“Thế còn các nhân vật? Thầy lấy cảm hứng từ ai để xây dựng nên các nhân vật của mình?
– Từ tất cả mọi người. Từ một người bạn, người giúp việc, nhân viên ngân hàng. Nhưng lưu ý rằng: không phải chính những người này tạo cảm hứng cho anh, mà là các hành động của họ. Cách phản ứng của họ làm anh nghĩ đến những hành động mà các nhân vật trong tiểu thuyết của anh có thể làm. Nhà văn nào nói rằng không lấy cảm hứng từ ai cả là nói dối, nhưng họ có lí khi làm thế: như vậy họ tránh được khối điều phiền toái.
– Nghĩa là thế nào?
– Ưu thế của các nhà văn, Marcus ạ, đó là anh có thể giải quyết vấn đề với những người khác thông qua phương tiện trung gian là cuốn tiểu thuyết của anh. Nguyên tắc duy nhất là không được nêu đích danh. Không bao giờ nêu tên riêng: điều đó sẽ dẫn đến kiện tụng và những việc đau đầu. Theo danh sách, chúng ta đến số thứ tự bao nhiêu rồi?
– 23.
—Vậy thì chương thứ 23, Marcus: hãy chỉ viết những điều tưởng tượng. Những điều khác chỉ mang lại cho anh phiền toái.”
Chủ nhật ngày 22 tháng Sáu năm 2008, lần đầu tiên tôi gặp ông giám mục David Kellergan. Hôm đó là một ngày hè xám xịt, đúng theo kiểu thời tiết chỉ có thể xảy ra dưới bầu trời New England. Vào mùa này ở đây, sương mù bốc lên từ đại dương dày đến nỗi còn bám chắc trên những ngọn cây và các mái nhà. Ngôi nhà của gia đình Kellergan nằm ở số 245 Terrace Avenue, ở giữa một khu dân cư đẹp đẽ. Hình như ngôi nhà này không thay đổi gì kể từ khi họ tới sống ở Aurora. Vẫn những bức tường cũ màu, vẫn những bụi cây xung quanh nhà. Những khóm hồng vừa trồng đã trở thành những bụi cây lớn, còn cây sơri trước nhà đã thay thế cho một loại cây cùng họ bị chết từ mười năm trước.
Lúc đến nơi, tôi nghe thấy tiếng nhạc ầm ĩ chói tai dội ra từ ngôi nhà. Tôi bấm chuông nhiều lần nhưng không hề có tiếng trả lời. Mãi lâu sau mới có người đi qua đường kêu lên: “Nếu như anh tìm cha Kellergan thì bấm chuông là vô ích. Ông ấy đang ở trong nhà xe”. Tôi quay sang đập của nhà xe, đúng là âm nhạc ầm ĩ thoát ra từ đó. Sau khi ngoan cố đập cửa hồi lâu, rốt cuộc cửa cũng mở, trước mặt tôi là một ông già nhỏ thó, dáng vẻ yếu ớt, tóc và da xám ngoét, mặc quần áo bảo hộ lao động và đeo kính bảo vệ mắt. Đó chính là David Kellergan, tám mươi lăm tuổi.
– Có việc gì thế? Với vẻ dễ mến, ông ta hét lên vì nhạc được mở với âm lượng không thể chịu nổi.
Tôi buộc phải khom tay lên thành vòm loa để nói sao cho ông có thể nghe được.
– Tôi tên là Marcus Goldman. Ông không biết tôi nhưng tôi đang điều tra về cái chết của Nola.
– Anh là cảnh sát à?
– Không, tôi là nhà văn. Ông có thể tắt nhạc hay vặn bé âm lượng xuống một chút được không?
– Không được. Tôi không tắt nhạc được. Nhưng chúng ta có thể ra ngoài phòng khách nếu anh muốn.
Ông mời tôi đi qua nhà xe vào phòng khách: căn phòng đã hoàn toàn bị biến thành xưởng sửa chữa, giữa phòng chễm trệ một chiếc Harley-Davidson. Trong góc phòng, bộ chơi nhạc đĩa cũ kĩ nối liền với dàn máy làm toàn bộ âm thanh của bản nhạc jazz nổi lên mạnh mẽ.
