Sự Thật Về Vụ Án Harry Quebert Hay Chuyện Nàng Nola

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6
Nguyên Tắc Của Barnaski

❊ ❊ ❊

“Anh thấy đấy, Marcus, ngôn từ cũng hay, nhưng đôi khi nó thật vô nghĩa và không đầy đủ. Sẽ đến lúc có những người không muốn nghe anh nữa.”

– Thế thì nên làm gì lúc đó?

– Phải tóm cổ họ và chặn họng họ lại. Thật mạnh vào,

– Tại sao?

– Khiến họ ngạt thở. Khi ngôn từ không còn tác dụng nữa thì hãy tặng cho họ vài quả đấm”.

Đầu tháng Tám năm 2008, khi phát hiện một vài điểm mới trong cuộc điều tra, văn phòng công tố bang New Hampshire đã trình cho thẩm phán chịu trách nhiệm về vụ này một bản báo cáo mới kết luận Luther Caleb là kẻ ám sát bà Deborah Cooper, bắt cóc, đánh chết và chôn xác Nola Kellergan ở Goose Cove. Khi nhận được báo cáo này, thẩm phán đã triệu tập Harry và mở tọa đàm khẩn cấp. Trong buổi tọa đàm, thẩm phán đã hoàn toàn bác bỏ mọi lời buộc tội Harry. Việc Harry được phục hồi nhân phẩm khiến bức tranh về vụ án Harry Quebert thêm khởi sắc vào mùa hè năm đó: Harry Quebert, ngôi sao sáng của nước Mỹ vừa bị quá khứ nuốt chửng và làm cho ô nhục, có nguy cơ bị án tử hình và huỷ hoại toàn bộ sự nghiệp, nay rốt cuộc được minh oan. Luther Caleb được gán với những từ “con người bẩn thỉu thối tha”, cuộc sống của anh ta bị phơi bày trên mặt báo và được coi là một trong những tội phạm nguy hiểm nhất nước Mỹ. Dư luận nhanh chóng chỉ tập trung vào Luther Caleb. Cuộc đời anh ta bị báo chí đào bới, các tập san thi nhau minh họa tiểu sử hắn bằng những tấm ảnh lưu trữ mua lại từ người thân: những năm tháng vô lo ở Portland, tài năng hội họa, trận ẩu đả trên đường phố, cuộc đời trượt dốc xuống địa ngục. Nhu cầu vẽ chân dung phụ nữ khỏa thân của Luther là chủ để khiến công chúng say sưa. Nhiều chuyên gia phân tích tâm lí đã được mời tới phỏng vấn để đưa ra những giải thích mới: đây có phải là bệnh lí phổ biến không? Chi tiết này có cho phép suy đoán các nội dung khác của vụ án? Do có sự dò rỉ thông tin từ phía cảnh sát, mà bức tranh tìm thấy ở nhà Elijah Stern đã bị phát tán rộng rãi, là cơ sở của những dự đoán điên cuồng nhất: ai cũng tự hỏi tại sao Stern, một con người có thế lực và được trọng vọng như thế, lại đứng ra bảo kê cho hành vi vẽ chân dung khỏa thân một bé gái mười lăm tuổi?

Những ý kiến không đồng tình chĩa về ngài chưởng lý. Không một ai cho rằng ông ta là người có trách nhiệm khi hành động thiếu suy nghĩ và vội vàng, khiến cho Harry phải chịu ô nhục. Thậm chí một số người còn cho rằng khi kí vào bản báo cáo trứ danh hồi tháng Tám, ông chưởng lý đã kí dấu chấm hết cho sự nghiệp của chính mình. Nhưng Gahalowood đã cứu vớt phần nào danh dự cho ngài chưởng lý bằng cách tổ chức họp báo, tuyên bố rằng chưởng lý là người ký lệnh bắt Harry, nhưng cũng là người trả tự do cho Harry. Điều này không có gì là mâu thuẫn, cũng không phải là sự thất bại, mà chứng tỏ công lí đang được thực thi. “Chúng tôi không bắt tù nhầm ai cả”, Gahalowood tuyên bố với đám đông nhà báo. Chúng tôi có những mối nghi ngờ và chúng tôi đã xóa hết những nghi ngờ đó. Chúng tôi đã hành xử hợp lí trong cả hai tình huống. Đó chính là công việc của cảnh sát”. Để giải thích tại sao hàng bao năm trời vẫn chưa xác định đích xác thủ phạm, Gahalowood đề cập đến lí thuyết của ông ta về sự phản hồi ngược: Nola là yếu tố trung tâm, xung quanh đó còn rất nhiều yếu tố ngoại vi khác. Vì vậy, cần phải tách yếu tố trung tâm ra khỏi những yếu tố ngoại vi để tìm ra kẻ giết người. Việc này chỉ có thể thực hiện được nhờ phát hiện ra bộ hài cốt. “Các anh nói rằng chúng tôi phải cần tới ba mươi ba năm để giải quyết vụ giết người, nhưng thực ra, chúng tôi chỉ cần hai tháng thôi. Trong khoảng thời gian còn lại, không có bộ hài cốt, nghĩa là không có vụ giết người. Chỉ là vụ một bé gái bị mất tích”.

