Sự Thật Về Vụ Án Harry Quebert Hay Chuyện Nàng Nola

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5
Cô Bé Khiến Cả Nước Mỹ Cảm Động

❊ ❊ ❊

“Marcus ạ, một cuốn sách mới là một cuộc sống mới bắt đầu. Đó cũng là thời điểm thể hiện lòng nhân ái: anh trao tặng một phần của anh cho ai mong muốn khám phá nó. Một số sẽ say mê, một số khác sẽ ghét bỏ. Mốt số coi anh là thần tượng, còn số khác lại khinh bỉ. Một số người quan tâm, một số khác lại ghen tị. Nhưng Marcus này, anh viết không phải để cho họ; mà để cho tất cả mọi người có được một khoảng thời gian thú vị trong cuộc sống hàng ngày nhờ Marcus Goldman. Anh sẽ bảo tôi thế thì quá ít ỏi; thế nhưng được như vậy đã không phải là tồi. Một số nhà văn muốn thay đổi diện mạo cả thế giới. Nhưng liệu họ có thể thực sự làm được điều đó hay không?”

Ai ai cũng nói về cuốn sách. Trên các đường phố của New York, tôi không còn được yên thân đi đạo, cũng không thể chạy bộ trong công viên Central Park mà không có những người cũng chạy bộ như tôi nhận ra và thốt lên: “Ô kìa, là Goldman đó! Nhà văn đấy!”. Thậm chí, một số người còn chạy theo và hỏi tôi những vấn đề mà họ thắc mắc: “Những điều anh nói, anh viết trong sách là thật đấy à? Harry Quebert đã làm thế thật sao?”. Trong quán cà phê West Village nơi tôi có thói quen lui tới, một số khách hàng còn không ngần ngại ngồi hẳn vào bàn nói chuyện với tôi: “Tôi đang đọc quyển sách của anh, anh Goldman ạ: tôi không sao ngừng lại được! Cuốn đầu tiên đã quá hay rồi, thế mà cuốn này thì, trời ơi! Anh được người ta trả đến tận một triệu đô la để viết cuốn này à? Anh bao nhiêu tuổi? Chắc chưa đến ba mươi phải không? Ba mươi! Thế mà anh đã hái được cả một đống tiền như thế!” Ngay cả người gác cửa tòa nhà tôi ở còn tranh thủ đọc lúc không có người ra vào, lúc đọc xong, ông chặn tôi lại ở chân cầu thang máy rất lâu để thổ lộ những điều làm ông đang xúc động tột độ: “Ôi rốt cuộc đó là điều đã xảy ra với Nola Kellergan ư? Kinh khủng thật! Nhưng làm sao mà lại thế được nhỉ? Này, anh Goldman này, làm sao mà lại có thể thế được nhỉ?”

Kể từ khi xuất bản, Vụ án Harry Quebert đã chiếm vị trí số một về doanh số bán ra trên khắp cả nước; nó hứa hẹn sẽ là cuốn sách bán chạy nhất trong năm trên toàn bộ châu Mỹ. Khắp nơi người ta nói đến nó: tivi, đài và trên báo chí. Những nhà phê bình đã chờ sẵn tôi sau mỗi một buổi quay, không ngớt lời ca ngợi tôi. Người ta nói rằng cuốn sách mới của tôi là một đại tiểu thuyết.

Ngay sau khi cuốn sách được phát hành, tôi đã phải lao vào một cuộc chạy đua để xúc tiến bán hàng, tôi phải đi khắp bốn miền của đất nước trong vòng chỉ có hai tuần, vì lý do cuộc bầu cử thống thống. Barnaski cho rằng đây là giới hạn của khuôn khổ thời gian thuộc về chúng tôi trước khi mọi ánh mắt chuyển hướng tới Washington cho cuộc bầu cử ngày 4 tháng Mười một. Khi quay trở lại New York, tôi còn lăn lộn ở tất cả các trường quay với nhịp độ điên khùng để đáp lại sự cuồng nhiệt của công chúng. Tiếng vang đến tận nhà bố mẹ tôi, nơi các nhà báo và những người tò mò lần tới bấm chuông không ngừng ngoài cửa. Để đảm bảo cho bố mẹ tôi được yên, tôi đã phải tặng họ một chiếc xe ca cắm trại để biến giấc mơ từ lâu của hai người thành hiện thực: lái xe tới Chicago rồi xuống đường 66 đến tận California.

Kể từ sau khi xuất hiện một bài báo trên tờ New York Time, Nola bắt đầu được mọi người gọi là cô bé khiến cả nước Mỹ cảm động. Những lá thư bạn đọc gửi cho tôi thể hiện đầy đủ mọi cung bậc cảm xúc: ai cũng cảm động vì câu chuyện của cô bé bất hạnh bị đối xử tệ bạc đã tìm lại được nụ cười khi gặp Harry Quebert. Khi sắp bước sang tuổi 16, Nola đã biết đấu tranh vì Harry, cho phép Harry viết nên Nguồn gốc cái xấu xa. Hơn nữa, một số nhà lí luận phê bình còn khẳng định rằng cuốn tiểu thuyết của Harry chỉ có thể được đọc một cách đúng đắn khi có cuốn truyện của tôi; bắt đầu từ đó, họ đưa ra cách tiếp cận mới theo đó Nola không còn là đại diện cho một tình yêu không thể, mà đại diện cho một tình cảm mạnh mẽ. Chính vậy mà Nguồn gốc cái xấu xa, trước đó bốn tháng bị cấm lưu hành ở gần như tất cả các thư viện và hiệu sách trên toàn quốc, thì bây giờ lại bán chạy như tôm tươi. Trong mùa sách dành cho lễ Giáng sinh, đội ngũ marketing của Barnaski đang chuẩn bị hẳn một hộp sách với số lượng in rất hạn chế, trong đó bao gồm Nguồn gốc cái xấu xa, Vụ án Harry Quebert và một cuốn phân tích văn học của một người nào đó tên là Francois Lancaster.

Về Harry, tôi không còn nắm được tin tức gì kể từ khi chia tay với ông ở nhà nghỉ Sea Side. Tôi đã cố gắng liên lạc với ông vô số lần nhưng điện thoại di động của ông đã bị cắt. Khi tôi gọi đến nhà nghỉ và yêu cầu nối máy với phòng số 8, chuông điện thoại cứ thế đổ dài mà không có người trả lời. Nhìn chung, tôi hoàn toàn mất liên lạc với Aurora, nhưng có khi thế lại hay; tôi hoàn toàn không muốn biết ở đó, người ta đã đón nhận cuốn sách của tôi như thế nào. Qua bộ phận pháp lý của công ty Schmid & Hanson, tôi chỉ biết Elijah Stern vẫn tiếp tục ngoan cố kiện công ty này ra tòa vì cho rằng đã xuất bản cuốn sách xuyên tạc sự thật liên quan tới ông ta, đặc biệt là những người mà tôi đã phỏng vấn lấy ý kiến về lí do tại sao ông ta đồng thuận với Luther, trong đó có việc cho phép anh ta được vẽ Nola khỏa thân, không bao giờ báo cho cảnh sát biết khi chiếc xe Monte Carlo màu đen của mình biến mất. Thế mà trước khi xuất bản sách, tôi còn gọi điện xin ý kiến ông ta, nhưng Stern không thèm trả lời.

Bắt đầu từ tuần thứ ba của tháng Mười, đúng như Barnaski dự tính, cuộc bầu cử tổng thống bắt đầu chiếm hết tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Các thư xin địa chỉ của tôi đã giảm xuống mạnh mẽ; tôi cảm thấy nhẹ người được chút ít. Tôi vừa mới sống qua hai năm đầy thách thức, có được thành công đầu tiên, trải qua căn bệnh của các nhà văn và rồi rốt cuộc viết tiếp được cuốn thứ hai. Đấu óc tôi nặng trịch, tôi cảm nhận rõ ràng nhu cầu được nghỉ dưỡng ở đâu đó một thời gian. Vì không muốn đi một mình, lại cũng muốn cảm ơn Douglas, vì sự hỗ trợ của anh ấy, tôi mua hai tấm vé đi Bahamas. Tôi muốn dành cho Douglas một bất ngờ thú vị vào một buổi tối khi anh ta tới nhà tôi xem chương trình thể thao. Nhưng tôi đã vô cùng nhầm lần, vì anh ta đã từ chối lời mời của tôi.

