“Từ ngữ đúng là đóng vai trò quan trọng, Marcus ạ. Nhưng đừng viết để người ta chỉ đọc, mà hãy viết để người ta có thể hiểu anh.”
Cuốn sách của tôi đang tiến triển tốt. Ngồi viết hàng giờ liền đã bắt đầu khiến cuốn sách dần dần có hình hài. Một cảm giác khó tả tưởng đã biến mất vĩnh viễn nay quay trở lại trong tôi. Như thể rốt cuộc tôi đã tìm lại được sức sống mà thiếu nó khiến tôi vận động một cách lệch lạc; cứ như thể ai đó vừa bấm nút trong bộ não của tôi và bất chợt tôi lại được thắp sáng. Cứ như thể tôi được hồi sinh. Đó là cảm giác của các nhà văn. Một ngày của tôi bắt đầu từ trước bình minh: tôi thức dậy chạy, xuyên qua Concord từ đầu này sang đầu kia, đeo tai nghe mini. Rồi khi quay trở lại khách sạn, tôi gọi một lít cà phê và bắt tay vào làm việc. Tôi lại tiếp tục cần đến sự hỗ trợ của Denis và tôi lại đón cô ấy ngược trở lại từ công ty Schmid & Hanson. Denis cũng đồng ý nhận lại công việc ở văn phòng của tôi tại Đại lộ thứ Năm. Bản thảo viết tới đâu, tôi đều gửi bưu điện cho Denis để cô ấy đánh máy và sửa lỗi. Mỗi khi hoàn thành một chương, tôi lại gửi cho Douglas để xin ý kiến. Tôi rất vui khi thấy anh ấy chỉ dán mặt vào máy tính đợi nhận những chương viết hoàn chỉnh của tôi. Anh ấy cũng không quên nhắc nhở tôi phải tuyệt đối đúng hạn, lúc nào cũng nói đi nói lại: “Nếu không làm đúng hạn, ta sẽ toi mạng!” Anh ấy nói “ta” nhưng về mặt lí thuyết thì Douglas không hề gặp rủi ro trong việc này, nhưng anh ấy tự thấy mình liên đới trách nhiệm và áp lực nặng nề y như tôi vậy.
Tôi nghĩ Douglas chịu rất nhiều sức ép từ phía Barnaski, anh ấy luôn cố gắng bảo vệ tôi: Barnaski lo sợ tôi không thể thực hiện được đúng thời hạn nếu như không có sự hỗ trợ từ bên ngoài. Ông ta gọi điện tới tôi nhiều lần để nói rõ ràng với tôi.
– Phải dùng các tay viết ma mới xong được cuốn sách của anh, ông ta nói với tôi, mình anh viết sẽ không thể hoàn thành đúng hạn được đâu, Tôi có cả đội quân sẵn sàng làm việc này, anh chỉ cần đưa ra dàn ý chính, họ sẽ viết hộ cho anh.
– Không bao giờ, tôi trả lời. Tôi là người chịu trách nhiệm viết cuốn này. Không ai làm thay tôi được.
– Ồ , anh Goldman, thật không thể chịu nổi cái lập trường kiên định và cả những tình cảm tốt đẹp của anh. Thời buổi bây giờ, ai cũng có người viết hộ cả. Như Untel[1]chẳng hạn, anh ta không bao giờ từ chối đội ngũ viết văn của tôi.
– Untel cũng không tự mình viết ư?
Barnaski cười khẩy một cách ngu ngốc, tỏ ý rõ ràng:
– Hiển nhiên là không rồi! Anh nghĩ xem, ông ta làm thế quái nào mà giữ được nhịp độ viết lách như vậy chứ? Độc giả không muốn biết Untel viết như thế nào, hoặc thậm chí ai là người viết những cuốn sách đó. Tất cả những gì họ cần, đó là mỗi năm, vào đầu mùa hè, một cuốn sách mới của Untel ra mắt và họ mua mang đi nghỉ hè đọc. Thế thì chúng tôi đáp ứng nhu cầu đó. Như vậy nghĩa là có năng khiếu kinh doanh.
– Như vậy nghĩa là lừa dối độc giả, tôi nói.
– Lừa dối độc giả… suỵt, Goldman, anh đúng là nhà kịch tính vĩ đại.
Tôi phải giải thích cho ông ta hiểu rằng không bao giờ có chuyện tôi để ai đó viết sách hộ tôi: ông ta trở nên mất kiên nhẫn và thô bạo hơn bao giờ hết.
– Goldman, chính tôi là người chuyển khoản cho anh cả triệu đôla để anh viết cuốn truyện chết tiệt này: vậy nên tôi muốn anh hợp tác. Nếu như tôi nghĩ rằng anh đang cần đội ngữ viết văn của tôi, thì chúng ta sẽ phải sử dụng họ, mẹ kiếp cứt đái!
– Bình tĩnh đi, Roy, ông sẽ có cuốn sách này đúng hạn. Với điều kiện là ông thôi ngay việc gọi điện thoại liên tục làm gián đoạn công việc của tôi.
Barnaski trở nên thô bạo một cách đáng sợ:
– Goldman, mẹ kiếp chó chết, tôi hi vọng anh ý thức được đầy đủ rằng với cuốn sách này, tôi đã đặt hẳn hai hòn d. của tôi lên bàn. Tất cả của tôi! Trên bàn! Tôi đầu tư một số tiền lớn, đang đùa giỡn với uy tín của một nhà xuất bản lớn nhất nước. Vậy thì nếu kế hoạch thất bại, không có được cuốn sách này chỉ vì trò đỏng đảnh trẻ con của anh hay vì bất cứ lí do cứt đái nào làm tôi lật thuyền, thì nên nhớ tôi sẽ kéo anh theo xuống đáy đấy! Xuống tận đáy sâu đấy!
– Tôi ghi nhận điều này, Roy. Tôi nhớ rõ rồi.
Ngoại trừ những lệch lạc về nhân phẩm, Barnaski có tài năng thiên bẩm về marketing: từ lâu, cuốn sách của tôi đã trở thành cuốn nổi nhất trong năm trong khi đó chiến dịch quảng cáo mới chỉ bắt đầu bằng những tấm biển quảng cáo khổ lớn trên đường phố New York. Chỉ sau vụ cháy nhà ở Goose Cove ít lâu, ông ta đã tuyên bố một câu hùng hồn: “Ở đâu đó ẩn giấu trên đất Mỹ, một nhà văn đang nỗ lực khám phá sự thật xảy ra năm 1975 tại Aurora. Và vì sự thật đó gây phiền toái, nên ai đó sẵn sàng làm bất kì điều gì buộc anh ta phải im lặng”. Ngày hôm sau, một bài báo xuất hiện trên tờ New York Times với tựa đề: Ai là người muốn lột da Marcus Goldman? Hiển nhiên là mẹ tôi đã đọc bài báo đó và ngay lập tức gọi điện cho tôi:
– Vì tình yêu của Chúa, Markie, con đang ở đâu vậy?
– Ở Concord, tại khách sạn Regent’s. Phòng suite 208.
– Thôi im đi! Mẹ không muốn biết điều đó!
– Ô kia mẹ, thế không phải chính là mẹ vừa…
– Nếu con nói với mẹ, thì mẹ sẽ nói lại với ông hàng thịt mất, rồi người này chuyền tai người kia, chả mấy chốc cả thị trấn New Jersey này sẽ biết con trai mẹ đang ở phòng suite 208 trong khách sạn Regent’s ở Concord. Thế rồi kẻ đang muốn lột da con sẽ đến cắt tiết con trong khi con ngủ. Nhưng tại sao lại phải ở phòng hạng sang thế hả? Con có bạn gái chưa thế? Chuẩn bị cưới vợ chưa?