Tôi chuẩn bị tinh thần cho một cuộc gặp không được đón tiếp tử tế. Tôi nghĩ, sau khi bị cánh nhà báo quấy rầy, hẳn cha Kellergan rất cần được yên tĩnh; nhưng trái lại, ông tỏ ra rất dễ mến. Dù đã từng đến Aurora nhiều lần, nhưng tôi chưa bao giờ gặp ông lần nào. Rõ ràng ông hoàn toàn không biết mối quan hệ giữa tôi với Harry và tôi cũng lưu ý không nói ra chuyện này. Ông pha hai cốc trà lạnh, rồi chúng tôi cùng ngồi vào bàn trong phòng khách. Ông vẫn đeo nguyên đôi kính bảo vệ mắt, cứ như thể phải sẵn sàng quay trở lại với chiếc mô tô ngay. Trong khi đó, thứ âm nhạc chói tai vọng đến không ngừng. Tôi cố gắng tưởng tượng người đàn ông này ba mươi ba năm về trước, khi còn là mục sư năng động của nhà thờ St James.
– Điều gì khiến anh đến đây hả anh Goldman? Ông chăm chú nhìn xoáy vào tôi hỏi vẻ tò mò. Vì một cuốn sách à?
– Tôi cũng không rõ nữa, cha ạ, chủ đích chính của tôi là tìm hiểu xem điều gì xảy ra với Nola.
– Đừng gọi tôi là cha, tôi không còn là mục sư nữa rồi.
– Tôi rất lấy làm tiếc vì chuyện xảy ra với con gái ông.
Ông mỉm cười, nụ cười nồng ấm đáng ngạc nhiên.
– Cảm ơn anh. Anh là người đầu tiên nói lời chia buồn với tôi, anh Goldman ạ. Từ hai tuần nay, cả thành phố này nói về con gái tôi: tất cả mọi người đều nóng lòng đợi báo mới ra để biết các thông tin mới nhất, nhưng không có ai tới tận đây xem tôi sống chết thế nào. Ngoại trừ cánh nhà báo, thì những người duy nhất bấm chuông cửa nhà tôi là mấy người hàng xóm đến phàn nàn về tiếng ồn. Người cha đang có tang con mình, cũng có quyền được nghe chút nhạc chứ, đúng không nào?
– Hoàn toàn đúng ạ.
– Thế anh đang viết một cuốn truyện à?
– Tôi cũng không biết có khả năng viết hay không nữa. Viết được sách hay thật là khó. Người xuất bản sách muốn tôi viết một cuốn về vụ này. Ông ta nói rằng việc này sẽ giúp tôi thăng tiến sự nghiệp. Ông có phản đối ý tưởng viết sách về Nola không?
Ông nhún vai.
– Không, nếu điều đó có thể giúp các bậc cha mẹ cẩn trọng hơn. Anh biết đấy, vào ngày con gái tôi mất tích, nó đang ở trong phòng riêng. Còn tôi thì đang trong nhà xe, cũng mở nhạc như thế này. Tôi không nghe thấy gì hết. Khi tôi vào thăm xem nó thế nào, thì nó không còn trong phòng nữa. Cửa phòng nó mở toang. Cứ như thể nó bốc hơi mất vậy. Tôi không biết cách trông giữ con gái mình. Hãy viết một cuốn sách cho các bậc cha mẹ, anh Goldman ạ. Cha mẹ phải vô cùng cẩn trọng trong việc chăm sóc con cái.
– Hôm đó, ông làm gì trong nhà xe?
– Tôi cũng sửa chính chiếc xe máy này. Chiếc Harley mà anh thấy đó.
– Một cỗ máy đẹp thật đấy.
– Cảm ơn anh. Hồi đó tôi nhặt nó về từ xưởng sửa chữa ô tô ở Montburry. Ông chủ ở đó bảo không còn có thể nhặt nhạnh được gì từ cái đống máy hỏng ấy nên nhượng lại cho tôi với giá bèo bọt là 5 đô tượng trưng. Khi con gái tôi mất tích thì tôi đang chăm sóc cái xe khốn kiếp này, đó chính là việc mà tôi làm lúc đó.
– Ông sống ở đây một mình à?