– Ồ, thế thì tuyệt thật đấy, anh ta bảo tôi, nhưng tớ dự định đưa Kelly đi Caraibes đúng ngày hôm đó.

– Kelly? Cậu vẫn còn quan hệ với cô ấy à?

– Ồ, tất nhiên rồi. Cậu không biết à? Bọn mình sẽ cưới nhau. Tớ cũng định rủ cô ấy tới đó để ngỏ lời cầu hôn.

– Ôi, thật tuyệt vời! Mình thực sự rất vui. Xin chúc mừng cậu!

Chắc trông mặt tôi buồn quá, vì anh ta nói:

– Marc, cậu đã có tất cả mà bất cứ ai đều mong muốn. Từ bây giờ, đã đến lúc không nên ở một mình nữa.

Tôi tỏ ý đồng tình.

– Chẳng qua là vì… Cả hàng thế kỉ nay mình chả có cuộc hẹn hò nào cả, tôi bào chữa.

Bạn tôi mỉm cười.

– Đừng lo.

Chính cuộc trò chuyện này dẫn tới một sự việc vào buổi tối ngày hôm sau, thứ Tư 22 tháng Mười năm 2008 , một buổi tối mọi thứ hoàn toàn điên đảo.

Douglas sắp xếp cho tôi một cuộc hẹn với Lydia Gloor, người mà cậu ta biết rằng vẫn luôn vương vấn tôi. Douglas thuyết phục tôi gọi điện cho Lydia Gloor và chúng tôi thỏa thuận sẽ gặp lại nhau trong một quán bar ở Soho. Khoảng 19 giờ, Douglas ghé qua nhà tôi để khích lệ tinh thần tôi.

– Cậu vẫn chưa sẵn sàng à? Anh ta nhận xét khi thấy tôi vẫn còn cởi trần lúc ra mở cửa.

– Tớ không quyết được nên mặc cái áo sơ mi nào đây, tôi vừa trả lời, vừa giơ hai chiếc áo ra trước mặt.

– Mặc cái áo màu xanh da trời ý, cái ấy đẹp.

– Cậu có chắc chắn là đi chơi với Lydia sẽ không phải là sai lầm đấy chứ, Dong?

– Giời ơi, cậu chuẩn bị đi chơi, chứ có phải chuẩn bị cưới đâu mà lo, Marc. Cậu chỉ đi uống có cốc nước với một cô gái xinh đẹp, cô ấy thích cậu mà cậu cũng thích cô ấy. Rồi cậu sẽ thấy có còn luống điện nào chạy giữa hai người nữa không thì rõ.

– Thế sau khi uống nước xong thì làm gì?

– Tớ đã đặt sẵn cho cậu bàn ăn ở tiệm ăn của Ý cực hiện đại, không xa quầy bar chỗ uống nước. Tớ sẽ gửi địa chỉ qua tin nhắn cho cậu.

Tôi mỉm cười.

– Nếu không có cậu thì tớ biết làm thế nào hả Doug?

– Thì bạn bè là để giúp đỡ nhau chứ còn gì nữa!

Đúng lúc đó, di động của tôi đổ chuông. Hẳn là tôi sẽ không nhấc máy nếu như không nhìn thấy trên màn hình điện thoại hiện ra tên Gahalowood.

– A lô, trung sĩ à, thật vui khi được nghe tiếng anh.

Tiếng nói ở đầu đây bên kia rất khó nghe.

– Chào nhà văn, tôi rất tiếc là phải gọi làm phiền anh…

– Không, không, anh không hề làm phiền tôi tí nào.

Gahalowood có vẻ rất bối rối, anh ta nói với tôi:

– Thưa nhà văn, tôi nghĩ chúng ta đang gặp vấn đề.

– Có chuyện gì à?

– Chuyện về mẹ của Nola Kellergan. Trong sách của anh, anh kể là bà ta đánh đập con gái.

– Louisa Kellergan, vâng. Thế có chuyện gì vậy?

– Có vào mạng bây giờ được không? Tôi phải gửi cho anh một email.

Tôi chạy vào phòng khách bật máy tính. Tôi vào hòm thư trong khi vẫn cầm điện thoại nói chuyện với Gahalowood. Anh ta vừa gửi cho tôi một bức ảnh.

– Cái gì thế ? Tôi hỏi. Anh bắt đầu làm cho tôi lo rồi đấy.

– Mở ảnh ra đi. Anh có nhớ đã nói với tôi về Alabama không?

– Vâng, tất nhiên là tôi nhớ. Họ rời nơi đó để tới Aurora.

– Chúng ta thất bại rồi, Marcus ạ. Chúng ta quên khuấy Alabama. Thế mà chính anh còn nói với tôi về nơi đó.

– Tôi nói gì với anh nhỉ?

– Anh nói là cần phải đi tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra ở Alabama.

Tôi bấm vào file ảnh, là một bức hình chụp bia mộ trong nghĩa trang, trên đó khắc dòng chữ:

LOUISA KELLERGAN

1930-1969

Người vợ; người mẹ yêu quý

Tôi lặng người đi, Chúa ơi! Tôi thở hắt ra.

– Như vậy nghĩa là thế nào?

– Nghĩa là mẹ của Nola đã chết từ năm 1969, tức là 6 năm trước khi cô bé mất tích!

– Ai đưa cho anh tấm ảnh này?

– Một nhà báo ở Concord. Ngày mai, việc này sẽ đồng loạt xuất hiện trên trang nhất của tất cả các loại báo, nhà văn ạ, và anh có biết điều gì sẽ xảy ra không: không đến ba ngày đâu, cả đất nước này sẽ tuyên bố rằng cuốn sách của anh lẫn cuộc điều tra của cảnh sát toàn là nhảm nhí.

Bữa tối với Lydia Gloor hôm đó đã không diễn ra. Douglas lôi Barnaski về từ cuộc hẹn, Barnaski lôi Richardson từ nhà tới, và chúng tôi đã có một phiên họp nẩy lửa trong phòng họp của công ty Schmid & Hanson. Thực ra tấm ảnh do tờ báo Concord Heral chụp lại từ một tờ báo địa phương vùng Jackson. Suốt hai tiếng đồng hồ, Barnaski cố sức thuyết phục ông tổng biên tập tờ Concord Heral từ bỏ ý định đưa bức ảnh này lên trang nhất số báo ra ngày hôm sau, nhưng vô ích.

– Các anh có tưởng tượng được dân chúng sẽ nói thế nào khi biết cuốn sách của anh là tập hợp những lời dối trá không! ông ta hét lên với tôi. Nhân danh Chúa, Marcus, anh không kiểm tra lại các nguồn thông tin à?

– Tôi không biết sao nữa, thật điên rồ! Chính Harry cũng nói với tôi về người mẹ mà! Ông ấy còn nói với tôi thường xuyên nữa là đằng khác. Tôi chẳng hiểu gì cả. Người mẹ đánh Nola. Ông ấy đã nói với tôi chính xác như vậy. Ông ấy kể cho tôi các trận đòn, rồi thì dìm đầu xuống nước cho chết đuối.

– Thế bây giờ Quebert nói sao?

– Không thể liên lạc được với Quebert. Tối nay tôi gọi điện ít nhất là 10 lần rồi. Dù sao đi nữa thì đã hai tháng nay, tôi không hề có tin tức của ông ấy.

– Gọi tiếp đi! Anh phải giải quyết việc này! Hãy tìm người nào có thể giải thích giúp anh! Phải cho tôi một lời giải thích để tôi đưa ra cho các nhà báo vào sáng ngày mai khi gặp họ.

Khoảng 20 giờ, rốt cuộc tôi gọi điện cho Erne Pinkas.

– Ôi trời ơi, thế anh lôi đâu ra được bà mẹ vẫn còn sống thế? Ông ta hỏi.

Tôi đơ người không biết trả lời thế nào, chỉ nói một cách ngớ ngẩn:

– Chẳng có ai nói với cháu là bà ấy chết rồi!

– Nhưng cũng không có ai nói với anh là bà ấy còn sống!

– Có! Harry nói với cháu như vậy mà.

– Ơ, thế thì đúng là ông ấy chẳng coi cậu ra cái gì. Mục sư Kellergan đến Aurora này chỉ có một mình với con gái. Chưa bao giờ có người mẹ đi cùng.

– Cháu không còn hiểu chuyện gì nữa cái cháu có cảm giác đang bị loạn trí mất rồi. Giờ cháu thành hạng người nào đây!