Lúc đó, tôi nghe bà gọi bố tôi: “Nelson, đến nghe điện thoại này! Markie sắp cưới vợ!”
– Mẹ ơi, không phải con sắp lấy vợ. Con chỉ ở một mình thôi.
Gahalowood, lúc đó đang ở trong phòng của tôi, anh ta vừa thưởng thức bữa sáng thịnh soạn, chẳng biết làm gì hay ho hơn, liền kêu toáng lên.
– Ê, này! Có cả tôi ở đây nữa kia mà!”
– Ai thế hả? Ngay lập tức mẹ tôi hỏi.
– Không có ai cả.
– Đừng có nói dối! Mẹ nghe thấy giọng đàn ông. Marcus, bây giờ mẹ hỏi con một câu cực kỳ nghiêm trọng, con phải trả lời thành thực: có phải một gã đàn ông đồng tính bí mật trốn trong phòng của con không hả?
– Không, mẹ ạ. Chỉ có trung sĩ Gahalowood thôi. Anh ta là cảnh sát chịu trách nhiệm điều tra vụ án và là người làm cho hóa đơn khách sạn của con không ngừng tăng vọt.
Mẹ tôi đâu có chịu tin, bà còn đòi tôi đuổi trung sĩ ra ngoài. Sau đó, bà huyên thuyên đủ thứ chuyện nào là lo lắng cho an toàn của tôi, nào là lo sợ có ai đó thả bom vào nhà, nào là nhà hàng xóm tậu xe hơi mới.
Một hồi sau, bà hỏi:
– Thế cuốn sách của con tiến triển đến đâu rồi?
– Rất tốt mẹ a. Con phải hoàn thành trong vòng bốn tuần nữa.
– Thế kết thúc như thế nào Biết đâu chính kẻ giết đứa bé gái kia đang muốn giết con đấy.
– Đó chính là vấn đề duy nhất của con đấy ạ: con vẫn chưa biết cuốn sách phải kết thúc thế nào.
Chiều thứ Hai ngày 21 tháng Bảy, Gahalowood bước vào trong khi tôi đang viết đến chương Nola và Harry quyết định cùng nhau bỏ trốn sang Canada. Anh ta cực kỳ căng thẳng, vừa mở tủ lạnh lấy một vai bia vừa nói:
– Tôi vừa ở nhà Elijah Stern về.
– Ở nhà Stern? Mà không cho tôi đi cùng?
– Tôi nhắc lại cho anh biết là Stern đã kiện cuốn truyện của anh ra tòa. Tóm lại là tôi đến chỉ để kể cho anh…
Gahalowood giải thích ông ta tình cờ tới nhà Stern. Luật sư của Stern tên là Bo Sylford, một nhân vật tiếng tăm ở tòa án ở Boston, đã đón tiếp Gahalowood. Bo Sylford mặc bộ quần áo thể thao, người ướt đẫm mồ hôi nói với Gahalowood: “Trung sĩ cho tôi xin năm phút. Tôi đi tắm qua rồi sẽ tiếp ông”.
– Đi tắm qua người á? Tôi hỏi.
– Anh biết không, ông Sylford đấy trần như nhộng khệnh khạng đi lại trong sân. Tôi đợi ông ta trong phòng khách nhỏ, sau đó ông ta quay trở lại trong bộ lễ phục và có Stern đi cùng, Stern nói với tôi: “Vậy là trung sĩ đã làm quen với người bạn đời của tôi rồi đó”.
– Bạn đời á? Tôi hỏi lại. Có phải anh đang nói rằng Stern là người…
– Đồng tính. Điều này chứng tỏ ông ta chả bao giờ thấy Nola Kellergan hấp dẫn.
– Tất cả những chuyện này nghĩa là sao ? tôi hỏi.
– Đó cũng chính là câu tôi hỏi ông ta. Ông ta nói chuyện khá cởi mở.
Stern nói rất giận dữ vì cuốn sách của tôi; ông ta cho rằng tôi không biết mình đang nói chuyện gì. Gahalowood vội tranh thủ cơ hội khai thác thông tin:
– Thưa ông Stern, như vậy ông có thể cho tôi biết trên phương diện tình dục, thì mối quan hệ giữa Nola và ông thuộc loại nào?
– Tôi đã nói với ông ngay từ đầu, Stern trả lời không mảy may thay đổi nét mặt. Chỉ là quan hệ công việc.
– Quan hệ công việc à?
– Đúng vậy. Nola làm người mẫu để vẽ.
– Vậy Nola Kellergan thực sự tới đây ngồi làm mẫu cho ông ư?
– Đúng, nhưng không phải cho tôi.
– Vậy thì cho ai?
– Cho Luther Caleb.
– Cho Luther Caleb ư? Tại sao lại như vậy?
– Vì anh ta cảm thấy thích thú.
Sau đó, Stern kể lại câu chuyện xảy ra vào một tối tháng Bảy năm 1975. Stern không còn nhớ chính xác là ngày nào, nhưng vào khoảng cuối tháng. Theo các phân tích của tôi thì việc này phải xảy ra ngay trước khi Nola và Harry đi Martha’s Vineyard.
* * *
Concord. Cuối tháng Bảy năm 1975
Lúc đó trời đã tối muộn. Chỉ có Stern và Luther ở nhà, đang bận chơi cờ trên sân. Bỗng chuông cửa reo, họ nhìn nhau tự hỏi không biết ai có thể đến vào giờ này. Luther ra mở cửa và quay lại sân cùng một thiếu nữ tóc vàng đẹp rạng rỡ, nhưng đôi mắt sưng đỏ vì khóc. Là Nola.
– Thưa ông Stern, cô nói vẻ nhút nhát. Tôi vô cũng xin lỗi vì tới đây đường đột như vậy. Tên tôi là Nola Kellergan, con gái mục sư ở Aurora.
– Aurora. Cháu từ Aurora tới đây ư? Stern hỏi. Làm sao cháu đi tới được tận đây?
– Cháu xin đi nhờ xe, thưa ông Stern. Cháu rất cần phải nói chuyện với ông.
– Chúng ta có quen biết nhau không?
– Không, thưa ông. Nhưng cháu có một mong mỏi vô cùng quan trọng ạ.
Stern quan sát cô gái còn rất trẻ, đôi mắt lấp lánh nhưng buồn, tới tìm ông giữa buổi tối muộn này vì một mong mỏi vô cùng quan trọng. Stern mời cô ngồi xuống ghế bành còn Caleb mang tới cốc nước cam và mấy chiếc bánh quy.
– Tôi nghe cháu đây, Stern cảm thấy thích thú khi thấy Nola uống liền một hơi cạn cốc nước cam. Thế cháu có điều gì quan trọng đến thế phải hỏi tôi?
– Một lần nữa, cháu xin lỗi đã làm phiền vào giờ bất tiện như thể này, thưa ông Stern. Cháu lặng lẽ đến gặp ông là để… Để xin ông nhận cháu vào làm.
– Nhận cháu vào làm việc ư? Nhưng cháu làm công việc gì bây giờ?
– Bất cứ việc gì ông muốn, thưa ông. Cháu có thế làm bất kì điều gì cho ông.
– Nhận cháu vào làm việc à? Stern nhắc lại, vẫn chưa hiểu đầu đuôi. Nhưng tại sao chứ? Phải chăng cháu đang cần tiền?
– Không, đổi lại, cháu muốn ông cho phép Harry Quebert ở lại Goose Cove.