Người ít biết rõ về tình hình là Benjamin Roth. Một buổi chiều tôi tình cờ gặp anh ta ở gian hàng mĩ phẩm trong một trung tâm thương mại lớn của Concord, anh ta nói với tôi:

– Thật điên rồ, hôm qua, tôi đi gặp Harry, có thể nói, dù ông ta được rửa sạch mọi tội danh, nhưng ông ấy không hề có vẻ gì vui sướng cả.

– Ông ấy đang buồn, tôi giải thích.

– Buồn à? Chúng ta thắng cuộc thế mà ông ấy lại buồn à?

– Ông ấy buồn vì Nola chết.

Cô ấy chết đã ba mươi ba năm rồi mà.

– Nhưng lần này, cô ấy mới chết thực sự.

– Tôi chẳng hiểu anh đang nói gì, anh Goldman ạ.

– Tôi cũng chẳng ngạc nhiên về điều đó.

– Tóm lại, tôi đã đi gặp ông ấy để bảo ông ấy có thể lấy lại ngôi nhà: tôi có nhiều bạn làm bảo hiểm, nhưng ông ấy phải liên hệ với kiến trúc sư và quyết định làm gì. Có vẻ như ông ấy đếch quan tâm tới tất cả những điều đó. Ông ấy chỉ nói với tôi mỗi một câu: “Đưa tôi tới đó”. Thế là chúng tôi đến Goose Cove. Vẫn còn hàng đống những thứ cứt đái trong ngôi nhà, anh biết không? Ông ấy bỏ hết cả lại đó, đồ gỗ và nhiều đồ đạc khác còn nguyên vẹn. Ông ấy bảo chẳng cần gì nữa. Chúng tôi ở lại trong đó khoảng một tiếng đồng hồ. Một tiếng đồng hồ trên mảnh đất đầy bùn làm hỏng mất toi của tôi một đôi giày trị giá 600 đô la. Tôi phải chỉ cho ông ta những cái mà ông ta nên giữ, nhất là đồ gỗ cổ. Tôi cũng đề nghị ông ấy phá tường để nới rộng phòng khách. Tôi còn nhắc ông ta rằng chúng ta có thể kiện lên cấp nhà nước bang vì đã xâm hại nhân phẩm ông ấy, có thể còn thu được cả một mỏ vàng nữa. Nhưng ông ấy không thèm phản ứng. Tôi đề nghị ông ấy liên lạc với một công ty chuyên dọn nhà để vận chuyển đồ đạc một cách an toàn rồi giữ gìn tất cả trong kho đồ gỗ. Tôi còn bảo thật may mắn vì trời không mưa, cũng không có trộm cắp, nhưng ông ấy lại trả lời rằng, chẳng cần. Thậm chí ông ấy còn nói thêm càng tốt nếu như có ai đến ăn trộm vì như vậy ít ra những món đồ gỗ cũng còn có ích. Anh có hiểu thế nghĩa là gì không hả anh Goldman?

– Vâng, ngôi nhà không còn có ích đối với ông ấy nữa.

– Không còn có ích gì nữa ư? Tại sao lại thế?

– Vì ông ấy chẳng còn ai để mà chờ đợi nữa.

– Để chờ đợi? Nhưng đợi ai?

– Nola.

– Cô ấy đã chết từ lâu rồi!

– Thì chính bởi vậy đây.

Roth nhún vai.

– Xét cho cùng, anh ta nói, ngay từ đầu tôi đã có lí. Cô bé Kellergan này là một con đĩ. Cô ta cưỡi lên đầu lên cổ cả thành phố này. Harry cũng chỉ là kẻ bị lừa, một kẻ lãng mạn dịu dàng ngây ngô bị mắc bẫy, viết cho cô ta những lời lẽ yêu đường, hay chính xác là cả một tiểu thuyết.

Anh ta phá lên cười độc ác.

Thật là khốn. Bằng một động tác nhanh gọn, tôi túm lấy cổ áo sơ mi và đập mạnh tay luật sư vào tường, khiến những chai nước hoa rơi xuống đất vỡ vụn. Tôi chặn tay ngang cổ họng anh ta.

– Nola đã thay đổi cả cuộc đời Harry! Tôi hét to. Nola hy sinh vì ông ấy! Tôi cấm anh nhắc lại với tất cả mọi người rằng Nola là con đĩ.

Anh ta cố vùng ra nhưng vô ích; tôi nghe thấy giọng nói đang chết ngạt của anh ta nghẹn lại bé tí. Mấy người xúm quanh chúng tôi, nhân viên an ninh chạy tới và rốt cuộc tôi bỏ Roth ra. Đầu anh ta đỏ như quả cà chua, áo sơ mi tuột cúc. Anh ta lắp bắp:

– Anh… anh…. Anh điên rồi, Goldman? Điên như Quebert! Tôi có thể kiện anh!

– Cứ làm như anh muốn, Roth ạ!

Anh ta bỏ đi, điên lên vì tức giận, khi đi được khá xa thì anh ta hét to:

– Chính anh nói Nola là con đĩ, Goldman ạ! Chính anh viết ra như vậy, đúng không? Tất cả những điều đó là do lỗi ở anh!