– Thành nhà văn tởm. Tôi có thể nói rằng ở đây, thật là khó nuốt. Suốt một tháng nay, chúng tôi nhìn thấy cậu khệnh khạng trên ti vi, trên đài báo. Chúng tôi ai cũng bảo cậu toàn kể nhăng kể cuội.

– Tại sao chẳng có ai báo cho cháu biết?

– Báo cho cậu á? Báo cho cậu cái gì? Hỏi cậu là cậu có nhầm hay không à?

– Tại sao bà ấy lại chết?

– Tôi hoàn toàn không biết.

– Thế còn chuyện bật nhạc to hết cỡ? Cả những trận đòn thì sao? Cháu có nhân chứng đã khẳng định với cháu.

– Nhân chứng khẳng định về việc gì? Rằng ông mục sư cố tình bật nhạc thật to rồi đeo tai nghe vào để dễ bề đánh con gái cật lực ư? Đúng là tất cả mọi người ai cũng đều nghi ngờ như vậy. Nhưng trong cuốn sách, cậu kể là cha Kellergan trốn trong gara trong lúc người mẹ hành hạ con gái. Nhưng vấn đề là người mẹ chưa từng bao giờ đặt chân lên mảnh đất Aurora này bởi vì bà ta đã chết trước khi chuyển nhà. Vậy, làm thế nào người ta có thể tin vào tất cả các điều còn lại mà cậu kể trong sách được? Mà cậu còn bảo với tôi, cậu sẽ cho tên tôi vào phần cảm ơn…

– Cháu đã làm đúng như vậy!

– Cậu viết tên tôi giữa các tên khác: E. Pinkas, Aurora. Tôi muốn tên tôi phải viết hoa hết. Tôi muốn người ta nói đến tôi.

– Cái gì? Nhưng…

Ông ấy đã đập mạnh điện thoại. Barnaski nhìn tôi với con mắt khó chịu. Ông ta chỉ ngón tay vê phía tôi vẻ hăm dọa:

– Goldman, ngày mai, anh sẽ đáp chuyến bay đầu tiên đến Concord và anh phải giải quyết cho tôi cái đống cứt thối này.

– Roy, nếu tôi về Aurora, họ sẽ xử trảm tôi ngay tại chỗ.

– Ông ta gắng gượng cười và nói:

– Anh phải cảm thấy sung sướng khi họ chấp nhận chỉ xử trảm anh ngay tại chỗ là xong.

* * *

Cô bé khiến cả nước Mỹ phải cảm động phải chăng chỉ là nhân vật tưởng tượng trong một bộ não bệnh hoạn của một nhà văn đang mất cảm hứng? Làm thế nào mà chi tiết quan trọng nhường ấy lại bị anh ta quên lãng một cách thô thiển như vậy? Thông tin từ tờ Concord Herald, được tất cả các phương tiện thông tin đại chúng khác copy lại bởi đang gieo rắc mối nghi ngờ về sự thật liên quan đến vụ án Harry Quebert.

Sáng thứ Sáu ngày 23 tháng Mười, tôi đáp chuyến bay đầu tiên tới Concord, và đầu giờ chiều ngày hôm đã hạ cánh. Tôi thuê ngay ô tô ở sân bay đến thẳng văn phòng cảnh sát gặp Gahalowood đang đợi. Anh ta tóm tắt lại cho tôi toàn bộ tin tức mình biết liên quan tới quá khứ của gia đình Kellergan ở Alabama.

– David và Louisa Kellergan cưới nhau năm 1955. Lúc đó ông ta đã là mục sư của một tòa thánh phát triển rất thịnh vượng. Vợ của ông cũng góp phần nhiều vào sự phát triển thêm nữa của tòa thánh. Nola Sinh năm 1960. Không có điều gì đáng lưu ý trong những năm sau đó. Nhưng vào một đêm mùa xuân năm 1969, một vụ hỏa hoạn đã tàn phá toàn bộ ngôi nhà. Bé gái được cứu thoát khỏi lưỡi lửa hung dữ, nhưng người mẹ thì chết. Vài tuần sau đó, mục sư Kellergan rời bỏ Jackson.

– Vài tuần sau ư? Tôi ngạc nhiên hỏi.

– Đúng vậy. Và họ tới Aurora.

– Thế tại sao Harry lại nói Nola bị mẹ đánh?

– Thế thì phải hiểu là bố của cô ấy đánh.

– Không, không! Tôi kêu lên. Harry nói với tôi là người mẹ! Chính là người mẹ! Tôi vẫn còn băng ghi âm đây!

– Thế thì chúng ta hãy cùng nghe xem nào, Gahalowood gợi ý.

Tôi có mang theo các đĩa ghi âm mini. Tôi bày hết lên bàn làm việc của Gahalowood, cố gắng nhận ra chính xác chiếc đĩa ghi âm đoạn đó dựa trên nhãn mà tôi đã cẩn thận đính trên đĩa. Tôi sắp xếp rất có trình tự, theo từng người và có đề ngày tháng, thế mà tôi vẫn không tìm ra được chính xác đâu là đĩa ghi âm về nội dung trên. Đúng vào lúc rũ hết tất cả mọi thứ trong túi ra, tôi mới thấy cái đĩa cuối cùng không đề ngày tháng mà tôi đã bỏ qua. Tôi bỏ nó ngay vào đầu đọc.

– Thật kì lạ, tôi nói. Tại sao tôi lại không để ngày tháng trên cái đĩa này?

Tôi bật loa. Tôi nghe thấy tiếng mình thông báo hôm đó là thứ Ba, ngày 1 tháng Bảy năm 2008. Tôi đã ghi âm Harry trong phòng thăm tù nhân.

- Đây có phải là lí do khiến thầy muốn bỏ trốn không? Tại sao hai người lại dự tính bỏ trốn vào ngày 30 tháng Tám?

- Đó là vì có chuyện khủng khiếp xảy ra, Marcus ạ. Anh đang ghi âm à?

- Vâng.

- Tôi sẽ kể cho anh nghe một chuyện cực kì kinh hoàng. Để anh có thể hiểu. Nhưng tôi không muốn chuyện này phát tán ra.

- Cứ tin tưởng ở em.

- Anh biết đấy, một tuần chúng tôi sống với nhau ở Martha’s Vineyard, Nola nói dối là đến nhà bạn chơi, nhưng thực ra cô ấy đã bỏ nhà đi mà không nói năng gì. Nàng đi mà không nói với ai nửa lời. Vào ngày hôm sau khi chúng tôi trở về, tôi gặp lại Nola, nàng buồn vô hạn. Nàng bảo tôi là bị mẹ đánh. Toàn thân nàng đầy những vết thâm tím. Nàng khóc. Ngày hôm đó, nàng bảo tôi nàng đã bị mẹ trừng phạt mà không có lí do. Bà ấy đánh bằng cái thước kẻ sắt, rồi bà ấy cũng làm cái trò quái đản như đã từng làm ở Guantánamo, đó là dìm đầu con gái mình xuống nước: bà ấy đổ đầy thùng nước, túm tóc con gái dúi đầu xuống. Bà ấy bảo làm vậy là để giải thoát cho nàng.

- Giải thoát cho cô ấy ư?

- Giải thoát khỏi tội ác. Tôi nghĩ đó là một kiểu rửa tội. Giống như Jesus ở Jourdain hay kiểu tương tự như thế. Mới đầu, tôi không tin được, nhưng bằng chứng vẫn còn rành rành ra đó. Tôi hỏi: “Ai làm em thế này? ” “Mẹ.”

“Thế sao bố em không can? ” “Bố đóng cửa ở trong gara nghe nhạc rất to. Bố làm như vậy mỗi khi mẹ trừng phạt em. Bố không muốn phải nghe thấy”. Nola không thể chịu đựng hơn nữa Marcus ạ. Nàng không thể chịu đựng được nữa. Tôi muốn đến thẳng gặp nhà Kellergan giải quyết việc này. Chuyện này phải chấm dứt. Nhưng Nola van vỉ tôi không được làm gì hết, nàng sẽ gặp rắc rối, bố mẹ chắc chắn sẽ đưa nàng đi xa và chúng tôi sẽ không bao giờ được gặp nhau nữa. Tuy nhiên, tình trạng này không thể kéo dài thêm. Vì thế vào khoảng ngày 20 tháng Tám, chúng tôi quyết định phải nhanh chóng bỏ đi. Tất nhiên là bí mật, không cho ai biết. Chúng tôi quyết định sẽ bỏ trốn ngày 30 tháng Tám. Chúng tôi muốn đi tận Canada, qua biên giới Vermont. Có thể là tới tận Colombie-Britannique, tìm một căn lều gỗ để sống. Cuộc sống tươi đẹp bên hồ nước. Sẽ không ai có thể biết chuyện.