– Harry Quebert muốn đi khỏi Goose Cove sao?
– Harry Quebert không còn tiền để thuê tiếp. Anh ấy đã liên hệ với công ty môi giới nhà đất. Anh ấy không trả được tiền thuê nhà tháng Tám này. Nhưng anh ấy phải ở lại! Bởi vì Harry đang viết nốt cuốn sách, anh ấy mới chỉ bắt đầu viết và cháu cảm thấy đó sẽ là một cuốn sách tuyệt vời! Nếu phải đi, anh ấy sẽ không bao giờ hoàn thành được cuốn sách đó! Sự nghiệp của anh ấy sẽ kết thúc! Thưa ông, như vậy thì thật là đáng tiếc, quá đáng tiếc! Và cả chuyện của chúng cháu nữa. Cháu yêu Harry Quebert! Thưa ông Stern! Cháu yêu Harry Quebert và suốt đời cháu chỉ yêu mình Quebert! Cháu biết điều này đối với ông nghe có vẻ nực cười. Ông nghĩ cháu mới chỉ mười lăm tuổi, còn chưa biết gì về cuộc đời. Nhưng thưa ông Stern, cháu biết trái tim mình! Không có Harry thì cháu sẽ chẳng là gì cả.
Cô bé chắp hai tay lại như cầu khẩn, Stern hỏi:
– Thế cháu mong muốn gì ở tôi?
– Cháu không có tiền. Nếu có tiền, cháu sẽ trả ông tiền thuê nhà để Harry có thể ở lại Goose Cove. Nhưng ông có thể thuê cháu! Cháu sẽ là người làm công cho ông, cháu sẽ làm việc lâu thế nào cũng được miễn là đủ bù lại số tiền thuê nhà trong vài tháng nữa.
– Nhà tôi có đủ người làm công rồi.
– Cháu có thể làm bất kì điều gì ông muốn. Mọi thứ! Hoặc xin ông cho cháu trả tiền thuê dần dần: cháu có 120 đô la rồi! (Cô bé rút mấy tờ giấy bạc từ trong túi ra). Đây là toàn bộ số tiền cháu tiết kiệm được! Thứ Bảy hàng tuần, cháu làm việc ở tiệm Clark’s, cháu sẽ làm việc cho đến tận khi nào đủ tiền trả cho ông!
– Cháu kiếm được bao nhiêu?
– Ba đô la một giờ ! Lại còn tiền tip nữa! Nola hãnh diện đáp.
Stern mỉm cười cảm động và dịu dàng nhìn Nola: suy cho cùng, ông không cần đến nguồn thu cho thuê nhà ở Goose Cove, ông hoàn toàn có thể để cho Quebert mượn nhà sử dụng trong vài tháng nữa. Nhưng đúng lúc đó, Luther đề nghị được nói chuyện riêng với Stern. Họ cùng nhau đi sang phòng bên cạnh.
– Eli, Caleb nói, phôi muôn vẽ cô bé đó. Phin ông hãy cho phép… Phin ông.
– Không, Luther, không thể được… Chưa thể được
– Phôi xin ông… Hãy để cho phôi vẽ cô bé đó… Lâu lắm rồi phôi không vẽ…
– Nhưng tại sao lại vẻ cô bé đó?
– Phởi vì cô ấy làm phôi nhớ đến Eleanore.
– Lại Eleanore à? Thôi đủ rồi đấy! Cậu phải thôi ngay chuyện đó đi!
Mới đầu Stern từ chối. Nhưng vì Caleb nài nỉ mãi nên cuối cùng Stern cũng chấp thuận. Ông ta quay trở lại chỗ Nola, cô bé đang ăn bánh quy.
– Nola, tôi đã suy nghĩ kĩ, Stern nói. Tôi sẵn sàng để cho Harry Quebert ở lại cho đến khi nào anh ta muốn.
Cô bé liền nhảy lên ôm chầm lấy cổ Stern.
– Ôi, cảm ơn! Cảm ơn ông, thưa ông Stern!
– Đợi đã, có một điều kiện.
– Tất nhiên rồi! Tất cả những gì ông muốn! Ông thật là người tử tế, thưa ông Stern.
– Cháu sẽ làm người mẫu để Luther vẽ. Cháu phải cởi hết quần áo để anh ta vẽ.
Cô bé nghẹn giọng:
– Cởi hết quần áo ư? Ông muốn cháu không mặc gì ư?
– Đúng. Nhưng chỉ để làm mẫu vẽ. Không ai chạm tới người cháu.
– Nhưng thưa ông, thật rất bất tiện khi không mặc gì trên người… Cháu muốn nói là… (cô bắt đầu khóc nức nở). Cháu nghĩ có thể giúp ông các việc lặt vặt ngoài vườn hay sắp xếp tài liệu trong thư viện. Cháu không nghĩ là cháu sẽ phải… Cháu không nghĩ tới…
Cô bé lau nước mắt trên má. Stern dịu dàng nhìn cô bé đã có nhiều đường nét của một người phụ nữ. Stern muốn ôm cô bé vào lòng để an ủi, nhưng ông kiềm chế không để bị tình cảm chi phối.
– Đó là cái giá của tôi, Stern nói một cách khô khan. Cháu phải làm người mẫu khỏa thân và Quebert sẽ được ở lại Goose Cove.
Cô bé gật đầu đồng ý.
– Vậy thì cháu sẽ làm như thế, thưa ông Stern. Cháu sẽ làm tất cả mọi điều ông muốn. Từ bây giờ, cháu thuộc về ông.
* * *
Ba mươi ba năm sau khi màn kịch trên xảy ra, vì lương tâm không ngừng cắn rứt và muốn được chuộc tội, nên Stern đã dẫn Gahalowood ra ngoài sân, đúng nơi ông ta yêu cầu Nola phải làm người mẫu khỏa thân theo yêu cầu của gã tài xế để Harry được ở lại trong ngôi nhà ở Goose Cove.
– Chuyện là vậy, tôi đã biết Nola trong hoàn cảnh đó. Ngày hôm sau khi cô bé tới đây, tôi cố gắng liên lạc với Quebert để cho anh ta biết rằng anh ta có thể ở lại Goose Cove, nhưng không được. Suốt cả tuần liền anh ta như bốc hơi vậy. Thậm chí tôi còn cử cả Luther đứng rình trước cửa nhà anh ta. Rốt cuộc Luther cũng vồ được Quebert khi anh ta sắp sửa rời Aurora.
– Nhưng ông không thấy yêu cầu của Nola rất kì lạ sao? Kể cả việc cô bé mới có mười lăm tuổi mà quan hệ với một người đàn ông hơn ba mươi tuổi và đến cầu xin ở ông một ơn huệ.
– Anh biết không, trung sĩ, cô ấy nói về tình yêu quá thật lòng… Ngay cả tôi cũng không bao giờ biết cách nói hay thế về tình yêu. Hơn nữa, tôi lại yêu đàn ông. Anh biết hồi đó, người ta đánh giá người đồng tính như thế nào chứ? Thậm chí ngày nay vẫn vậy. Tôi luôn phải che giấu bản thân. Ngay cả khi tay Goldman huyên thuyên rằng tôi là thằng già bạo dâm lợi dụng Nola, tôi vẫn chẳng dám lên tiếng. Tôi chỉ để luật sư của mình ra mặt, cố gắng để cuốn sách bị cấm xuất bản. Trong khi đó, tôi chỉ cần nói với cả nước Mỹ rằng tôi không phải là đàn ông. Nhưng cộng đồng của tôi rất khắt khe, tôi phải bảo vệ uy tín của bản thân mình.