Tôi chỉ muốn cuốn sách hoàn thành rồi sẽ sửa chữa thảm họa gây ra vì mấy trang ghi chép của mình bị phát tán. Còn một tháng rưỡi trước khi nó được xuất bản chính thức. Roy Barnaski chịu áp lực lớn, gọi điện cho tôi nhiều lần trong ngày để chia sẻ sự phấn khích của ông ấy.

– Tất cả đều hoàn hảo! Thời gian trù tính rất hoàn hảo! Bản báo cáo của ngài chưởng lý được đưa ra tại thời điểm này cùng biết bao sự kiện chấn động là điều may mắn không thể tưởng tượng được, vì trong ba tháng nữa, sẽ diễn ra bầu cử tổng thống, chẳng ai thèm quan tâm đến cuốn sách của anh và cả câu chuyện này nữa. Anh biết không, thông tin là dòng chảy bất tận trong không gian có giới hạn. Khối lượng thông tin tăng theo cấp số nhân, nhưng thời gian người ta dành cho nó có giới hạn và không thể mở rộng ra được. Người bình thường dành bao lâu để đọc thông tin? Có đến một tiếng mỗi ngày? 20 phút đọc báo miễn phí trong tàu điện ngầm buổi sáng, nửa tiếng lướt mạng ở văn phòng và khoảng 15 phút xem CNN buổi tối trước khi đi ngủ. Nguyên liệu để lấp đầy khoảng thời gian này có đến vô tận! Trên thế giới hàng đống điều tởm lợm xảy ra, nhưng người ta không nói tới vì không có thời gian. Không thể đồng thời nói đến Nola Kellergan và Soudan, không có thời gian, anh hiểu không. Chỉ có 15 phút cho CNN mỗi buổi tối. Sau đó, mọi người muốn xem bộ phim truyền hình nhiều tập mà họ đang theo dõi. Cuộc sống là vấn đề lựa chọn các ưu tiên.

– Ông đúng là người theo chủ nghĩa hoài nghi, Roy ạ, tôi trả lời ông ta.

– Không đâu, trời đất ơi, không đâu! Đừng có kết tội tôi xấu xa! Chỉ đơn giản tôi là người thực tế. Còn anh, anh là tay thợ săn dịu dàng chuyên đi bắt bướm, một kẻ mộng mơ lang thang trên thảo nguyên tìm nguồn cảm hứng. Anh có thể viết một tuyệt tác về Soudan nhưng tôi sẽ không bao giờ xuất bản nó. Bởi vì công chúng đếch thèm! Họ đếch thèm cái đó! Vậy thì, vâng, anh có thể cho rằng tôi là kẻ mất dạy, nhưng việc tôi làm chỉ là đáp ứng yêu cầu. Ai cũng tránh xa đất nước Soudan, vậy đấy. Ngày hôm nay, khắp nơi người ta nói về Harry Quebert và Nola Kellergan, cho nên cần phải lợi dụng điều đó: hai tháng nữa, người ta sẽ nói về tân tổng thống, cuốn sách của anh sẽ chẳng còn tồn tại nữa. Nhưng lúc đó, chúng ta đã bán được nhiều tới mức cho phép anh có cuộc sống yên tĩnh, hạnh phúc trong ngôi nhà mới ở Bahamas.

Phải thừa nhận Barnaski có tài năng bẩm sinh về chiếm hữu không gian thông tin. Tất cả mọi người đều đã nói tới cuốn sách; Barnaski khiến họ càng nói nhiều hơn bằng cách tăng cường các chiến dịch quảng cáo. Vụ án Harry Quebert, cuốn sách có giá một triệu đô la, là lời giới thiệu của báo chí. Tôi nhận ra khoản thù lao khổng lồ ông ấy hứa trả cho tôi đã được tung tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đây cũng chính là một khoản đầu tư cho quảng cáo. Theo Barnaski, các nguyên tắc thương mại đã bị đảo lộn bởi sự xuất hiện của internet và các mạng xã hội.

– Hãy tưởng tượng xem, Marcus, giá phải trả cho một vị trí quảng cáo duy nhất trong tàu điện ngầm ở New York là bao nhiêu? Cả một gia tài. Chúng ta phải trả quá nhiều cho một tấm biển quảng cáo chỉ được tồn tại trong một khoảng thời gian rất có hạn và số người nhìn thấy nó cũng rất hạn chế: mọi người phải ở New York, phải đi đúng hành trình đó, xuống đúng ga đó vào đúng thời điểm. Ngày nay, chỉ cần tạo ra một cái buzz, khiến mọi người nói về mình, tin tưởng cho thiên hạ nói về mình trên các mạng xã hội: anh sẽ thâm nhập được vào một không gian quảng cáo miễn phí và không có giới hạn. Con người trên trái đất này tự nhiên sẽ lãnh trách nhiệm quảng cáo cho mình trên qui mô toàn cầu mà có khi không hề ý thức về điều đó. Tuyệt vời quá còn gì? Những người dùng facebook chỉ là làm việc không công. Thật là ngu ngốc nếu không sử dụng họ.