- Vậy lí do cả hai quyết định bỏ trốn cùng nhau là vậy?

- Đúng thế

- Vì sao thấy lại không kể cho em chuyện đó ?

- Vì đó mới chỉ là phần mở đầu của câu chuyện, Marcus ạ. Vì sau đó, tôi đã phát hiện ra một sự thực kinh hoàng về mẹ của Nola…

Đúng lúc đó, chúng tôi phải dừng lại vì lính gác tới. Thời gian thăm tù nhân đã hết.

- Chúng ta sẽ nói tiếp chuyện này vào lần tới, Marcus ạ, Harry vừa đứng dậy vừa nói với tôi. Trong khi chờ đợi, dứt khoát cậu phải giữ kín chuyện này đấy.

(Có tiếng chuông vang lên). Giọng lính gác thông báo đã hết giờ thăm tù nhân.

- Lần tới, chúng ta sẽ nói tiếp chuyện này, Marcus. Từ giờ đên lúc ấy, nhớ không được nói với ai về chuyện này.

– Vậy thì Quebert đã phát hiện ra được điều gì đó về người mẹ của Nola à? Gahalowood sốt ruột hỏi.

– Tôi không nhớ đoạn tiếp theo, tôi trả lời, cảm thấy quẫn trí, cuống cuồng tìm cái đĩa tiếp theo trong đống đĩa.

Nhưng tôi khựng lại, tái mặt kêu lên:

– Trời ơi, không thể như thế được.

– Cái gì thế, nhà văn?

– Đây là đĩa ghi âm cuối cùng với Harry! Chính vì thế mà không có ngày tháng ghi trên đĩa! Tôi hoàn toàn quên mất nó. Chúng tôi còn chưa nói xong chuyện này, tại vì sau đó, ta phát hiện thêm thông tin về Pratt, rồi Harry không muốn tôi ghi âm nữa nên trong các buổi nói chuyện sau, tôi ghi tóm tắt nội dung vào một cuốn sổ. Sau đó xảy ra vụ mất trộm mấy tờ giấy ghi chép tôi đưa cho Barnaski khiến Harry giận tôi kinh khủng. Tại sao tôi lại ngu ngốc đến thế.

– Cần phải nói chuyện ngay với Harry, Gahalowood tuyên bố và với tay lấy chiếc áo khoác ngoài. Chúng ta phải biết ông ta đã phát hiện ra điều gì liên quan đến Louisa Kellergan.

Chúng tôi cùng đi về phía nhà nghỉ Sea Side.

Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy không phải Harry mà là một cô gái cao lớn tóc vàng mở cửa phòng số 8. Khi gặp nhân viên lễ tân anh ta chỉ giải thích cho chúng tôi rằng:

– Gần đây, không có ai tên là Harry Quebert ở nhà nghỉ này.

– Không thể như thế được, tôi nói. Ông ấy ở đây mấy tuần liền.

Theo yêu cầu của Gahalowood, nhân viên lễ tân tra cứu sổ ghi chép trong vòng sáu tháng trở lại đây. Nhưng anh ta vẫn khẳng định rõ ràng:

– Không có ai tên là Harry Quebert.

– Không thể như thế được, tôi tức tối. Tôi đã gặp ông ấy ở đây rồi mà. Một người đàn ông cao lớn, mái tóc bạc bù xù.

– À, là ông ta à. Vâng, đúng là có người đàn ông như thế thường lê la ngoài bãi đỗ xe. Nhưng ông ấy không bao giờ thuê phòng.

– Ông ấy thuê phòng số 8 mà! Tôi khẳng định. Tôi thường xuyên thấy ông ta ngồi trước cửa phòng.

– Vâng, đúng là ông ấy ngồi trước cửa phòng. Tôi cũng đã yêu cầu ông ấy đi khỏi đó nhưng mỗi lần như vậy ông ấy lại nhét cho tôi tờ 100 đôla! Với giá đó, ông ấy có thể đứng trước cửa phòng bao lâu tùy thích. Ông ấy bảo, đứng đó gợi ông ấy nhớ lại những kỉ niệm đẹp.

– Thế từ khi nào ông ấy không đứng đấy nữa? Gahalowood hỏi.

– Ái chà, cũng phải đến mấy tuần rồi. Tôi nhớ đúng cái ngày ông ấy bỏ đi, ông ấy còn dúi cho tôi tờ 100 đô để nếu có ai gọi điện tới đây muốn được nối máy với phòng số 8, thì tôi phải giả vờ chuyển cuộc gọi đến phòng số 8 rồi cứ để mặc cho đổ chuông. Ông ấy có vẻ rất vội vàng. Ngay sau vụ cãi nhau…

– Vụ cãi nhau nào? Gahalowood lên giọng hỏi. Lại còn có vụ cãi nhau nào ở đây nữa?

– À, ông bạn của các anh cãi nhau với một ông già. Ông già nhỏ thó đi ô tô đến chỉ để gây chuyện. Cãi nhau ầm ĩ, rú rít loạn lên. Tôi đã định vào can, nhưng rốt cuộc ông già ấy lên xe ô tô bỏ đi. Chính lúc đó, bạn của các anh cũng bỏ đi luôn. Nếu không thì kiểu gì tôi cũng phải mời ông ta ra khỏi cửa. Vì nếu còn gây ồn ào, khách hàng phàn nàn thì tôi là người phải chịu trách nhiệm.

– Nhưng họ cãi nhau về việc gì?

– Chuyện gì đó liên quan tới thư từ. Tôi nghĩ vậy. Ông già hét lên với bạn của các anh rằng: “Chính là mày”.

– Thư à? Thư nào?

– Ơ, các anh muốn tôi kể cái gì?

– Vậy sau đó thì sao?

– Ông già kia bỏ đi, bạn của các anh cũng bỏ đi luôn.

– Thế anh có thể nhận diện được ông ta không?

– Ông già á? Không, tôi không nghĩ vậy. Nhưng cứ đi hỏi bạn của anh ấy. Bởi vì ông già ấy lại quay lại lần nữa, đúng là lão già buồn cười. Tôi cho rằng ông ta muốn lột da bạn các anh. Bạn của các anh đi rồi nhưng tôi cảm giác có chuyện không ổn nên đã gọi điện cho cảnh sát giao thông. Ngay lập tức hai toán cảnh sát đến và kiểm tra ông già. Sau đó, họ để cho ông ta đi, họ bảo không có vấn đề gì cả.

Gahalowood liền gọi điện thoại cho trung tâm cảnh sát, yêu cầu nhận diện ông già mới bị cảnh sát giao thông kiểm tra tại nhà nghỉ Sea Side.

– Họ sẽ gọi cho tôi ngay khi có thông tin, Gahalowood cúp máy, nói với tôi.

Tôi cảm thấy vô cùng mông lung, vừa vò đầu bứt tai, tôi nói:

– Thật là phi lí, phi lí hết sức!

Bất chợt nhân viên lễ tân nhìn tôi, hỏi tôi vẻ nực cười:

– Có phải anh là Marcus?

– Vâng, sao cơ?

– Bởi vì bạn của các anh có để lại đây một chiếc phong bì, nói rằng sẽ có một thanh niên đến đây tìm cái này và chắc chắn sẽ nói: “Thật là phi lí, phi lí hết sức!”. Ông ấy nói nếu đúng có cậu thanh niên ấy đến thì tôi phải đưa cho cái này.

Anh ta chìa ra cho tôi một cái phong bì, bên trong có một chìa khóa.

– Chìa khóa à? Gahalowood nói. Không còn gì khác nữa à?

– Không có gì.

– Nhưng chìa khóa này là khóa của cái gì?

Tôi chăm chú quan sát hình dạng của nó. Bất chợt, tôi nhận ra:

– Chìa khóa ngăn để đồ trong phòng tập ở Montburry!

20 phút sau, chúng tôi có mặt tại phòng thay quần áo của câu lạc bộ thể hình. Bên trong ngăn tủ số 201, có một tập giấy được đóng với nhau: kèm theo một bức thư viết tay.

Marcus yêu quý!