Gahalowood quay trở lại trọng tâm câu chuyện:
– Thỏa thuận của ông với Nola được thực hiện thế nào?
– Luther lo đi đón cô bé ở Aurora. Tôi tuyên bố thẳng thừng là không muốn quan tâm tới tất cả những chuyện đó. Tôi yêu cầu anh ta phải dùng xe riêng của anh ta, chiếc Mustang màu xanh lơ, để đi đón cô bé, chứ không được lái chiếc Lincoln đen mà anh ta được sử dụng cho công việc. Ngay khi thấy anh ta đi Aurora, tôi cho toàn bộ người làm nghỉ việc ngày hôm đó. Tôi rất xấu hổ. Và tôi cũng không muốn Luther vẽ ngay trước khoảng sân vẫn dùng làm xưởng vẽ cho anh ta vì lo sợ ai đó biết chuyện. Vì vậy, Luther vẽ Nola trong phòng khách nhỏ nối liền với phòng làm việc của tôi. Mỗi khi cô bé đến và lúc ra về, tôi đều tới chào. Đó là điều kiện của tôi với Luther: tôi muốn đảm bảo mọi chuyện đều tốt đẹp. Tôi còn nhớ lần đầu tiên, cô bé ngồi trên tràng kỉ trải ga trắng, hoàn toàn khỏa thân, run rẩy, sợ hãi và rất lúng túng. Tôi nắm tay cô bé, đôi bàn tay lạnh ngắt. Không bao giờ tôi ngồi lại trong căn phòng đó, nhưng lúc nào tôi cũng ở gần, để đảm bảo Luther không làm điều gì xấu với cô bé. Tôi còn đặt máy thu âm trong phòng và có thể nghe thấy mọi thử xảy ra trong phòng.
– Rồi thế nào?
– Không có bất kì chuyện gì. Luther không thở ra nửa lời. Bản chất anh ta cũng là người câm lặng, vì hàm của anh ta đã bị gãy. Anh ta vẽ cô bé. Tất cả chỉ có vậy.
– Vậy thì anh ta không sờ soạng gì cô bé à?
– Không bao giờ! Tôi nói rồi, tôi sẽ không tha thứ cho chuyện đó.
– Nola đến đây tổng cộng bao nhiêu lần?
– Tôi không biết. Có thể tới chục lần.
– Thế anh ta vẽ được bao nhiều bức tranh?
– Đúng một bức duy nhất.
– Chính là bức mà chúng tôi lấy?
– Đúng vậy.
Vậy là nhờ vào Nola mà Harry mới có thể ở lại Aurora. Nhưng tại sao Luther Caleb lại muốn vẽ cô bé? Và tại sao Stern, theo như ông ta nói, sẵn sàng cho phép Harry sử dụng miễn phí ngôi nhà lại chấp thuận yêu cầu của Caleb, bắt Nola phải khỏa thân ngồi làm mẫu vẽ? Đó là những câu hỏi mà Gahalowood chưa có lời đáp. Ông ta giải thích cho tôi:
– Tôi cũng đã hỏi Stern. Tôi nói: “Thưa ông Stern, có một chi tiết mà tôi vẫn chưa hiểu: tại sao Luther lại muốn vẽ Nola? Ban nãy ông có nói anh ta cảm thấy thích thú khi vẽ Nola, ý ông muốn nói anh ta cảm thấy khoái cảm tình dục khi vẽ Nola à? Ông cũng có nhắc tới Eleanore, có phải đó chính là người yêu cũ của anh ta không?” Nhưng Stern không muốn tiếp tục. Ông ta bảo đó là câu chuyện phức tạp; tôi đã được biết điều cần biết và những thứ còn lại đều là chuyện quá khứ. Ông ta kết thúc cuộc nói chuyện. Tôi đường đột tới nhà ông ta nên tôi không thể bắt ông ta trả lời được.
– Jenny cũng kể Luther đề nghị vẽ cô ấy, tôi nhắc Gahalowood nhớ lại chi tiết này.
– Thế nghĩa là sao nhỉ? Một kẻ nghiện bút vẽ đến phát điên à?
– Tôi chịu, trung sĩ ạ. Anh có nghĩ Stern chấp thuận yêu cầu của Caleb vì thích hắn không?
– Giả định này cũng đã xuất hiện trong đầu tôi, tôi cũng hỏi Stern rồi. Tôi hỏi có chuyện gì đặc biệt giữa ông ta và Caleb hay không. Ông ta rất điềm tĩnh trả lời hoàn toàn không có gì. “Tôi rất chung thủy với Sylford, bạn đời của tôi kể từ đầu những năm 1970. Tôi không bao giờ cảm thấy có gì lôi cuốn từ phía Luther Caleb ngoại trừ lòng thương hại, cũng chính vì lí do đó mà tôi tuyển anh ta vào làm việc cho tôi. Ở Portland, anh ta sống ngoài lề xã hội, mặt mũi biến dạng kinh khủng và hoàn toàn tàn phế sau khi bị đánh đập tàn bạo. Một cuộc đời coi như bỏ đi chẳng vì lí do gì. Anh ta hiểu biết nhiều về kĩ thuật, tôi lại cũng đang cần một người quản lý đội xe kiêm tài xế cho tôi. Chúng tôi nhanh chóng trở thành bạn thân thiết”. Anh thấy không, nhà văn, điều làm tôi trăn trở, chính là mối quan hệ bạn bè thân thiết giữa họ như ông ta nói. Nhưng tôi có cảm giác có gì đó còn hơn thế, một mối quan hệ có thể là bẩn thỉu hơn cơ. Đó là cảm nhận của tôi khi nghe Stern kể lại việc ông ta chấp thuận yêu cầu của Caleb bắt Nola phải làm mẫu khỏa thân. Việc này khiến ông ta phát buồn nôn, thế mà ông ta vẫn cứ làm, như thể Caleb có quyền lực rất lớn đối với ông ta. Hơn nữa, ngay cả Sylford cũng nhận thấy điều gì đó bất thường ở chỗ này. Từ đầu tới tận lúc đó, Sylford không hề hé răng nói nữa lời, thế mà khi Stern nói tới đoạn Nola hoảng sợ vì phải làm mẫu khoả thân, bỗng ông ta thốt lên: “Ôi, Eli, thế là thế nào, tại sao lại có chuyện đó hả? Tại sao không bao giờ nói chuyện này với tôi hả?”
– Thế việc Luther biến mất? Tôi hỏi. Anh có nói với Stern không?
– Gượm đã, nhà văn, hết nạc với vạc đến xương, tôi để dành điều ngon lành nhất cho đoạn cuối. Mặc dù không cố ý nhưng Sylford đã gây áp lực cho Stern. Sylford rất bực bội nên mất hết những phản xạ của một luật sư. Ông ta gầm gừ: “Eli, giải thích đi! Tại sao em không bao giờ nói với tôi? Tại sao em yên lặng suốt chừng ấy năm? “Em” Eli tỏ ra lo lắng, anh có thể tưởng tượng được đấy, ông ta đáp lại rằng: “Tôi yên lặng, tôi yên lặng, nhưng tôi không quên! Tôi giữ bức tranh này suốt ba mươi ba năm! Ngày nào tôi cũng vào xưởng vẽ, ngồi xuống tràng kỉ và nhìn cô bé. Tôi phải chịu đựng ánh mắt của Nola, sự hiện diện của Nola. Cô bé nhìn tôi chằm chằm bằng ánh mắt của một bóng ma! Đó chính là hình phạt cho tôi!”