– Đó chính là điều mà ông làm phải không?

– Bằng cách tống cho anh một triệu đô la chứ gì? Chính xác. Trả một khoản tiền khủng như trả cho vô địch bóng rổ hay khúc côn cầu cho một nhà văn để hắn viết một cuốn sách, thì chắc chắn ai ai cũng sẽ nói tới nhà văn đó.

Tại New York, 6 trụ sở công ty Schmid & Hanson, căng thẳng đã lên tới đỉnh điểm. Tất cả các nhóm làm việc đều được huy động để đảm báo sản xuất và theo sát cuốn sách. Công ty chuyển phát nhanh Fedex gửi tới cho tôi hẳn một chiếc điện thoại cho phép tôi tham gia trực tiếp vào tất cả các cuộc họp ở Manhattan từ căn phòng hạng sang trong khách sạn Regent. Họp với nhóm marketing chịu trách nhiệm quảng cáo, họp với nhóm thiết kế đồ họa chịu trách nhiệm thiết kế bìa sách, họp với ban pháp lí chịu trách nhiệm nghiên cứu tất cả các điều luật liên quan tới cuốn sách, và cuối cùng họp với đội ngũ các nhà văn ma mà Barnaski sử dụng để viết thay cho một số tác giả nổi tiếng mà ông ta cực kì muốn ép tôi chấp nhận sự dối trá này.

* * *

Cuộc họp điện đàm số 2. Với các nhà văn ma.

– Ba tuần nữa, cuốn sách phải được hoàn thành, anh Marcus ạ. Barnaski nhắc lại với tôi đến lần thứ mười. Sau đó chúng ta sẽ có 10 ngày để chỉnh sửa, sau đó một tuần nữa để in. Như vậy có nghĩa là vào giữa tháng Chín, chúng ta sẽ phát hành khắp cả nước. Anh đảm bảo được tiến độ chứ?

– Được, Roy.

– Nếu cần, chúng tôi sẽ hỗ trợ! Từ phía sau, trưởng nhóm nhà văn ma, Francois Lancaster hét lên. Chúng tôi sẽ đáp ngay chuyến bay đầu tiên tới Concord, ngay ngày mai sẽ có mặt để giúp anh.

Tôi nghe thấy những người khác đồng thanh rú lên đúng rồi, ngày mai họ sẽ có mặt và mọi chuyện sẽ tuyệt diệu.

– Họ là những tay viết cừ khôi, Barnaski nài nỉ, ngay cả anh cũng không phát hiện ra sự khác nhau.

– Đúng vậy, ngay cả anh cũng không thấy sự khác nhau đâu, Francois nhắc lại. Tại sao anh cứ muốn nai lưng làm việc trong khi anh có thể không phải làm?

– Các anh đừng lo, tôi sẽ đảm bảo đúng kì hạn.

Cuộc họp điện đàm số 4. Với nhóm marketing.

– Thưa anh Goldman, Sandra giám đốc marketing nói, chúng tôi cần có ảnh của anh trong lúc anh đang viết, các tấm ảnh cũ chụp với Harry, ảnh của Aurora. Ngoài ra chúng tôi cũng cần những ghi chép của anh để viết cuốn sách.

– Đúng, tất cả các ghi chép của anh, Barnaski nói theo.

– Được… được… Nhưng tại sao? Tôi hỏi.

– Chúng tôi muốn xuất bản một ấn phẩm về cuốn sách của anh, Sandra giải thích. Kiểu như một cuốn nhật kí được minh họa thật sinh động. Sẽ thành công vang dội cho mà xem. Tất cả những người mua sách của anh sẽ muốn mua cuốn nhật kí về cuốn sách của anh và ngược lại. Anh hiểu chứ.

Tôi thở dài:

– Các anh không nghĩ rằng tôi có cái khác cần phải làm trong thời điểm hiện tại hơn là tham gia viết một cuốn nhật kí một cuốn sách mà tôi còn chưa viết xong à.

– Chưa viết xong à? Barnaski rú lên như kẻ loạn trí. Tôi sẽ cử ngay lập tức đến cho anh những nhà văn ma!

– Không phải cử ai hết! Nhân danh chúa, hãy để cho tôi được yên thân viết xong cuốn sách.

Cuộc họp điện đàm số 6. Với các nhà văn ma.

– Chúng tôi đã viết là khi chôn cô bé, Caleb khóc. Francois Lancaster tuyên bố .

– Chúng tôi đã viết, thế nghĩa là thế nào?

– Đúng thế, hắn chôn cất cô bé và khóc. Những hàng lệ rơi xuống ngôi mộ khiến đất hóa thành bùn. Cảnh tượng thật đẹp, rồi anh sẽ thấy.

– Ôi, nhận danh chúa, tôi có đề nghị các anh viết một cảnh đẹp về Caleb chôn cất Nola hay không?

– Thực ra là không, nhưng ông Barnaski nói…

– Barnaski à? A lô, Roy… ông có ở đấy không? A lô, a lô?

– Ơ… có, anh Marcus, tôi đây…

– Chuyện này nghĩa là thể nào?