– Đúng vậy. Vợ tôi mất lâu rồi…
Ông đứng dậy, rồi mang tới cho tôi xem một cuốn album. Ông chỉ cho tôi Nola hồi còn bé, và vợ của ông, bà Louisa. Họ có vẻ rất hạnh phúc. Tôi ngạc nhiên vì ông già dễ dàng chia sẻ tâm sự, mặc dù xét cho cùng, ông không quen biết gì tôi. Tôi nghĩ chắc thực ra ông chỉ muốn làm sống dậy chút ít hình ảnh đứa con gái bất hạnh của mình. Ông kể cho tôi nghe khi họ đến Aurora vào mùa thu năm 1969 từ Jackson, Alabama, nơi đó mặc dù đội ngũ các con chiến đang phát triển vô cùng mạnh mẽ, nhưng ông vẫn quyết tâm từ bỏ để tới Aurora vì tiếng gọi nơi xa xôi còn mạnh mẽ hơn: cộng đồng ở Aurora đang cần mục sư mới, và ông đã được chọn. Lí do chính của việc ông chuyển nhà đến bang New Hampshire là mong muốn có được nơi chốn yên tĩnh để nuôi dạy Nola. Vào thời kì đó, nội bộ đất nước đang sôi sục, nào là bất đồng chính trị, nạn phân biệt chủng tộc và cuộc chiến ở Việt Nam. Các sự kiện xảy ra năm 1967 những cuộc bạo động phân biệt chủng tộc ở Saint-Quentin và sự bùng nổ các khu người da đen ở Newark và Détroit khiến họ phải tìm nơi nào đó bình ổn hơn, tránh xa tất cả các biến động này. Vậy là, khi chiếc ô tô nhỏ bị quá tải bởi trọng lượng của cả núi đồ đạc chậm chạp tiến tới gần bờ ao phủ đầy hoa súng của Montburry, trước khi lao xuống dốc hướng Aurora, từ xa vị mục sư Kellergan đã thấy đây là thành phố nhỏ xinh xắn yên tĩnh và tuyệt đẹp, ông thầm tự khen mình đã lựa chọn sáng suốt. Làm thế nào có thể tưởng tượng, đây chính là nơi mà sáu năm sau, đứa con gái duy nhất của ông mất tích?
– Tôi đã qua nhà thờ cũ nơi ông làm mục sư trước kia, tôi nói. Bây giờ nó thành cửa hàng McDonald’s.
– Toàn bộ thế giới này đang dần dần biến thành một cửa hàng McDonald’s, anh Goldman ạ.
– Thế còn nhà thờ thì sao, điều gì đã xảy ra vậy?
– Trong nhiều năm, nhà thờ phát triển rất thịnh vượng. Sau đó xảy ra việc con gái tôi là Nola biến mất và tất cả đã thay đổi. Nói cho chính xác thì có một thứ thay đổi, đó là, tôi không còn tin ở Chúa nữa. Nếu Chúa thực sự tồn tại, thì trẻ con không thể bị mất tích như vậy. Tôi bắt đầu làm nhiều chuyện linh tinh, nhưng không ai dám đuổi tôi. Dần dần, cả cộng đồng bắt đầu phân tán. Cách đây mười lăm năm, nhà thờ Aurora sáp nhập với nhà thờ Montburry vì lí do tài chính. Họ đã bán cả khu đất lẫn nhà thờ Aurora. Bây giờ, con chiên đi lễ Chủ nhật tại Montburry. Sau khi Nola mất tích, tôi không còn đủ sức đảm đương hết công việc, 6 năm sau thì tôi chính thức từ chức. Nhà thờ vẫn trả cho tôi một khoản trợ cấp. Thế rồi họ bán lại căn nhà này cho tôi với giá chỉ bằng giá một cái bánh mì.
Sau đó, David Kellergan còn miêu tả cho tôi những năm tháng sung sướng vô lo của cuộc đời ông ở Aurora. Theo ông, đó là những ngày tháng đẹp nhất trong đời. Ông còn nhớ vào những buổi tối mùa hè, khi ông cho phép Nola thức đọc sách dưới hiên nhà; ông từng ao ước mùa hè sẽ không bao giờ kết thúc. Ông còn kể cho tôi nghe, con gái ông đã có ý thức dành dụm tiền kiếm được từ việc làm thêm tại tiệm Clark’s vào thứ Bảy hàng tuần; có nói rằng với số tiền dành dụm đó, cô sẽ đi California để trở thành diễn viên. Chính ông cũng rất hãnh diện khi mỗi lần tới tiệm Clark’s đều được nghe khách hàng và bà chủ quán Quinn hết lời ngợi khen con gái. Trong suốt một thời gian dài sau khi con gái ông mất tích, ông còn phân vân không biết có phải là con bé đã đi California rồi không.
– Tại sao lại đi? Tôi hỏi. Ý ông muốn nói là cô ấy đã bỏ nhà…
– Bỏ nhà á? Tại sao con tôi lại muốn bỏ nhà mà đi? - Ông tỏ ra phật lòng
– Thế còn Harry Quebert, ông có biết ông ấy không?
– Không nhiều. Hơi biết chút thôi. Tôi cũng có gặp ông ta vài lần.
– Hơi biết một chút? tôi ngạc nhiên. Thế mà ông với ông ấy sống cùng thành phố từ 30 năm nay.