Gahalowood liền hỏi Stern rằng tại sao ông ta cho rằng mình bị trừng phạt.
– Có thể coi như tôi đã nhúng tay chút xíu vào cái chết của Nola! Stern hét lên. Tôi để cho Luther vẽ Nola khỏa thân, khiến con quỷ tà dâm trong anh ta trỗi dậy… Tôi tôi bảo Nola phải làm mẫu khỏa thân cho Luther, tôi đã tạo ra mối liên hệ giữa hai người đó. Tôi nghĩ mình phải gián tiếp chịu trách nhiệm về cái chết của bé gái hiền lành này.
– Chuyện gì xảy ra vậy, thưa ông Stern?
Mới đầu Stern im lặng, ông ta loanh quanh một lúc lâu mới quyết định nói rõ:
– Tôi nhanh chóng nhận ra rằng Luther yêu Nola điên cuồng và anh ta muốn tìm hiểu tại sao Nola lại yêu Harry điên cuồng. Điều đó khiến anh ta phát bệnh. Anh ta hoàn toàn bị Quebert ám ảnh, đến mức suốt ngày nấp trong rừng quanh Goose Cove rình Quebert. Anh ta thường xuyên tới Aurora. Đôi khi còn ở lại cả ngày. Tôi có cảm giác không còn làm chủ được tình hình nên một hôm tôi đi theo anh ta. Tôi thấy xe của anh ta đỗ dưới tán cây trong rừng, gần Goose Cove. Tôi đỗ xe cách xa hơn, khuất tầm mắt và vào rừng kiểm tra. Tôi thấy Luther đang trốn phía sau bụi cây, nhìn về phía ngôi nhà. Tôi không ra mặt, nhưng tôi muốn cho anh ta bài học nhớ đời. Tôi quyết định đến Goose Cove, như thể tình cờ tới thăm Harry. Tôi đi lên đường 1, tới Goose Cove bằng đường mòn. Tôi đi thẳng vào sân, cố tình hét toáng lên: “Xin chào! Xin chào Harry!” để Luther nghe thấy tiếng. Harry chắc nghĩ tôi bị điên. Nhưng tôi nhớ anh ta cũng rống lên như bò vậy. Tôi giả vờ để xe ở Aurora và đề nghị anh ta chở tôi về thành phố rồi cùng ăn trưa. Anh ta đồng ý ngay. Tôi tính làm như vậy sẽ đủ thời gian cho Luther rút lui sau một phen hoảng hồn. Tôi và Quebert ăn trưa ở tiệm Clark’s. Trong bữa ăn, Harry Quebert kể cho tôi nghe ngày hôm trước, từ sáng sớm, Luther đã cho anh ta quá giang từ Aurora về Goose Cove vì anh ta bị chuột rút. Harry hỏi tôi Luther làm gì ở Aurora vào lúc sáng sớm thế. Tôi phải đánh trống lảng, nhưng trong lòng rất lo lắng: chuyện này cần phải chấm dứt. Tối hôm đó, tôi ra lệnh cho Luther không bao giờ được tới Aurora nữa nếu không sẽ xảy ra chuyện. Nhưng anh ta ngoan cố không nghe. Do đó khoảng một, hai, tuần sau, tôi yêu cầu anh ta không được vẽ Nola nữa. Chúng tôi cãi nhau nảy lửa. Hôm đó là thứ Sáu ngày 29 tháng Tám năm 1975. Luther nói không muốn làm việc cho tôi nữa, rồi sập cửa bỏ đi. Tôi nghĩ anh ta mất bình tĩnh nên hành động như vậy và sẽ quay lại. Hôm sau, tức là vào cái ngày 30 tháng Tám năm 1975 đáng nhớ đó, tôi đi lo công chuyện, khi trở về thấy Luther không có nhà, tôi có linh cảm vô cùng kì cục. Tôi đi tìm anh ta. Tôi lái xe ra đường Aurora, lúc đó chắc khoảng 20 giờ. Trên đường, tôi gặp cả một đội cảnh sát. Khi tới thành phố, tôi còn bắt gặp cả một đám đông: mọi người nói Nola đã biến mất. Tôi hỏi địa chỉ nhà gia đình Kellergan, nhưng thật ra chỉ cần bám theo đoàn người hiểu kì và xe cảnh sát là tới nơi. Tôi dừng lại một lúc trước ngôi nhà, không tin được mọi chuyện, ngắm nhìn nơi chốn cô bé dễ thương tốt bụng đã sống. Ngôi nhà nhỏ yên tĩnh bằng gỗ ép màu trắng, có một chiếc xích đu buộc dưới tán cây sơri rậm rạp. Khi màn đêm buông xuống, tôi mới về tới Concord, đi thẳng vào phòng Luther xem anh ta có ở đó không, nhưng hiển nhiên là chẳng có ai. Chỉ có bức tranh Nola nhìn tôi chằm chằm. Bức vẻ đã hoàn thiện. Tôi gỡ xuống, mang sang xưởng vẽ. Bức tranh vẫn cứ năm nguyên chỗ đó bấy lâu. Suốt đêm đó tôi đợi Luther về, nhưng vô ích. Hôm sau, bố anh ta gọi điện cho tôi: ông ta cũng đang tìm con trai mình. Tôi thông báo anh ta đã bỏ đi cách đây hai ngày và không nói thêm gì. Mà tôi cũng chẳng nói với ai. Tôi giữ im lặng. Bởi vì tố cáo Luther là tội phạm trong vụ Nola mất tích cũng đồng nghĩa với việc tố cáo chính tôi. Suốt ba tuần tiếp theo, tôi rình bóng của Luther; ngày nào cũng đi tìm. Cho tới tận khi bố anh ta thông báo anh ta đã chết vì tai nạn xe hơi trên đường.
– Ý ông có phải chính Luther Caleb là kẻ đã giết Nola phải không? Gahalowood hỏi.
Stern gật đầu.
– Vâng, thưa trung sĩ. Ba mươi ba năm nay tôi nghĩ thế.
Không bàn luận thêm về câu chuyện mà Gahalowood vừa kể, tôi lấy thêm hai chai bia trong tủ lạnh và mở máy ghi âm.
– Anh phải kể lại từ đầu câu chuyện vừa nãy, trung sĩ ạ. Tôi nói. Tôi phải ghi âm lại cho cuốn sách.
Anh ta vui vẻ chấp thuận.
– Nếu anh muốn.
Tôi bắt đầu bấm máy. Đúng lúc đó điện thoại của Gahalowood đổ chuông. Anh ta trả lời, và tôi đã ghi lại toàn bộ nội dung cuộc điện thoại của anh ta lúc đó: “Anh có chắc không thế?” Gahalowood hỏi. “Anh đã kiểm tra lại toàn bộ rồi chứ hả? Cái gì? Cái gì? Lạy Chúa, đúng là loạn hết rồi !”. Anh ta xin tôi mẩu giấy và chiếc bút, ghi vắn tắt những điều người đầu dây bên kia đang nói rồi tắt máy. Anh ta nhìn tôi, nét mặt thật kì cục:
– Cảnh sát tập sự vừa gọi. Tôi yêu cầu anh ta tìm lại bản báo cáo về vụ tai nạn của Luther Caleb.
– Thế sao?
– Theo như báo cáo hồi đó, người ta tìm thấy Luther Caleb chết trong chiếc ô tô Chevrolet Monte Carlo đen, đăng kí dưới tên công ty của Stern.