– Đừng nổi cáu lên như vậy, Marcus. Tôi không thể chấp nhận rủi ro cuốn sách không xong đúng thời hạn, cho nên tôi đã yêu cầu các anh ấy làm trước, phòng trường hợp cần thiết. Chỉ là phòng thôi. Nếu anh không thích thì chúng ta sẽ không dùng văn của họ. Nhưng nếu anh không có đủ thời gian để hoàn thành, đây sẽ là phao cứu sinh cho chúng ta!

Cuộc họp điện đàm số 10. Với nhóm pháp lí.

– Chào anh Goldman, tôi là Richardson, làm ở bộ phận pháp lí. Chúng tôi đã nghiên cứu kĩ, và khẳng định chắc chắn, anh có thể sử dụng tên riêng, Stern, Pratt, Caleb. Những điều anh nói đều có trong báo cáo của chưởng lý, và những thông tin ấy lại được các phương tiện truyền thông dùng lại. Chúng ta đã được mặc áo giáp sắt, chúng ta không có nguy cơ gì hết. Không hề có sự xuyên tạc, bóp méo, chỉ có sự thực.

– Họ cũng nói rằng anh có thể cho thêm vài cảnh làm tình hay quyến rũ gì đó dưới dạng hoang tưởng hay giấc mơ, Barnaski chêm vào, có phải vậy không Richardson?

– Hoàn toàn được. Tôi cũng đã nói rồi. Nhân vật trong truyện có thể mơ rằng anh ta đang làm tình, điều đó cho phép trong cuốn sách có chi tiết tình dục mà không có nguy cơ bị kiện tụng gì.

– Đúng vậy, thêm chút tình dục vào đi, Marcus, Barnaski nói lại. Hôm trước, Francois nói cuốn sách của anh rất hay nhưng tiếc là thiếu ít mắm muối. Bé gái mười lăm tuổi, Quebert hơn ba mươi tuổi một chút!

– Ông điên mất rồi, Roy ạ! Tôi kêu lên.

– Còn anh thì cứ làm lãng phí hết cả, Goldman ạ, Barnaski thở dài. Những câu chuyện thánh thiện, chẳng có sờ mó gì, làm mọi người phát ngán.

Cuộc họp điện đàm số 13. Cùng với nhóm thiết kế đồ họa.

Chọn bìa cho cuốn sách đúng là một bài toán hóc búa.

– Bìa sách có thể là một tấm ảnh của anh, trưởng nhóm thiết kế, Steven gợi ý.

– Một tấm ảnh của Nola, một người khác đề nghị.

– Một tấm ảnh của Caleb, sẽ có hiệu ứng nhiều hơn chứ phải không? Một người thứ ba lên tiếng.

– Thế tại sao lại không để ảnh của khu rừng nhỉ? Trợ lí trưởng nhóm tiếp lời.

– Đúng, một thứ gì đó gợi sự u tối và lo lắng sẽ không tồi, Barnaski nói.

– Hay cái gì đó tối tăm, rốt cuộc tôi gợi ý. Một cái nhìn chung về Aurora, và ở phía trước sẽ là hai cái bóng không phân biệt được nhưng người ta có thể nghĩ rằng đó là Harry và Nola, đi cùng với nhau trên đường.

– Phải lưu ý vào màu sắc tối tăm, Steven nói. Tối tăm sẽ gợi cảm giác chán. Và cái gì chán thì sẽ không bán được đâu.

* * *

Trong khi cuốn sách của tôi tiến triển với tốc độ chóng mặt, thì cuộc điều tra về kẻ ám sát Cảnh sát trưởng Pratt lại dẫm chân tại chỗ. Gahalowood yêu cầu toàn đội cảnh sát tội phạm báo cáo kết quả, nhưng chẳng có gì tiến triển. Không một dấu vết, không một hướng điều tra nào có thể tiến hành. Chúng tôi nói rất lâu về chuyện này trong quán bar của hội lái xe ở cửa ngõ thành phố, nơi thỉnh thoảng Gahalowood đến cho khuây khỏa đầu óc và đánh bi a.

– Đây là hang ổ của tôi, anh ta nói và chìa cho tôi cây gậy mời đấu một ván. Dạo này tôi thường xuyên tới đây.

– Công việc chẳng dễ dàng gì, phải vậy không?

– Giờ cũng được rồi. Ít nhất là chúng tôi đã giải quyết được vụ Kellergan, đó là vụ quan trọng. Ngay cả việc này phát sinh ra những chuyện cứt đái kinh khủng hơn tôi tưởng. Nhất là khi viên chưởng lý làm việc rất tồi, mà lúc nào chẳng thế, bởi chưởng lý đã được bầu sẵn cả rồi.

– Thế còn anh?

– Thống đốc rất hài lòng, Cảnh sát trưởng cũng hài lòng, vậy tất cả mọi người đều hài lòng. Ngoài ra, các sếp còn định lập bản một đội chịu trách nhiệm nghiên cứu các hồ sơ chưa được làm rõ và muốn mời tôi tham gia.