Nếu như anh đang đọc những dòng này, thì có nghĩa là chắc chắn đã có chuyện rối rắm khủng khiếp xảy ra liên quan tới cuốn sách của anh và anh đang cần tìm câu trả lời. Cái này có thể sẽ làm anh quan tâm. Cuốn sách này là sự thật.

Harry.

Là một tập bản thảo đánh máy, không dày lắm, có tựa đề: NHỮNG CHÚ MÒNG BIỂN Ở AURORA, Bởi Harry Quebert.

– Thế có nghĩa là thế nào? Gahalowood hỏi tôi.

– Tôi chẳng biết gì cả. Hình như là tập bản thảo chưa bao giờ được xuất bản của Harry.

– Giấy có vẻ cũ lắm rồi, Gahalowood chăm chú kiểm tra những trang giấy và nhận xét.

Tôi giở nhanh các trang.

– Nola nói đến những chú mòng biển, tôi nói. Harry bảo cô ấy rất yêu mòng biển. Chắc phải có một sợi dây liên hệ nào đó.

– Nhưng tại sao ông ta lại nói cuốn sách này là sự thật? Có phải đây là bản ghi chép những gì đã xảy ra vào năm 1975?

—Tôi không biết.

Chúng tôi quyết định sẽ nghiên cứu tập bản thảo sau và quay trở về Allrora. Khi chúng tôi đến nơi, người ta đổ dồn sự chú ý vào tôi. Những người qua đường nhìn tôi với thái độ miệt thị. Trước tiệm Clark’s, Jenny vô cùng tức giận vì đoạn văn tôi miêu tả mẹ của cô ấy, đồng thời không chịu tin rằng bố cô là tác giả của những bức thư nặc danh gửi cho Harry nên công khai thóa mạ tôi.

Người duy nhất chấp nhận nói chuyện với chúng tôi là Nancy Hattaway. Chúng tôi đi gặp cô ấy tại cửa hàng.

– Tôi không hiểu, Nancy nói. Tôi chưa bao giờ nói với anh về người mẹ của Nola.

– Tuy nhiên, cô có nói với tôi về những vết đòn mà cô nhận thấy trên người Nola. Đó là khi Nola bỏ trốn khỏi nhà suốt một tuần liền, và bố mẹ Nola giả vờ để cô tin rằng Nola bị ốm.

– Nhưng chỉ có ông bố thôi. Chính ông ta không cho tôi vào nhà khi Nola biến mất suốt một tuần của tháng Bảy năm đó. Tôi chưa bao giờ nói với anh về người mẹ.

– Cô có nói với tôi về những cú vụt vào ngực bằng thước kẻ sắt, cô có nhớ không?

– Những cú đánh vào ngực thì đúng. Nhưng tôi không nói là mẹ cô ấy đánh.

– Tôi đã ghi âm lại! Hôm đó là ngày 26 tháng Sáu vừa rồi. Tôi có đoạn băng ghi âm đây, nhìn tôi có dán nhãn ngày tháng ở trên đây.

Tôi bắt đầu mở máy:

- Điều mà cô nói với tôi liên quan tới mục sư Kellergan thật là kì lạ, cô Hattaway ạ. Tôi mới gặp ông ấy cách đây vài tuần, ông ấy cho tôi có cảm giác ông ấy là người khá dịu dàng.

- Ông ta có thể tạo cảm giác ấy, ít nhất là trước mặt công chúng. Người ta mời ông ấy tới cứu vãn cho tòa thánh St. James đang rơi vào sự hoang phế cơ mà; mà ông ấy còn làm được những điều kì diệu ở Alabama nữa. Quả thực là sau khi tiếp quản công việc, ông ấy đã làm cho ngôi đền St. James nhanh chóng chật ních con chiên mỗi sáng chủ nhật. Nhưng ngoài chuyện đó ra, rất khó mà biết có những chuyện gì thực sự xảy ra trong nhà gia đình Kellergan…

- Cô nói vậy nghĩa là sao?

- Nola bị đánh đập.

- Cái gì?

- Vâng, cô ấy bị đánh đòn rất dã man. Tôi còn nhớ một chuyện kinh khủng anh Goldman ạ. Vào đầu mùa hè. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy những dấu vết kinh khủng như thế trên người Nola. Chúng tôi đi bơi ở bãi biển Grand. Nola có vẻ buồn, tôi nghĩ chắc là vì một cậu con trai nào đó. Lúc đó có Cody là một đứa con trai học lớp 11 cứ bám theo Nola. Và rồi cô ấy thú nhận với tôi là ở nhà cô ấy bị bắt nạt, cô ấy bị mắng là đồ con gái độc ác. Tôi hỏi lí do tại sao cô ấy lại bị mắng như vậy thì cô ấy có nhắc đến các sự việc xảy ra ở Alabama, nhưng không chịu nói rõ đó là chuyện gì. Sau đó, trên bãi biển, khi cô ấy cởi quần áo, tôi còn thấy rất nhiều vết đánh cực đau ở ngực. Tôi hỏi cô ấy tại sao lại có những vết kinh khủng như vậy. Anh có biết cô ấy trả lời như thế nào không: “Tại mẹ tớ; hôm chủ nhật, mẹ tớ đánh tớ bằng thước sắt”. Hiển nhiên là tôi hoàn toàn sững sờ, tôi cứ nghĩ mình nghe nhầm. Nhưng cô ấy còn nhấn mạnh thêm: “Thật đấy, đó là sự thực, chính mẹ tớ còn bảo tớ là đồ con gái độc ác”. Nola có vẻ rất tuyệt vọng, chính vì vậy tôi không dám nài nỉ gì thêm. Khi bơi xong ở bãi biển Grand, chúng tôi cùng về nhà tôi, tôi bôi gel lên ngực cho cô ấy. Tôi khuyên cô ấy phải kể chuyện mẹ của cô ấy cho ai đó, ví dụ như cho y tá ở trường, bà Sanders chẳng hạn. Nhưng Nola trả lời là cô ấy không muốn nói đến chủ đề này nữa.

– Đấy, tôi kêu lên và dừng đoạn đang nghe lại. Cô thấy không, cô nhắc đến người mẹ mà.

– Không, Nancy cãi lại. Rõ ràng là tôi đã nói cho anh biết rằng tôi cực kì ngạc nhiên khi Nola lại nhắc đến mẹ của cô ấy. Ý tôi muốn bảo anh rằng có chuyện gì đó không bình thường ở gia đình Kellergan. Tôi cứ đinh ninh là anh phải biết mẹ cô ấy đã chết rồi chứ.

– Không, tôi hoàn toàn không biết gì hết! Ý tôi là mẹ của cô ấy đã chết, nhưng là sau khi Nola mất tích. Tôi còn nhớ rõ ràng David Kellergan còn chỉ cho tôi xem một tấm ảnh của vợ ông ấy vào lần đầu tiên khi tôi đi gặp ông ấy. Tôi cũng còn nhớ ông ấy đón tiếp tôi rất chu đáo nồng hậu. Tôi còn nhớ đã hỏi đại loại là: “Thế vợ bác ở đâu?” Ông ấy trả lời tôi rằng: “Vợ tôi mất đã lâu”.

– Vậy thì, bây giờ nghe lại đoạn băng nghi âm này thì tôi mới hiểu tại sao anh bị hiểu nhầm. Đúng là sự hiểu nhầm kinh khủng, anh Goldman ạ, tôi rất lấy làm tiếc.

Tôi mở tiếp đoạn băng ghi âm:

- …cho y tá ở trường, bà Sanders chẳng hạn. Nhưng Nola trả lời là cô ấy không muốn nói đến chủ đề này nữa.

- Thế chuyện gì đã xảy ra ở Alabama?

- Tôi không biết gì hết. Tôi không bao giờ được biết. Nola không bao giờ nói cho tôi biết.

- Chuyện đó có liên quan gì tới việc chuyển nhà của họ không?

- Tôi không biết. Tôi cũng rất muốn giúp anh, nhưng thực sự là tôi không biết.

– Tất cả là do lỗi của tôi, thưa cô Hattaway, tôi nói. Sau đó, tôi quá tập trung vào Alabama…

– Vậy nếu có chuyện Nola bị đánh thì là bị bố đánh à? Gahalowood hỏi, có vẻ rất hoang mang.

Nancy suy nghĩ giây lát, cô có vẻ như mất phương hướng. Rốt cuộc, cô ấy trả lời:

– Đúng vậy. Hoặc cũng có thể không phải. Tôi cũng không biết nữa. Trên người cô ấy có bao nhiêu là vết bầm thâm tím. Khi tôi hỏi cô ấy chuyện gì xảy ra, thì cô ấy chỉ bảo là lúc ở nhà cô ấy bị trừng phạt.