* * *
Thứ Sáu, 26 tháng Chín năm 1975
Hôm đó trời đầy sương mù. Mặt trời mọc từ mấy tiếng đồng hồ rồi nhưng ánh sáng vẫn còn rất yếu. Những đám mây đục lơ lửng trong không trung, hiện tượng thời tiết thường xuyên xảy ra vào mùa thu ẩm ướt ở New England. 8 giờ, George Tent, một ngư dân, rời cảng Sagamore, bang Massachusetts, ra khơi trên con thuyền riêng cùng con trai. Vùng đánh bắt của hai bố con họ chủ yếu tập trung dọc bờ biển, và họ là một trong số ít những người ngư dân hay thả lưới ở một số vịnh vắng vẻ ít người để ý. Ngày hôm đó, George Tent cũng tới chính khe vịnh ít người đặt lưới để kéo hai mẻ. Trong khi người cha đang chèo thuyền ở vịnh Sunset Cove, là nơi đại dương ăn sâu vào giữa hai mỏm núi dựng đứng, con trai ông bất chợt phát hiện một luồng sáng lóa mắt. Tia nắng mặt trời lọt qua những đám mây và phản chiếu vào một cái gì đó. Cậu bèn lấy ống nhòm nhìn lên vách đá.
– Có chuyện gì thế? Ông bố hỏi.
– Có cái gì trên bờ ấy. Con không biết là cái gì, chỉ thấy phát sáng rất mạnh.
Cẩn trọng đo mực nước biển, Tent nhận thấy mực nước đủ sâu để có thể tiến tới gần vách đá hơn. Sau đó, ông chậm rãi đi tiếp dọc theo thành vách. Khi vòng qua tảng đá, họ bỗng phát hiện điều gây chú ý. “Mẹ kiếp chó má!” ông Tent chửi thề, trừng mắt lên nhìn. Ông vội vàng gọi điện đàm cho cứu hộ biển.
8 giờ 47 phút, cùng ngày hôm đó, cảnh sát Sagamore nhận được tin cấp báo từ hải quân về một vụ tai nạn chết người: một chiếc ô tô lao ra khỏi đường bộ, trượt dài trên vách đá ở Sunset Cove rồi đập vào những mỏm đá phía dưới. Cảnh sát Darren Wanslow có mặt ở hiện trường. Khi anh tới nơi, xe kiểm lâm đã có mặt, bên dưới vịnh một chiếc thuyền con thoi của lính gác biển đang tìm kiếm. Một nhân viên kiểm lâm nói:
– Họ bảo dưới kia có một chiếc xe hơi, nhưng chúng tôi chẳng nhìn thấy gì cả.
Cảnh sát Wanslow tiến sát bờ vực: vách đá dốc đứng, phủ đầy cây gai, cỏ cao và những nếp gấp đá. Quả thật là không thể nhìn thấy được bất kì điều gì bên dưới.
– Anh bảo có một chiếc xe hơi ở ngay phía dưới này à? Wanslow hỏi.
– Chúng tôi nghe tin báo khẩn là như thế. Tôi hình dung là một chiếc ô tô đậu trên bãi xe, nhưng vì một lí do nào đó nó lao xuống vực theo đường dốc này. Cầu cho đó không phải là bọn thanh thiếu niên tới đây hôn hít nhau giữa đêm và không kéo phanh tay.
– Chúa ơi, Wanslow thì thầm, tôi cũng hi vọng là bên dưới không có đứa nhóc nào.
Viên cảnh sát kiểm tra góc sân để xe gần với vực nhất. Có một dải cỏ dài giữa đoạn cuối của phần sân xi măng và đoạn đầu của con dốc. Anh tìm dấu vết của chiếc xe khi lăn qua đó. Cỏ dại, cây gai bị bật rễ do sức nặng của chiếc xe khi nó lao xuống vách đá.
– Theo anh, chiếc xe lao thẳng xuống đó à? Wanslow hỏi viên kiểm lâm.
– Hẳn thế. Từ lâu chúng ta vẫn nói là phải có rào chắn. Bọn nhóc. Chẳng may chúng uống quá chén rồi lao thẳng xuống đó. Ngoại trừ đã để cả mấy chai rượu vào mũi, chắc hẳn phải có lí do kinh hoàng lắm mới lao thẳng xuống kia được.
Không thể nhìn rõ chiếc thuyền bên dưới đang làm những gì và bỗng nhiên nó lại di chuyển ra xa vách đá. Lúc đó, cả ba người đàn ông đều nhận ra một chiếc ô tô gắn lủng lẳng ở một đầu của cần trục sắt. Wanslow quay trở lại xe ô tô, liên lạc với những người lính gác bờ biển qua điện đài.
– Ô tô hãng gì? anh hỏi.
– Một chiếc Chevrolet Monte Carlo, người dưới vực trả lời. Màu đen.
– Một chiếc Chevrolet Monte Carlo màu đen hả? Khẳng định lại xem nào, Chevrolet Monte Carlo màu đen phải không?
– Tôi khẳng định. Biển số xe thuộc bang New Hampshire. Bên trong có xác người chết. Nhìn thật kinh khủng.
* * *
Đã hai tiếng đồng hồ nay chúng tôi chạy chiếc xe Chryslter công vụ chậm chạp của Gahalowood. Hôm đó là thứ Hai ngày 21 tháng Bảy năm 2008 .
– Anh có muốn tôi cầm lái không trung sĩ?
– Tuyệt đối không.
– Anh lái quá chậm.
– Tôi lái cẩn thận.
– Chiếc xe này chẳng khác gì đống phế thải trung sĩ ạ.
– Đây là xe của cảnh sát bang. Hãy tỏ ra tôn trọng một chút nhà văn ạ.
– Thế thì đây là một xe rác bang. Tôi mở nhạc nhé?
– Trong mơ cũng không được làm như vậy, thưa nhà văn. Chúng ta đang trong cuộc điều tra, chứ không phải đang lái xe đi tán gái.
– Anh biết không, tôi sẽ viết trong sách của tôi rằng anh lái xe chẳng khác gì một lão già đáng thương.
– Thôi bật nhạc lên đi, nhà văn. Bật to hết cỡ lên. Tôi không muốn phải nghe anh nói cho đến khi nào tới nơi.
Tôi cười.
– Được đấy, anh nhắc lại cho tôi tên viên cảnh sát với… là Darren…
– …Wanslow. Ông ta là cảnh sát ở Sagamore. Ông ta là người được gọi báo khi người đánh cá tìm thấy xác ô tô của Luther.
– Xe Chevrolet Monte Carlo màu đen à?
– Chính xác.
– Điên nhỉ! Tại sao không có ai gắn kết câu chuyện lại?
– Làm sao mà tôi biết được. Đó chính là điều chúng ta cần làm sáng tỏ.
– Tay Wanslow này bây giờ thế nào rồi?
– Ông ta về hưu được vài năm rồi. Hiện tại, ông ta trông coi một xưởng sửa chữa ô tô cùng với người cháu. Này, anh đang ghi âm đấy à?
– Vâng. Thế hôm qua, anh nói gì với Wanslow trong điện thoại thế?
– Không có gì nhiều. Dường như ông ta ngạc nhiên vì cú điện thoại của tôi. Ông ta nói ban ngày có thể gặp ông ta tại xưởng sửa chữa ô tô.
– Thế tại sao anh không thẩm vấn ông ta qua điện thoại?
– Không có gì tốt hơn bằng nói chuyện trực tiếp, nhìn tận mặt, nhà văn ạ. Điện thoại quá vô nhân tính. Điện thoại chỉ để cho người dở như kiểu anh thôi.