– Các hồ sơ chưa được làm rõ à? Nhưng quả thật là rất khó chịu khi không có nạn nhân cũng không có thủ phạm! Suy cho cùng, đây chỉ là câu chuyện người chết.

– Đây là câu chuyện người sống chứ, anh Goldman. Trong trường hợp Nola Kellergan, người cha có quyền biết điều gì đã xảy ra đối với con gái của mình; còn Quebert thì suýt phải chịu tai bay vạ gió oan uổng trước tòa án. Chân lí phải hoàn thành sứ mệnh của mình, ngay cả khi vụ việc xảy ra cách đây nhiều năm.

– Thế còn Caleb? Tôi hỏi.

– Tôi nghĩ anh ta bị mất phương hướng, lạc lối trong cuộc sống. Anh biết đấy, trong những trường hợp kiểu như thế này, thông thường có hai loại. Hoặc là giết người hàng loạt; hoặc là một loại điên rồ. Nhưng ở đây, trong vùng không hề xảy ra vụ nào tương tự như trường hợp Nola.

Tôi gật đầu thừa nhận.

– Điểm duy nhất làm cho tôi phải suy nghĩ, Gahalowood nói, đó là Pratt. Ai giết ông ta? Và tại sao? Vẫn còn có một người chưa lộ mặt trong vụ án này. Tôi sợ rằng chúng ta sẽ không bao giờ có thể giải quyết được vấn đề.

– Anh vẫn nghĩ đến Stern à?

– Tôi chỉ hơi nghi ngờ thôi. Tôi đã từng nói với anh, theo tôi có mảng tối trong quan hệ giữa ông ta với Luther. Mối quan hệ giữa họ là thế nào? Tại sao Stern lại không nhắc gì đến việc xe ô tô của ông ta biến mất? Thật sự ở đây có điều gì đó rất kì lạ. Tại sao ông ta lại dính líu vào sự việc một cách gián tiếp như vậy? Có thể lắm.

– Thế anh không hỏi ông ta luôn điều đó à? Tôi hỏi.

– Có chứ. Ông ta tiếp tôi hai lần đều rất tử tế. Ông ta nói cảm thấy ổn hơn kể từ khi kể cho tôi về bức tranh. Ông ta có nói rõ đôi khi ông ta cho phép Luther được sử dụng chiếc Chevrolet Monte Carlo màu đen vào việc riêng, bởi vì chiếc Mustang xanh lơ rất tồi tàn. Tôi không biết sự thực có phải như vậy không nhưng dù sao chăng nữa giải thích của ông ấy rất hợp lí. Tất cả đều vô cùng hợp lí. Đã mười ngày nay tôi tập trung tìm hiểu thêm về cuộc sống của Stern nhưng không phát hiện ra điều gì cả. Tôi còn nói chuyện với cả Sylla Mitchell nữa, tôi hỏi cô ấy điều gì đã xảy ra với chiếc xe Mustang xanh lơ của anh trai cô ấy, Sylla bảo cô ấy hoàn toàn không biết gì hết. Chiếc xe này đã hoàn toàn biến mất. Tôi không có bằng chứng gì chống lại Stern, không có gì có thể làm tôi nghĩ ông ta có dính dáng đến vụ việc.

– Tại sao một người như Stern lại để cho một gã tài xế chi phối hoàn toàn như vậy? Nhún nhường trước những trò đỏng đảnh của anh ta, cho anh ta được sử dụng xe ô tô riêng… Có cái gì đó mà tôi còn chưa hiểu nổi.

– Tôi cũng vậy, nhà văn ạ. Tôi cũng vậy.

Tôi xếp các viên bi trên bàn.

– Hai tuần nữa tôi phải viết xong cuốn sách, tôi nói.

– Nhanh vậy à? Anh viết nhanh thật đấy.

– Cũng không nhanh lắm đâu. Có thể anh nghe thấy người ta nói cuốn sách này được viết trong hai tháng, nhưng thực ra tôi đã mất cả hai năm cơ đấy.

Gahalowood mỉm cười.

* * *

Cuối tháng Tám năm 2008, tôi tự cho mình thú vui xa xỉ là đã hoàn thành xong cuốn Vụ án Harry Quebert trước hạn một chút. Hai tháng sau đó, cuốn sách mang đến thành công cực kì vang dội.

Vậy là đã đến lúc tôi phải quay trở lại New York. Tại đây, Barnaski đang chuẩn bị tung ra một chiến lược quảng bá cực kì hoành tráng cho cuốn sách bằng chiêu trưng bày ảnh lớn và gặp gỡ với cánh nhà báo. Tình cờ, tôi rời Concord đúng một ngày trước ngày cuối cùng của tháng Tám. Trên đường đi, tôi ghé qua Aurora để gặp Harry trong nhà nghỉ mà ông vẫn ở. Như mọi khi, ông vẫn đang ngồi trước cửa phòng.

– Em quay về New York, tôi nói với ông.

– Vậy đây là cuộc gặp vĩnh biệt.

– Đây chỉ là tạm biệt. Em sẽ nhanh chóng quay trở lại, sẽ khôi phục lại danh dự cho thầy, Harry ạ. Cho em xin vài tháng, và một lần nữa, thầy sẽ lại là nhà văn lớn được cả đất nước kính trọng.

