroft? Nếu như bà đau khổ, thì ông cũng muốn được đau khổ cùng, chính vì thế mà ông mới cưới bà. Rọi đèn pin vào sâu phía trong, ông nhìn thấy tờ giấy mà Harry viết. Điều đó đột nhiên mang ông trở lại với hiện thực. Ông nhớ đến nhiệm vụ phải lấy tờ giấy. Bất chợt ông thấy hận mình về điều đang làm; ông sắp sửa từ bỏ việc này thì bất chợt ông nghĩ, nếu lấy đi tờ giấy này, có thể vợ ông sẽ ít bận tâm về Harry Quebert và quan tâm đến ông nhiều hơn. Ông mới là điều quan trọng, vợ ông yêu ông. Điều này được viết rõ ràng. Suy cho cùng, đó mới là điều thúc đẩy ông lấy đi tờ giấy. Ông ra khỏi tiệm Clark’s, đạp xe xuyên qua thành phố, và tại một con phố yên tĩnh, ông lấy bật lửa ra đốt tờ giấy của Harry Quebert. Ông nhìn tờ giấy vàng dần rồi quăn lại cháy thành một ngọn lửa vàng, rồi chuyển sang xanh lơ và chậm chạp biến mất. Phút chốc nó chẳng còn lại gì. Ông trở về nhà, để lại chìa khóa vào giữa hai bầu ngực vợ, nằm xuống ngủ bên cạnh và ôm bà thật chặt.

Phải hai ngày sau bà Tamara mới biết là tờ giấy đã biến mất. Bà tưởng mình phát điên: bà chắc chắn đã cất nó vào két sắt, thế mà nó lại không có ở đấy nữa. Không ai có thể mò được vào đó, bà vẫn giữ chìa khóa trên mình, không hề có dấu vết đột nhập. Không biết bà có làm thất lạc đâu đó trong phòng làm việc hay không? Không biết bà có vô tình cất vào chỗ nào khác không? Bà lục tung căn phòng hàng giờ liền, đổ hết các cặp tài liệu ra rồi lại xếp lại, phân loại giấy tờ rồi lại sắp xếp lại lần nữa, nhưng vô ích: tờ giấy bé nhỏ đã bí ẩn biến mất.

* * *

Robert Quinn bảo vài tuần sau khi Nola mất tích, thì vợ ông bắt đầu đổ bệnh.

– Bà ấy nhắc đi nhắc lại rằng nếu còn mảnh giấy thì cảnh sát có thể hỏi cung Harry.

Cảnh sát trưởng Pratt nói không có mẩu giấy thì ông ta chẳng thể làm được gì. Bà ấy như loạn trí. Bà ấy nói với tôi đến cả trăm lần mỗi ngày rằng: “Chính Quebert, chính là Quebert! Tôi biết, ông biết, tất cả chúng ta đều biết! Tất cả chúng ta đều thấy tờ giấy, đúng không?”

– Tại sao bác không bao giờ nói với cảnh sát về những điều bác biết? Tôi hỏi. Tại sao bác không nói rằng Nola đã tìm gặp bác và nói với bác về Harry? Như vậy có thể bác sẽ mang đến một hướng điều tra, phải không?

– Tôi cũng muốn làm như vậy. Tôi rất đồng ý với ý kiến của anh.

– Anh có thể tắt máy ghi âm đi được không, anh Goldman?

– Vâng ạ.

– Tôi tắt máy ghi âm, xếp gọn gàng vào túi. Ông Robert nói tiếp:

– Khi Nola biến mất, tôi tự trách mình rất nhiều. Tôi tiếc đã đốt tờ giấy liên quan tới Harry. Tôi nghĩ nhờ bằng chứng đó, cảnh sát có thể hỏi cung Harry, điều tra về hướng anh ta, có thể giúp cuộc điều tra tiến triển hơn. Nếu anh ta không có tội, thì anh ta cũng chẳng có gì phải sợ. Nói cho cùng, cây ngay không sợ chết đứng, phải không nào? Tóm lại là tôi rất hận mình. Vậy nên tôi bắt đầu viết thư nặc danh và dán trước cửa nhà anh ta mỗi khi anh ta đi vắng.

– Gì cơ? Những bức thư nặc danh đó là của bác viết à?

– Chính tôi. Tôi viết sẵn cả đống bằng máy chủ của thư kí ở xưởng may găng ở Concord. Tôi đã biết việc anh làm với đứa bé gái mười lăm tuổi. Rồi cả thành phố sẽ nhanh chóng biết điều này. Tôi cất đống giấy đó trong hộp đựng găng để trong ô tô. Cứ hễ khi nào gặp Harry trong thành phố, thì tôi lại vội vàng về Goose Cove để nhét một tờ vào cửa.