Xưởng ô tô nằm ngay trên đường rẽ vào Sagamore. Chúng tôi thấy Wanslow đang chúi đầu vào cỗ máy của chiếc Buick cũ. Ông ta đuổi người cháu họ ra khỏi văn phòng, xếp gọn hàng chồng tài liệu sổ sách kế toán đặt trên chiếc ghế tựa để mời chúng tôi ngồi lên. Ông ta rửa tay rất lâu ở vòi nước phụ rồi mời chúng tôi uống cà phê.
– Thế nào? Ông ta vừa hỏi vừa rót cà phê đầy ba chiếc tách. Có chuyện gì mà cảnh sát bang New Hampshire tìm gặp tôi ở đây?
– Như tôi nói với ông hôm qua, Gahalowood trả lời, chúng tôi đang điều tra về cái chết của Nola Kellergan, đặc biệt là về vụ tai nạn giao thông xảy ra trong hạt của ông vào ngày 26 tháng Chín năm 1975.
– Chiếc Monte Carlo màu đen phải không?
– Chính xác. Tại sao ông lại biết đó chính là điều chúng tôi quan tâm?
– Các anh đang điều tra về vụ Kellergan. Vào thời kì đó, chính tôi cũng nghi ngờ ở đây có mối liên hệ.
– Thật ư?
– Vâng. Hơn nữa, đó chính là chi tiết khiến tôi nhớ nhất. Tôi muốn nói là, theo thời gian, có những điều người ta quên, nhưng có những điều vẫn in sâu trong trí nhớ. Vụ tai nạn này là một trong những điều phải nhớ.
– Tại sao?
– Anh biết đấy, khi là nhân viên cảnh sát của một thành phố nhỏ, tai nạn giao thông là phần việc quan trọng mà chúng ta phải giải quyết. Tôi muốn nói là, tôi, trong suốt cuộc đời sự nghiệp của mình, những xác chết duy nhất mà tôi nhìn thấy, là những xác chết vì tai nạn giao thông. Nhưng ở đây, chuyện lại khác: trong suốt mấy tuần trước đó, tất cả mọi người đều được báo động về một vụ bắt cóc đã xảy ra trong bang New Hampshire. Người ta dồn sức vào tìm kiếm chiếc ô tô hiệu Monte Carlo màu đen nên chúng tôi phải mở to mắt. Tôi còn nhớ trong suốt mấy tuần đó, tôi chỉ có mỗi một việc là cho quân đi lùng sục để tìm cho ra chiếc Chevrolet bất kể màu gì để kiểm tra. Tôi nghĩ, xe màu đen rất dễ có thể sơn lại. Tóm lại là tôi dốc hết sức vào vụ này, thì cũng giống như tất cả cảnh sát trong vùng thôi: chúng tôi muốn tìm cho ra Nola bằng mọi giá. Và rồi, rốt cuộc, vào một buổi sáng, đúng vào ca tôi trực, thì bảo vệ bờ biển báo họ đang trục một chiếc xe ô tô từ phía dưới chân vực Sunset Cove lên. Thử hình dung xem chiếc ô tô đó thuộc loại gì…
– Một chiếc Monte Carlo màu đen.
– Chính xác. Biển đăng kí tại bang New Hampshire. Có một xác người chết bên trong. Tôi nhớ rõ lúc tôi kiểm tra bên trong chiếc xe: sau khi bị rơi xuống, nó hoàn toàn bẹp dí, còn xác người bên trong nát như tương. Trên người anh ta vẫn còn giấy tờ tùy thân, anh ta là Luther Caleb. Tôi còn nhớ rõ lắm. Chiếc xe ô tô được đăng kí dưới tên của một công ty cỡ bự ở Concord, Stern Limited. Chúng tôi rà soát hết sức cẩn thận bên trong: chẳng có gì mấy. Phải nói là cú lao xuống làm hư hỏng quá nhiều. Thế nhưng, chúng tôi vẫn còn tìm thấy được đống thủy tinh vỡ vụn còn lại của mấy chai rượu. Trong cốp xe, không có gì khác ngoại trừ vài bộ quần áo.
– Hành lí à?
– Vâng, đúng vậy. Chính xác hơn là một ít hành lí gọn nhẹ.
– Thế sau đó ông làm gì? Gahalowood hỏi.
– Làm công việc của tôi: tôi hoàn toàn tập trung vào việc điều tra. Tôi đặt ra và trả lời các câu hỏi tay này là ai, hắn làm gì ở đây và hắn ngã xuống dưới đó từ khi nào. Tôi nghiên cứu về Caleb. Các anh thử đoán xem tôi khám phá ra điều gì?
– Đơn kiện bản tại cảnh sát ở Aurora vì có hành vi tấn công, Gahalowood mệt mỏi tuyên bố.
– Chính xác! Chán thật, làm sao anh biết chuyện này?
– Tôi biết.
– Lúc đó, tôi nghĩ, đây không đơn giản là sự trùng lặp. Mới đầu, tôi dò hỏi xem đã có ai trình báo về việc anh ta mất tích không. Ý tôi là, theo kinh nghiệm của tôi về các tai nạn giao thông, tôi biết lúc nào cũng có người thân trong nhà lo lắng và thường nhờ đó chúng tôi nhận dạng được người chết. Nhưng ngay cả điều đó cũng không có, không hề có trình báo nào. Thật là kì lạ, phải không? Thế là tôi gọi điện cho công ty Stern Limited để có thêm thông tin. Tôi bảo họ rằng tôi vừa tìm thấy một chiếc ô tô của công ty, thế là người của công ty đó bảo tôi đợi máy: sau đoạn nhạc chờ thì tôi được gặp và nói chuyện với Elijah Stern. Ông ta chính là người thừa kế của gia đinh Stern. Đích danh ông ta. Tôi giải thích cho ông Stern nghe tình hình và hỏi có phải ông ấy bị mất một chiếc ô tô không. Ông ấy khẳng định với tôi là không phải. Tôi nói với ông ta về chiếc xe Monte Carlo màu đen thì ông ấy giải thích chiếc xe đó thường do tài xế của ông ta sử dụng ngoài giờ làm việc. Tôi hỏi ông ta, kể từ khi nào ông ta không gặp tài xế, thì ông ta trả lời tôi là anh ta đi nghỉ. “Đi nghỉ chính xác là từ bao lâu?” Tôi hỏi. Ông ấy bảo: “Vài tuần”. “Thế đi nghỉ ở đâu?” Ông ta lại bảo không biết gì hết. Tôi thấy việc này thật là kì cục kinh khủng.
– Thế rồi ông làm gì nữa? Gahalowood hỏi.
– Bản thân tôi nghĩ rằng chúng tôi vừa sờ tay vào kẻ khả nghi số một của vụ mất tích bé gái nhà Kellergan. Ngay lập tức, tôi gọi điện cho Cảnh sát trưởng Aurora.
– Ông gọi điện cho Cảnh sát trưởng Pratt à?
– Cảnh sát trưởng Pratt. Đúng rồi, đúng tên ông ấy là Pratt. Vâng, tôi báo cho ông ta kết quả tìm kiếm. Ông ta mới là người có trách nhiệm điều tra vụ mất tích.
– Thế rồi sao?