– Tại sao cậu lại làm như vậy hả Marcus?

– Tại vì chính nhờ thầy mà em mới được như ngày hôm nay.

– Thế thì sao? Anh cảm thấy mắc nợ tôi à? Tôi giúp anh trở thành nhà văn, nhưng bởi vì hình như dưới mắt của dư luận quần chúng, chính tôi lại không còn là nhà văn nữa, nên anh cố gắng trả lại tôi cái tôi đã cho anh ư?

– Không, em bảo vệ thầy bởi vì em luôn tin tưởng ở thầy. Luôn luôn.

Tôi chìa ra cho ông một phong bì dày và nặng.

– Cái gì thế này? Ông hỏi.

– Cuốn sách em vừa viết.

– Tôi không đọc đâu.

– Em muốn có ý kiến đồng ý của thầy trước khi xuất bản. Cuốn sách này là của thầy.

– Không, Marcus ạ. Là cuốn sách của anh. Đó mới là vấn đề.

– Có vấn đề gì ở đây ạ?

– Tôi nghĩ cuốn sách này rất tuyệt vời.

– Thế thì tại sao nó lại là vấn đề.

– Phức tạp lắm, Marcus ạ. Một ngày nào đó, anh sẽ hiểu.

– Nhưng hiểu cái gì mới được chứ, trời ạ. Thầy nói đi, nói đi nào.

– Một ngày nào đó, anh sẽ hiểu, Marcus ạ.

Im lặng hồi lâu.

– Vậy bây giờ thầy định làm gì? Rốt cuộc tôi hỏi.

– Tôi sẽ không ở đây nữa.

– Ở đây là ở đâu? Ở nhà nghỉ này, hay bang New Hampshire, hay là nước Mỹ?

– Tôi muốn đến thiên đường của các nhà văn.

– Thiên đường của các nhà văn? Nghĩa là gì ạ?

– Thiên đường của các nhà văn là nơi anh quyết định viết lại cuộc đời của anh như anh muốn sống. Bởi vì, Marcus ạ, sức mạnh của nhà văn, đó là có thể quyết định được kết cục của cuốn sách. Họ có đủ quyền lực quyết cho một người sống hay chết, có quyền lực thay đổi được tất cả. Nơi đầu ngón tay của các nhà văn có một sức mạnh mà họ thường không thể ngờ được. Chỉ cần nhắm mắt lại là họ có thể lật ngược lại dòng chảy của một cuộc đời. Marcus, điều gì sẽ xảy ra vào ngày 30 tháng Tám năm 1975 nếu…

– Chẳng ai thay đổi được quá khứ, thầy Harry, đừng nghĩ đến nó nữa…

– Làm thế nào mà không nghĩ đến quá khứ cho được?

Đặt chồng bản thảo lên trên ghế cạnh Harry, tôi làm bộ như chuẩn bị đi, vậy là Harry hỏi tôi:

– Cuốn sách của anh nói về chuyện gì?

– Chuyện một người đàn ông yêu một cô gái trẻ. Nàng nuôi giấc mơ cho cả hai người. Nàng muốn họ sống chung và người yêu nàng sẽ trở thành nhà văn vĩ đại, thành giáo sư đại học và họ sẽ nuôi một chú chó lông màu mặt trời. Nhưng một hôm, cô gái ấy biến mất. Người ta không bao giờ tìm thấy nàng. Còn người đàn ông ở lại nhà chờ đợi. Ông ấy trở thành nhà văn vĩ đại, giáo sư đại học, và nuôi một chú chó lông màu mặt trời. Ông ấy làm tất cả những gì người yêu ông muốn trong khi đợi nàng. Ông ấy không bao giờ yêu ai khác nữa, chung thủy chờ đợi nhưng nàng không bao giờ trở lại.

– Bởi vì nàng đã chết!

– Vâng, nhưng bây giờ người đàn ông đó có thể tổ chức một đám tang.

– Không, quá muộn rồi! Bây giờ người đàn ông đó đã sáu mươi bảy tuổi rồi.

– Sẽ không bao giờ quá muộn để yêu lần nữa. Tôi giơ tay làm hiệu cho thầy một cách thân tình. Tạm biệt, Harry. Em sẽ gọi điện cho thầy ngay khi tới New York.

– Đừng có gọi. Như vậy tốt hơn.

Tôi bước xuống những bậc cầu thang phía bên ngoài dẫn ra sân để ra xe. Khi chuẩn bị trèo lên ô tô, tôi nghe thấy tiếng ông gọi với theo từ bên hiên tầng một:

– Marcus, hôm nay là ngày bao nhiêu nhỉ?

– Ngày 30 tháng Tám, Harry ạ..

– Bây giờ là mấy giờ rồi?

– Gần 11 giờ sáng.

– Chỉ còn hơn tám tiếng nữa, Marcus ạ!

– Hơn tám tiếng nữa thì sao ạ?

– Hơn 8 tiếng nữa thì đến 19 giờ.

Tôi vẫn chưa hiểu gì cả, tôi hỏi:

– Có chuyện gì xảy ra lúc 19 giờ?