– Trừng phạt vì tội gì?

– Nola không bao giờ nói thêm. Nhưng cô ấy không nói là bị bố đánh. Suy cho cùng, chúng ta chẳng biết gì cả. Một hôm trên bãi biển; chính mẹ tôi cũng nhìn thấy những vết đánh trên người Nola. Rồi tiếng nhạc chói tai mà ông mục sư mở liên tục. Tất cả mọi người đều nghi cha Kellergan đánh con gái, nhưng không ai dám nói. Dù sao thì ông ấy cũng là mục sư của chúng tôi.

Kết thúc cuộc nói chuyện với Nancy Hattaway, Gahalowood và tôi còn ngồi lại một lúc lâu trên ghế dài, trước cửa hàng, và im lặng. Tôi hoàn toàn tuyệt vọng.

– Một hiểu lầm đáng nguyền rủa! Rốt cuộc tôi kêu lên. Tất cả những chuyện này là vì một sự hiểu lầm! Làm sao tôi lại ngu ngốc đến thế cơ chứ?

Gahalowood cố gắng an ủi tôi.

– Bình tĩnh đi nhà văn, đừng có nghiêm khắc quá với bản thân như thế. Ai cũng có lúc nhầm lẫn. Quá chăm chú theo hướng điều tra mình đặt ra nên ta không thể nhìn thấy điều quá hiển nhiên rõ ràng. Có điều gì đó ức chế khiến chúng ta hiểu nhầm là chuyện bình thường.

Vào lúc đó, điện thoại của Gahalowood reo. Viên trung sĩ trả lời.

– Cảnh sát đã tìm được tên của người bị kiểm tra giấy tờ ở chỗ nhà nghỉ, Gahalowood thầm thì, thái độ vô cùng ngạc nhiên.

Sau đó mặt anh ta thộn ra trông rất nực cười. Rồi anh ta hạ điện thoại xuống khỏi tai, nói với tôi:

– Đó chính là David Kellergan.

Âm nhạc không bao giờ tắt, vang lên dữ dội từ ngôi nhà số 245 Terrace Avenue: mục sư Kellergan đang ở nhà.

– Dứt khoát chúng ta phải biết ngay ông ta muốn gì ở Harry, Gahalowood nói với tôi khi nhảy ra khỏi xe. Nhưng nhà văn này, làm ơn để cho tôi nói chuyện nhé.

Khi kiểm tra tại nhà nghỉ Sea Side, cảnh sát giao thông đã phát hiện một khẩu súng săn trong xe ô tô của David Kellergan. Tuy nhiên không có vấn đề gì vì David Kellergan có đầy đủ giấy tờ sở hữu vũ khí một cách hợp pháp. Ông ấy giải thích đang trên đường đến câu lạc bộ bắn súng thì muốn dừng lại mua cà phê ở nhà hàng của nhà nghỉ Sea Side. Cảnh sát không thể xử lý ông ấy vì bất kì tội gì nên đã để cho ông ấy đi.

– Phải bắt ông ấy khai ra, trung sĩ ạ, tôi nói khi cả hai chúng tôi cùng rảo bước trên con đường lát gạch dẫn vào ngôi nhà. Tôi rất tò mò muốn biết chuyện thư từ ở đây nghĩa là gì… Thế mà Kellergan từng khẳng định với tôi rằng không quen biết Harry mấy. Anh có nghĩ là ông ta nói dối tôi không?

– Chúng ta sẽ khám phá ra điều này ngay bây giờ đây, nhà văn ạ.

Tôi cho rằng cha Kellergan nhìn thấy chúng tôi đi đến, vì ông ấy mở cửa ngay trước cả khi chúng tôi bấm chuông, trong tay lăm lăm khẩu sung. Ông ta không còn có thể tự kiếm chế, có vẻ muốn giết chết tôi luôn. “Mày làm vấy bẩn linh hồn vợ và con gái ta!”. Ông ta gào lên. “Mày là đống cứt thối! Đồ con hoang”. Gahalowood cố gắng trấn tĩnh viên mục sư, yêu cầu ông ta hạ súng xuống và giải thích rằng chúng tôi đến chỉ để tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra với Nola. Bị lôi kéo bởi âm thanh ồn ào, những người hiểu kì nhanh chóng đổ xô đến tập trung trước ngôi nhà, trong khi đó mục sư Kellergan vẫn luôn mồm chửi bới. Gahalowood ra hiệu cho tôi dần dần rút lui. Hai toán cảnh sát của Aurora đã tới, hú còi ầm ĩ. Travis Dawn nhảy xuống xe, rõ ràng không hài lòng khi nhìn thấy tôi. Ông ta nói với tôi: “Cậu có nghĩ là mình đã gây khá nhiều phiền toái cho thành phố này rồi không?”. Rồi ông ta quay sang hỏi Gahalowood có lí do chính đáng nào không mà cảnh sát bang lại đến thành phố Aurora trong khi không thông báo cho cảnh sát địa phương biết trước. Vì biết chúng tôi không có nhiều thời gian, nên tôi hét lên với David Kellergan:

– Hãy trả lời tôi, ông mục sư: ông bật nhạc hết cỡ và vui thích lắm phải không?

Ông ta lại giơ súng lên.

– Tao không bao giờ giơ tay lên với con gái tao! Nó không bao giờ bị đánh! Mày là đồ đểu, Goldman! Tao sẽ mời luật sư, lôi mày ra trước vành móng ngựa!

– À thế à? Thế tại sao ông còn chưa làm? Tại sao ông còn chưa ra tòa án? Có thể Ông không muốn bị người ta phanh phui quá khứ chứ gì! Chuyện gì xảy ra ở Alabama?

Ông ta nhổ nước bọt về phía tôi.

– Loại người như mày không bao giờ hiểu được đâu, Goldman.

– Chuyện gì xảy ra với Harry Quebert ở nhà nghỉ Sea Side? Ông che giấu chúng tôi cái gì?

Đúng lúc đó, Travis cũng bắt đầu gào lên, dọa Gahalowood sẽ báo lên cấp trên, và yêu cầu chúng tôi phải đi khỏi ngay lập tức.

Chúng tôi im lặng chạy xe thẳng hướng Concord. Rồi rốt cuộc Gahalowood lên tiếng:

– Chúng ta đã lỡ mất chuyện gì hả nhà văn? Điều gì xảy ra ngay trước mắt mà chúng ta không nhìn thấy?

– Giờ thì tôi chắc chắn Harry biết điều gì đó liên quan đến mẹ của Nola nhưng chưa nói với tôi.

– Và chúng ta cũng có thể giả định rằng mục sư Kellergan biết là Harry biết. Nhưng biết gì mới được chứ, mẹ kiếp, bó tay!

– Trung sĩ này, anh nghĩ mục sư Kellergan có thể dính líu đến vụ này ở chỗ nào nhỉ?

* * *

Báo chí bắt đầu thêm mắm thêm muối.

Tin mới về Vụ án Harry Quebert: thông tin bất nhất vừa được phát hiện trong truyện của Marcus Goldman khiến mọi người bắt đầu ngờ vực cuốn sách từng được giới phê bình hết lời ca ngợi và được ông trùm xuất bản sách ở Bắc Mỹ là Roy Barnaski giới thiệu là cuốn sách chính xác về các sự kiện xảy ra khiến cô bé Nola Kellergan bị giết hại năm 1975.

Tôi không thể quay lại New York chừng nào còn chưa làm rõ được vụ việc, bởi vậy, tôi lại tới trú tạm trong căn phòng hạng sang ở khách Sạn Regent tại Concord. Người duy nhất được tôi liên lạc và cung cấp địa chỉ chính xác là Denise, cô ấy thông tin cho tôi những bình luận, diễn giải mới nhất ở New York và những phiên bản mới nhất liên quan tới bóng ma của bà Kellergan, mẹ của Nola. Tối hôm đó, Gahalowood mời tôi ăn tối tại nhà riêng. Hai con gái của ông đang vận động cho chiến dịch của Obama, chúng làm náo động cả bữa ăn. Hai đứa cho tôi những tấm hình đề can tự dán lên ô tô. Sau đó, khi tôi giúp Helen rửa bát trong nhà bếp, bà nói nhìn tôi có vẻ buồn. Không hiểu tôi đã làm gì, tôi giải thích. Không hiểu sao tôi lại bị chết dí ở tình huống này.