– Cùng ngày hôm đó, ông ta tới gặp tôi. Ông ấy cảm ơn tôi, rồi nghiên cứu hồ sơ rất chăm chú và cẩn thận. Ông ấy là người rất dễ mến. Ông ấy đi kiểm tra chiếc xe ô tô và nói rằng, thật đáng tiếc bởi vì chiếc ô tô không đúng với mẫu xe mà ông ta nhìn thấy trong cuộc rượt đuổi. Chính vì thế, thậm chí ông ta còn đắn đo không chắc đã nhìn thấy xe Chevrolet Monte Carlo màu đen hay xe Nova. Hai mẫu xe rất giống nhau. Ông ta sẽ kiểm tra lại chi tiết này với trụ sở cảnh sát. Ông ta có nói thêm là ông ta cũng đã nghiêng về tay Caleb này nhưng lại có đủ chứng cứ bác bỏ nên không bám theo hướng điều tra này nữa. Mặc dù vậy, ông ấy cũng yêu cầu tôi gửi lại cho ông ấy bản báo cáo của tôi, và tôi đã chấp thuận.
– Vậy là ông đã báo Cảnh sát trưởng Pratt nhưng ông ta không điều tra theo hướng nghi ngờ của ông?
– Chính xác. Như tôi đã nói với anh, Pratt khẳng định là tôi nhầm. Tôi phải nghe ông ấy, chính ông ấy mới là người điều tra vụ đó. Ông ấy biết việc phải làm. Ông ấy kết luận đó là vụ tai nạn bình thường, và tôi cũng viết đúng như vậy trong báo cáo.
– Thế ông không thấy lạ à?
– Lúc đó thì không. Tôi nghĩ chắc tôi kết luận quá vội vàng. Nhưng xin lưu ý là tôi làm việc hoàn toàn không có gì tắc trách: tôi gửi xác Luther đến bệnh viện để nghiên cứu xem điều gì có thể xảy ra, xem liệu tai nạn xảy ra có phải vì say rượu bởi vì trong xe có vỏ chai. Đáng tiếc là với những mẩu cơ thể sót lại, sau cú va đập kinh khủng khi lăn xuống vực cùng sự hủy hoại do nước biển, người ta không thể khẳng định được điều gì. Tôi xin nói cho các anh biết là, cái xác chết bị nghiền nát như tương. Bác sĩ chỉ còn có thể phỏng đoán được một điều, rằng xác chết hẳn là đã nằm đó từ mấy tuần rồi. Chỉ có Chúa mới biết nó còn có thể nằm lại ở đó bao nhiêu lâu nữa, nếu như tay đánh cá đó không nhìn thấy chiếc xe. Sau đó, hài cốt được trả lại cho gia đình, và việc này đánh dấu chấm hết cho câu chuyện. Tôi đã nói với các anh rằng, mọi chi tiết đều cho thấy đó là một tai nạn giao thông bình thường. Hiển nhiên là bây giờ, với tất cả những gì tôi được biết, nhất là về Cảnh sát Pratt và đứa bé gái, thì tôi không còn tin chắc được điều gì nữa.
Câu chuyện do Darren Wanslow kể rất cuốn hút. Sau cuộc trò chuyện, Gahalowood và tôi cùng đi ăn qua loa ở tận bãi tàu Sagamore. Cảng tàu này bé xíu, bên cạnh có một cửa hàng bách hóa và một cửa hàng bán bưu ảnh. Trời đẹp rực rỡ, đại dương ngỡ như bất tận. Xung quanh có những mái nhà xinh xắn nhiều màu sắc, đôi khi vươn ra sát biển. Nhà nào cũng được bao quanh bởi khu vườn xinh xắn được chăm sóc kĩ càng. Chúng tôi uống bia và ăn trưa bằng món thịt bò rán trong quán nhỏ dựng trên biển. Gahalowood vừa nhai vừa có vẻ suy nghĩ rất lung.
– Anh đang nghĩ gì vậy? Tôi hỏi.
– Tất cả đường như chỉ ra rằng Luther chính là thủ phạm. Anh ta có hành lí đi cùng với người anh ta chuẩn bị chạy trốn, có thể là mang theo Nola. Nhưng kế hoạch của anh ta gặp phải trở ngại: Nola muốn thoát khỏi anh ta, hẳn là anh ta đã phải giết mẹ Cooper, sau đó tấn công và đánh Nola quá tay.
– Anh nghĩ là chính anh ta à?
– Tôi tin vậy. Nhưng mọi chuyện chẳng rõ ràng mấy… Tôi không hiểu tại sao Stern lại không nói cho chúng ta biết về chiếc Chevrolet màu đen mặc dù đây là chi tiết quan trong. Luther biến mất với chiếc ô tô được đăng kí dưới tên công ty, thế mà ông ta lại không lo lắng gì là thế nào? Tại sao gã Pratt quỷ quái này lại không điều tra thêm hướng đó?
– Anh nghĩ Cảnh sát trưởng Pratt có dính líu tới việc Nola bị mất tích à?
– Thú thật là tôi rất muốn đi hỏi ông ta tận nơi xem vì lí do gì mà ông ta lại bỏ lửng hướng điều tra Caleb mặc dù có báo cáo của Wanslow. Ý tôi muốn nói là, người ta cung cấp cho ông ta một hướng điều tra quý giá, vậy mà ông ta lại tuyên bố là không có liên quan gì. Quá kì lạ, anh có thấy thế không? Nếu thực sự ông ấy có nghi ngờ về kiểu dáng xe, tức có thể đó là chiếc Nova chứ không phải là chiếc Monte Carlo, thì ông ấy phải cho mọi người biết điều này chứ. Thế mà trong bản báo cáo của ông ấy, ông ấy chỉ nói đến Monte Carlo đen…
Cùng buổi chiều ngày hôm đó, chúng tôi đi ngay Montburry gặp Cảnh sát trưởng Pratt tại căn nhà nghỉ nhỏ mà ông ta đang ở. Ngôi nhà chỉ có một tầng, một dãy hàng chục phòng nằm cạnh nhau, chỗ đỗ xe ở phía trước mỗi phòng. Nơi này như không một bóng người. Chỉ có mỗi hai chiếc xe, trong đó có một chiếc ngay trước phòng của Pratt, hẳn là xe của ông ta.
Gahalowood đập vào cửa phòng. Không có tiếng trả lời. Anh ta đập tiếp. Vô ích. Một người phụ nữ dọn phòng đi ngang qua, Gahalowood giơ thẻ cảnh sát yêu cầu bà ta mở cửa phòng.
– Không thể được, bà ta trả lời.
– Thế là thế nào, không thể được? Gahalowood tức tối, chỉ rõ cho bà ta xem thẻ cảnh sát của mình.
– Hôm nay tôi đi qua đây nhiều lần để dọn phòng, bà ta giải thích. Tôi nghĩ có thể khách đi ra ngoài mà tôi không nhìn thấy, nhưng ông ta lại cắm chìa khóa bên trong. Không thể mở được. Như vậy có nghĩa là ông ta ở trong phòng. Ngoại trừ khả năng là ông ấy đi và sập cửa trong khi chìa khóa vẫn cắm bên trong ổ. Điều này thường xảy ra khi khách thuê phòng vội vã. Nhưng xe ô tô của ông ta lại đỗ ở đây.
Gahalowood có vẻ khó chịu. Anh ta đập cật lực vào cửa, như bắt buộc Pratt phải mở ngay. Anh ta cố gắng nhìn qua cửa sổ, nhưng tấm rèm đã kéo lại khiến viên trung sĩ không nhìn thấy bất kì cái gì bên trong. Gahalowood quyết định phá cửa. Ổ khóa đã phải nhượng bộ sau cú đạp chân thứ ba. Cảnh sát trưởng Pratt nằm dài trên nền nhà ngay giữa vũng máu của chính mình.
❀ ❀ ❀
[1] Bút danh của Jean-Paul Desbiens (1927-2006); nhà văn, nhà báo, giảng viên người Quebec. Các sáng tác của ông rất đa dạng và giành được nhiều giải thưởng lớn.