– Nàng với tôi, hẹn nhau lúc đó, anh biết rồi mà. Nàng sẽ quay trở lại. Hãy nhìn này Marcus! Hãy nhìn xem chúng ta đang ở đâu! Chúng ta đang ở thiên đường của các nhà văn. Chỉ cần viết thôi, tất cả sẽ thay đổi.

* * *

Ngày 30 tháng Tám năm 1975, tại thiên đường của các nhà văn

Nàng quyết định không đến bằng đường 1 mà đi dọc bờ biển. Như vậy cẩn trọng hơn. Ôm chặt tập bản thảo trong tay, nàng chạy, dẫm chân trên đá cuội và cát. Nàng gần đến Goose Cove rồi. Chỉ cần đi bộ thêm hai hoặc ba dặm nữa thì sẽ tới nhà nghỉ. Nàng nhìn đồng hồ: hơn 18 giờ một chút. Khoảng 45 phút nữa, nàng sẽ đến được nới hẹn. Đúng vào lúc 19 giờ như đã hẹn. Nàng tiếp tục đi, đã rất gần đường Side Creek, và phải vượt qua bờ rừng để đến đường 1. Dưới bãi cát, nàng leo qua một đoạn đường đá để lên phía rừng, rồi thận trọng vượt qua mấy hàng cây, rất chú ý để những bụi cây bên đường không làm vướng hay rách chiếc váy đỏ duyên dáng. Từ xa, qua mấy hàng cây xanh, nàng thấy một ngôi nhà: trong bếp, một phụ nữ đang chuẩn bị làm bánh táo.

Nàng đã lên đến đường 1. Ngay trước khi ra khỏi rừng, một chiếc ô tô phóng vút qua. Chính là Luther Caleb đang quay trở về Concord. Nàng tiếp tục đi thêm hai dặm nữa và sắp tới khu nhà nghỉ. Lúc đó là 19 giờ đúng. Nàng len lỏi qua bãi đỗ xe, leo lên cầu thang phía bên ngoài. Căn phòng số 8 ở tầng một. Nàng leo bốn bậc cầu thang một, rồi đập liên hồi vào cửa phòng.

Có tiếng người vừa đập cửa. Anh vội vàng ra mở cửa.

– Harry! Harry yêu quý!

Nàng kêu lên ngay khi thấy anh xuất hiện ở khung cửa. Nàng nhảy lên ôm lấy cổ anh, hôn anh tới tấp. Anh nhấc bổng nàng lên.

– Nola! Em đây rồi! Em tới rồi! Em tới rồi!

Nàng nhìn anh với vẻ nực cười.

– Thì hiển nhiên là em tới rồi, anh nói thật buồn cười.

– Chắc anh đã thiếp ngủ và gặp ác mộng… Anh ở trong căn phòng này đợi em. Anh đợi em nhưng em không tới. Anh đợi em, đợi mãi, đợi mãi. Em chẳng bao giờ tới.

Nàng nép mình vào anh.

– Thật là cơn ác mộng khủng khiếp, Harry ạ! Bây giờ em tới đây rồi! Em sẽ ở đây mãi mãi!

Họ ôm nhau thật lâu. Anh tặng nàng bó hoa anh đang nhúng trong bồn rửa mặt.

– Em không mang theo gì à? Harry hỏi khi nhìn thấy nàng không có chút hành lí nào.

– Không, như vậy cho kín đáo. Chúng ta sẽ mua những thứ cần thiết trên đường. Nhưng em có mang theo tập bản thảo.

– Thế mà anh tìm nó mãi!

– Em đã cầm theo để đọc… Em rất thích, Harry ạ. Đúng là tuyệt tác!

Họ còn tiếp tục ôm nhau một lúc lâu nữa, rồi nàng nói:

– Chúng ta phải đi thôi, chúng ta phải đi thôi, nhanh lên. Chúng ta Phải đi ngay.

– Phải đi ngay ư?

– Vâng, em muốn đi xa nơi này. Harry, em không muốn ai đó phát hiện ra chúng ta, chiều lòng em đi Harry, em xin anh. Chúng ta phải đi ngay lập tức.

Màn đêm buông xuống. Hôm đó là ngày 30 tháng Tám năm 1975. Bóng hai người chạy trốn khỏi nhà nghỉ, nhanh chóng bước xuống các bậc cầu thang dẫn ra chỗ để xe trước khi mất hút trong chiếc Chevrolet Monte Carlo màu đen. Người ta có thể thoáng nhìn thấy chiếc ô tô lao trên con đường 1 thẳng hướng Bắc. Xe chạy rất nhanh rồi biến mất phía cuối chân trời. Ít phút sau, không còn thấy bóng dáng chiếc xe đâu nữa: nó chỉ còn là một chấm nhỏ màu đen, rồi thành một vết bé tí tẹo. Trong giây lát, chỉ còn có thể đoán được chấm sáng cực nhỏ do ánh đèn pha, rồi hoàn toàn biến mất.

Họ cùng nhau đi về hướng sự sống.

tác: The Truth About the Harry Quebert Affair ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Phụ Nữ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.