– Chắc phải có một lí do chính đáng nào đó, Marcus ạ. Anh biết không, Perry rất tin tưởng ở anh. Ông ấy bảo anh là một người đặc biệt. Tôi ở với ông ấy ba mươi năm nay, ông ấy chưa bao giờ nói như vậy về bất kì ai. Tôi tin chắc anh không làm chuyện gì vớ vẩn, chắc sẽ có cách giải thích hợp lí cho tất cả những việc này.

Đêm hôm đó, Gahalowood và tôi thức rất khuya trong phòng làm việc để nghiên cứu tập bản thảo mà Harry để lại cho tôi. Nhờ đó, tôi phát hiện ra cuốn tiểu thuyết chưa được xuất bản, Những chú mòng biển ở Aurora, là một cuốn tiểu thuyết tuyệt diệu mà qua đó Harry kể lại chuyện của mình với Nola. Không hề có để ngày tháng nhưng tôi tin rằng ông viết nó sau khi viết cuốn Nguồn gốc cái xấu xa . Bởi vì nếu như cuốn tiểu thuyết Nguồn gốc cái xấu xa kể về một tình yêu không thể và không bao giờ có thể trở thành hiện thực, thì cuốn Những chú mòng biển ở Aurora lại kể về việc Nola đã khơi gợi cảm hứng cho Harry như thế nào, nàng chưa bao giờ hết tin tưởng ở Harry, còn khuyến khích Harry trở nhà văn lớn như trên thực tế. Nhưng ở đoạn kết, Nola không chết: vài tháng sau khi trở nên nổi tiếng, Harry nhân vật chính có gia tài lớn, đã bay sang Canada, tại đó , trong căn nhà đẹp đẽ bên hồ lớn, Nola đợi ông.

Tầm 2 giờ sáng, Gahalowood pha cho tôi một cốc cà phê và hỏi:

– Suy cho cùng, Harry đang cố gắng nói với chúng ta điều gì qua cuốn sách của ông ấy nhỉ?

– Ông ấy tưởng tượng về cuộc sống của ông ấy nếu Nola không chết, tôi nói. Cuốn sách này là thiên đường của nhà văn.

– Thiên đường của nhà văn? Nó là cái gì?

– Đó chính là khi khả năng viết đối lập với nhà văn. Nhà văn không còn biết các nhân vật của mình chỉ tồn tại trong đầu thôi hay đang sống thực sự.

– Thế thì giúp được gì cho chúng ta?

– Tôi không biết gì hết. Hoàn toàn không biết gì hết. Cuốn truyện thật hay mà ông ấy không xuất bản. Tại sao ông ấy lại giấu kỉ tận đáy ngăn kéo tủ như vậy chứ?

Gahalowood nhún vai.

– Có thể tại vì ông ấy không dám cho xuất bản khi viết về cô gái bị mất tích, Gahalowood giải thích.

– Có thế. Nhưng trong cuốn Nguồn gốc cái xấu xa ông ấy cũng viết về Nola và vẫn đưa cho các nhà xuất bản để in. Tại sao ông ấy lại viết cho tôi là cuốn sách này là sự thật? Sự thật gì? Hay là sự thật về Nola chăng? Ông ấy muốn nói gì nhỉ? Nola không chết và đang sống trong một túp lều gỗ à?

– Tôi chả thấy có ý nghĩa gì ở đây cả, Gahalowood đánh giá. Rõ ràng các phân tích khoa học đã chứng minh đích xác bộ hài cốt là của Nola.

– Thế nghĩa là sao nhỉ?

– Nghĩa là chúng ta chưa có tiến triển thêm được tẹo nào cả, nhà văn ạ.

Sáng hôm sau, Denise gọi điện cho tôi thông báo rằng có một phụ nữ gọi điện tới công ty Schmid & Hanson, người ở công ty này cho cô ấy số điện thoại của Denise.

– Cô ấy muốn nói chuyện với anh, Denise giải thích, bảo có việc rất quan trọng.

– Quan trọng à? Về chuyện gì?

– Cô ấy nói đã học cùng trường với Nola Kellergan ở Aurora và Nola có kể chuyện với cô ấy về mẹ mình.

* * *

Cambridge, Massachusetts, thứ Bảy ngày 25 tháng Mười năm 2008

Cô ấy có tên trong cuốn kỉ yếu năm 1975 của trường trung học Aurora, tên là Stefanie Hendorf, trong sổ, có hai tấm ảnh của Stefanie Hendorf rồi đến ảnh của Nola. Vì cưới chồng người Phần Lan, nên bây giờ Stefanie Hendorf đổi tên theo họ chồng là Stefanie Larjinjiak và sống trong một ngôi nhà sang trọng tại Cambridge, khu ngoại ô giàu có của Boston. Gahalowood và tôi sẽ đi gặp cô ấy ở nhà riêng. Stefanie Larjunjia 48 tuổi, bằng tuổi Nola nếu Nola còn sống. Cô ấy là phụ nữ đẹp, qua hai đời chồng, có ba con, từng dạy môn lịch sử nghệ thuật tại Harvard và bây giờ mở phòng tranh riêng. Stefanie lớn lên ở Aurora, học cùng lớp với Nola, Nancy Hattaway và vài người khác mà tôi từng gặp trong quá trình điều tra. Khi nghe Stefanie kể chuyện quá khứ, tôi cứ nghĩ trong đầu rằng đây là một người sống, còn Nola là người chết từ tuổi 15, Stefanie được sống, được mở phòng tranh, thậm chí được cưới chồng tới tận hai lần liền.

Trên chiếc bàn thấp kê giữa phòng trưng bày, Stefanie chỉ cho chúng tôi xem mấy bức ảnh hồi trẻ.

– Tôi theo dõi sát vụ việc ngay từ đầu, Stefanie bắt đầu giải thích. Tôi còn nhớ ngày Nola biến mất, tôi cho rằng tất cả các cô gái vào tuổi tôi lúc ấy đang sống ở Aurora cũng thế, vẫn còn nhớ tất cả. Cho nên khi tìm thấy thi hài của Nola rồi Harry Quebert bị bắt, tất nhiên là tôi rất lưu tâm. Đúng là một chuyện… Tôi rất thích cuốn sách của anh, Goldman ạ. Anh miêu tả Nola cực kì sinh động. Nhờ anh, tôi có cảm giác như được gặp lại cô ấy. Có thật là người ta định dựng thành phim không?

– Đúng là có công ty Warner Bross muốn mua bản quyền, tôi trả lời.

Stefanie chỉ cho chúng tôi xem ảnh: ảnh chụp buổi lễ sinh nhật mà Nola cũng có mặt năm 1973. Cô nói tiếp:

– Nola và tôi chơi rất thân với nhau. Nola là đứa bạn gái tuyệt vời. Ở Aurora, ai cũng quý cô ấy. Hình ảnh hai bố con Nola khiến tất cả mọi người đều cảm động: một vị mục sư tốt bụng góa bụa và một cô gái tận tình chu đáo lúc nào cũng mỉm cười, không bao giờ phàn nàn. Tôi còn nhớ hồi đó mỗi khi tôi đỏng đảnh hay đòi hỏi thì mẹ tôi còn nói với tôi: “Phải noi gương Nola kia kìa! Tội nghiệp con bé, Chúa đã tước mất của nó người mẹ, thế mà lúc nào nó cũng đáng yêu, ngoan ngoãn và vâng lời”.

– Trời ơi, tôi nói, làm sao mà tôi lại không hiểu ra là mẹ của Nola đã mất rồi cơ chứ. Cô nói cô rất thích cuốn sách của tôi phải không? Chắc hẳn cô nghĩ thầm tôi là hạng nhà văn rác rưởi phải không!

– Ồ, hoàn toàn không! Ngược lại là đằng khác! Thậm chí tôi cứ tưởng anh cố tình viết như vậy. Bởi vì tôi đã trải nghiệm điều đó với Nola.

– Thế nghĩa là thế nào, ý cô nói trải nghiệm điều đó với Nola nghĩa là gì?

– Một hôm, đã xảy ra một chuyện vô cùng kì lạ đã khiến tôi phải tránh xa Nola.