– Nhưng tại sao bác làm vậy?

– Thì để giảm bớt gánh nặng lương tâm. Vợ tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng chính anh ta là thủ phạm. Tôi cũng nghĩ có thể lắm chứ. Vậy nên tôi quấy rối anh ta, làm cho anh ta sợ để rốt cuộc anh ta phải ra tự thú. Chuyện này kéo dài mấy tháng, sau đó thì tôi thôi không làm thế nữa.

– Điều gì khiến bác dừng lại?

– Nỗi buồn của Quebert. Sau khi cô bé mất tích, anh ta vô cùng thiểu não… Quebert không còn như trước nữa.. Tôi nghĩ không thể nào là anh ấy được. Cho nên tôi không làm như vậy nữa.

Tôi vô cùng sửng sốt vì những điều mình vừa được nghe. Tôi tiếp tục hỏi thêm mấy câu bâng quơ:

– Bác hãy nói cho cháu biết, bác Quinn: thế có phải bác chính là người đốt Goose Cove không?

Ông mỉm cười, có vẻ như thấy câu hỏi của tôi quá khôi hài.

– Không. Anh đúng là tay hóm hỉnh, anh Goldman ạ, tôi không bao giờ làm điều đó với anh. Không biết kẻ bệnh hoạn nào lại đứng ra làm việc đó.

Chúng tôi nốc cạn cốc bia. Tôi gợi chuyện:

– Rốt cuộc các bác không li dị. Vậy mọi việc được thu xếp ổn thỏa với bác gái rồi chứ ạ? Ý cháu muốn hỏi sau khi bác phát hiện ra tất cả các kỉ niệm cất trong két sắt và cuốn nhật kí của bác gái?

– Mọi chuyện càng ngày càng trở nên tồi tệ hơn, anh Goldman ạ. Bà ấy vẫn không ngừng chửi bới tôi, không bao giờ nói yêu tôi. Không bao giờ. Trong suốt những tháng tiếp theo rồi những năm tiếp theo, tôi thường xuyên đánh thuốc cho bà ấy ngủ để đọc đi đọc lại cuốn nhật kí của bà ấy, khóc về các kỉ niệm và hi vọng một ngày nào đó mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Hi vọng một ngày nào đó mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp hơn: có thể đó cũng là tình yêu.

– Tôi gật đầu để tỏ ý tán thành.

Trong căn phòng hạng sang ở khách sạn Regent’s, tôi tiếp tục viết sách, tràn đầy cảm hứng. Tôi kể lại chuyện Nola Kellergan mới mười lăm tuổi đã làm như thế nào để bảo vệ được Harry. Nola đã dâng hiến, cam kết thế nào để Harry có thể ở lại ngôi nhà lí tưởng thoải mái sáng tác mà hoàn toàn không phải lo lắng; làm thế nào mà dần dần cô bé vừa trở thành nàng thơ, vừa là thần hộ mệnh cho tuyệt tác của Harry. Càng viết, tôi càng ngạc nhiên nghĩ rằng Nola Kellergan chính là người phụ nữ đặc biệt mà tất cả các nhà văn trên thế giới chắc chắn đều mơ ước. Từ New York, Denis đánh máy lại những trang viết của tôi bằng tinh thần làm việc tận tụy và hiệu quả hiếm có, một buổi chiều cô gọi điện cho tôi nói:

– Marcus, em khóc.

– Tại sao thế? Tôi hỏi.

– Vì cô bé này, vì Nola. Em nghĩ em cũng yêu cô bé mất rồi.

Tôi mỉm cười nói với Denis:

– Tôi cho rằng ai cũng đều yêu cô bé, Denis ạ. Tất cả.

Hai ngày sau đó, tức là vào ngày 3 tháng Tám, Gahalowood vô cùng phấn khích gọi điện cho tôi.

– Nhà văn ơi! Ông ấy rống lên. Tôi đã có kết quả từ phòng thí nghiệm! Mẹ kiếp, thật chó má, anh sẽ không thể tin vào tai mình được đâu nhé! Nét chữ trên tập bản thảo chính là nét chữ của Luther Caleb! Hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa nhé! Chúng ta đã tóm được hắn rồi, Marcus! Chúng ta đã tìm ra tên sát nhân!

tác: The Truth About the Harry Quebert Affair ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Phụ Nữ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.