* * *

Tháng Ba năm 1973

Gia đình Hendorf có một cửa hàng tạp hóa trên phố chính. Thỉnh thoảng sau giờ học Stefanie dẫn Nola tới đó chơi và ăn vụng kẹo trong nhà kho. Một buổi chiều, cả hai vào trong kho, trốn đằng sau đống bao tải bột mì ăn vụng kẹo dẻo cho đến tận khi đau bụng mới thôi, họ thích chí không nhịn được cười, phải lấy tay bịt miệng để không ai nghe thấy. Bất chợt, Stefanie nhận thấy ở Nola có điều gì đó không ổn. Ánh mắt Nola hoàn toàn thay đổi, đồng thời Nola không nghe thấy gì nữa.

– Nola, có chuyện gì thế, cậu có bị sao không? Stefanie hỏi.

Nola không trả lời. Stefanie hỏi mãi, rốt cuộc Nola nói:

– Tớ… tớ… phải về nhà.

– Đã phải về rồi á? Tại sao?

– Mẹ muốn tớ về ngay.

Stefanie tưởng mình nghe nhầm.

– Cái gì? Mẹ cậu á?

Nola đứng dậy, sợ hãi. Cô bé nhắc lại:

– Tớ phải về!

– Nhưng… Nola! Mẹ cậu chết rồi cơ mà!

Nola vội vàng đi ra phía cửa nhà kho. Stefanie níu lấy cánh tay cô bạn. Nola quay lại túm lấy váy của Stefanie hét lớn:

– Mẹ tớ! Nola hoảng loạn hét lên. Cậu không thể biết mẹ tớ sẽ làm gì đâu! Khi tớ độc ác, mẹ tớ sẽ trừng phạt!

Rồi cô ấy chạy vụt đi rất nhanh.

Stefanie đứng như trời trồng một lúc lâu. Buổi tối, ở nhà, Stefanie kể lại chuyện với mẹ, nhưng bà Hendorf không tin nửa lời. Bà dịu dàng xoa đầu con gái, nói:

– Mẹ không biết con lấy đâu ra tất cả những chuyện này, con gái yêu quý ạ. Thôi nào, đừng có nói vớ vẩn nữa, đi rửa tay đi. Bố con vừa mới về và đói rồi: chúng ta ra bàn ăn thôi nào.

Ngày hôm sau ở trường, Nola lại có vẻ rất bình thản, chẳng tỏ ra có thái độ gì đặc biệt cả. Stefanie không dám đá động gì tới chuyện xảy ra ngày hôm trước. Nhưng vì quá băn khoăn nên khoảng 10 ngày sau đó, rốt cuộc Stefanie đi gặp trực tiếp mục sư Kellergan kể ông biết. Cô được ông mục sư đón tiếp rất ân cần trong phòng làm việc, như ông vẫn cư xử với tất cả mọi người. Ông cho Stefanie uống cả nước si rô, rồi nghe chuyện rất chăm chú, tưởng rằng Stefanie đến gặp ông để tìm lời khuyên với tư cách là cha giám mục. Nhưng khi Stefanie vừa kể xong điều đã chứng kiến, chính ông mục sư Kellergan cũng không tin.

– Chắc là cháu nghe nhầm rồi, ông Kellergan nói.

– Cháu biết chuyện này rất hoang đường, thưa mục sư. Nhưng chắc chắn đó là sự thực.

– Suy cho cùng thì chuyện này không có nghĩa gì cả. Tại sao Nola lại kể với cháu một chuyện ngu ngốc như vậy? Chẳng nhẽ cháu không biết mẹ của Nola mất rồi à? Có phải cháu muốn gây chuyện rắc rồi đúng không?

– Không, nhưng…

David Kellergan muốn kết thúc cuộc nói chuyện, nhưng Stefanie cứ nài nỉ. Bất chợt khuôn mặt vị mục sư thay đổi hoàn toàn, cô bé Stefanie không bao giờ muốn nhìn thấy bộ mặt đó: lần đầu tiên, vị mục sư nhiệt tình tốt bụng mang một khuôn mặt tối tăm, hung dữ như thế.

– Ta không muốn nghe cháu nói chuyện này thêm nữa! Ông nhấn mạnh. Không được nhắc lại với ta hay với bất kì người nào khác, nghe rõ chưa? Nếu không, ta sẽ đến nói với bố mẹ cháu rằng cháu là đứa trẻ dối trá. Ta sẽ nói bắt được quả tang cháu ăn cắp ở nhà thờ. Ta sẽ nói cháu ăn cắp của ta 50 đô la. Cháu không muốn gặp phiền toái phải không nào? Thế nên hãy là một cô bé ngoan.

* * *

Stefanie dừng lại. Cô lật lật mấy bức ảnh rồi quay về phía tôi.

– Vậy nên tôi không bao giờ nói về chuyện đó nữa, Stefanie nói tiếp. Nhưng tôi không bao giờ quên được chuyện ấy. Nhiều năm trôi qua, dần dần tôi cũng tự thuyết phục được mình rằng tôi đã nghe nhầm, hiểu nhầm, và không có chuyện như vậy xảy ra. Thế rồi, cuốn sách của anh xuất bản, tôi tìm thấy trong đó hình ảnh một người mẹ còn sống và hành hạ con gái mình. Tôi không thể nào diễn tả cho anh hiểu được điều gì xảy ra trong tôi; anh có tài năng xuất chúng, anh Goldman ạ. Cách đây mấy ngày, khi các tờ báo bắt đầu nói anh kể chuyện linh tinh, tôi nghĩ tôi phải liên hệ với anh, tại vì tôi biết anh đã viết sự thật.

– Sự thật nào? Tôi kêu lên. Người mẹ Nola đã chết từ lâu.

– Tôi cũng biết rõ như vậy. Nhưng tôi cũng biết rằng anh có lí.

– Thế cô có nghĩ Nola bị bố đánh không?

– Dù sao thì đó cũng là điều mà tất cả mọi người thường nói. Ở trường, tất cả chúng tôi đều nhìn thấy những vết đòn trên cơ thể Nola. Nhưng ai dám đứng lên chống lại ông mục sư? Ở Aurora, năm 1975, chẳng có ai muốn nhúng mũi vào chuyện của người khác. Lúc đó là thời kì khác. Thỉnh thoảng, tất cả mọi người ai cũng bị tát cho một phát.

– Cô có suy nghĩ gì khác liên quan tới Nola hay cuốn sách không? Tôi hỏi tiếp.

Stefanie suy nghĩ vài giây và nói.

– Không, cô trả lời. Trừ việc là, gần như là…quá vui vì sau chừng ấy năm phát hiện ra Harry Quebert và Nola yêu nhau.

– Cô muốn nói điều gì?

– Anh biết không, hồi đó tôi là đứa trẻ quá ngây thơ…Sau khi xảy ra chuyện trên tôi ít khi gặp Nola. Nhưng vào mùa hè Nola biến mất thì tôi lại thường xuyên gặp cô ấy. Trong suốt mùa hè năm 1975, tôi làm việc rất nhiều ở cửa hàng của bố mẹ tôi hồi đó nằm đối diện với bưu điện. Anh biết không, tôi liên tục gặp Nola. Cô ấy đến đó để bỏ thư. Tôi biết vì khi nhìn thấy cô ấy đến đó quá nhiều, tôi đã vặn hỏi cô ấy. Rốt cuộc, một hôm cô ấy cũng phải mở miệng. Cô ấy nói đang yêu như điên, họ thư từ với nhau. Nhưng cô ấy không bao giờ muốn nói cho tôi biết người đó là ai. Hồi đó tôi cứ nghĩ là Cody, một cậu bạn trai ở lớp 11, thành viên đội bóng rổ. Tôi không lần nào ngó được tên của người nhận, nhưng một lần tôi nhìn thấy chữ Aurora. Tôi chẳng hiểu tại sao ở Aurora mà lại phải viết thư gửi bưu điện cho một người cũng ở Aurora.

Khi chúng tôi ra khỏi nhà Stefanie Larjinjiak, Gahalowood nhìn tôi, mắt mở to cẩn trọng. Anh ta nói:

– Không hiểu điều gì đang xảy ra thế hả nhà văn?

– Anh hỏi tôi thì tôi hỏi ai bây giờ! Theo anh, bây giờ chúng ta phải làm gì?

– Phải làm điều mà nhẽ ra chúng ta đã làm từ lâu rồi: tới Jackson, Alabama. Chính anh là người đặt ra câu hỏi này từ lâu, nhà văn ạ: điều gì đã xảy ra ở Alabama.

tác: The Truth About the Harry Quebert Affair ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Phụ Nữ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.