– Tôi không biết tất cả mọi người, anh Goldman ạ. Hơn nữa, anh biết đấy, tôi sống rất khép kín. Liệu tất cả chuyện này có phải là sự thật không? Harry Quebert và Nola? Có phải ông ta viết sách về con bé? Cuốn sách ấy có nghĩa là thế nào hả anh Goldman?
– Thú thật với ông rằng Nola yêu Harry và đó là tình cảm có đi có lại. Cuốn sách ấy kể về mối tình không thể giữa hai con người không có lối thoát thuộc cùng một tầng lớp xã hội.
– Tôi biết! Ông kêu lên. Tôi biết! Nhưng chuyện là thế nào , Quebert đã thay thế chữ đồi trụy bằng tầng lớp xã hội để tự tạo ra phẩm giá cho mình, rồi ông ta bán được hàng triệu bản? Cuốn sách kể những chuyện tục tĩu với con gái tôi, với Nola bé bỏng của tôi, rồi cả nước Mỹ đọc và trầm trồ ca ngợi trong suốt 30 năm qua!
Mục sư Kellergan không còn giữ được bình tĩnh nữa, lời cuối ông thốt lên với giọng đầy bạo lực mà tôi không ngờ một người đàn ông có vẻ ngoài yếu đuối nhường vậy có thể nói được. Ông im bặt giây lát, quay tròn trong căn phòng tựa như thể đang muốn thoát ra khỏi cơn tức giận. Nhạc vẫn gầm lên chói lói liên tục từ phía sau. Tôi nói với ông:
– Harry Quebert không giết Nola.
– Làm sao anh chắc như thế được?
– Không ai dám chắc điều gì, thưa ông. Chính vì vậy đôi khi sự tồn tại của chúng ta quá phức tạp.
Ông bĩu môi.
– Anh muốn biết điều gì, anh Goldman? Nếu đến đây tức là anh có điều muốn hỏi tôi phải không?
– Tôi đang cố gắng tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra. Buổi tối mà con gái ông biến mất, ông không nghe thấy tiếng động gì sao?
– Không gì cả.
– Vài người hàng xóm khẳng định rằng vào thời điểm đó họ đã nghe thấy nhiều tiếng kêu.
– Nhiều tiếng kêu? Không có tiếng kêu nào cả. Không bao giờ có tiếng kêu trong ngôi nhà này. Mà hơn nữa, tại sao lại có những tiếng kêu cơ chứ? Ngày hôm đó, tôi đang bận việc trong nhà xe. Suốt cả buổi chiều. Đến đúng lúc 19 giờ, tôi bắt đầu chuẩn bị bữa tối. Tôi vào phòng riêng của con bé để nhờ nó giúp tôi một chút, nhưng nó không còn ở đây nữa. Mới đầu, tôi nghĩ rằng chắc nó ra ngoài đi dạo vài vòng, mặc dù nó không có thói quen đấy. Tôi đợi một lúc, rồi khi bắt đầu thấy lo lắng tôi đi ra ngoài tìm nó quanh khu. Đi chưa được một trăm mét trên vỉa hè thì tôi gặp ngay cả toán người: mấy người hàng xóm kháo nhau, có người nom thấy một phụ nữ trẻ người dính đầy máu ở Side Creek. Từ khắp mọi nẻo đường, từng đoàn xe cảnh sát đỗ về, chặn hết mọi lối ra vào thành phố. Tôi vội chạy vào nhà gần đó nhất gọi điện thoại tới đồn cảnh sát để báo có thể đó là Nola… Phòng riêng của nó nằm dưới tầng trệt, anh Goldman ạ. Suốt 30 năm nay, tôi chỉ băn khoăn một điều, không biết tình hình con gái tôi như thế nào. Có thời kì dài tôi cứ nghĩ, nếu như còn có những đứa con khác, thì tôi sẽ cho chúng ngủ trong nhà kho. Nhưng tôi không có đứa nào khác.
– Thế ông có nhận thấy con gái mình có những hành động kì lạ nào vào mùa hè xảy ra vụ mất tích không?
– Không. Mà tôi cũng không biết nữa. Tôi không nghĩ vậy…câu hỏi mà tôi cũng thường đặt ra nhưng không thể trả lời.
Tuy nhiên, ông vẫn còn nhớ mùa hè năm đó , khi kì nghỉ hè vừa mới bắt đầu thì Nola, con gái ông thỉnh thoảng có vẻ rất thiểu não. Ông cứ nghĩ ở cái tuổi thiếu nữ dở trẻ con dở người lớn thì như vậy là bình thường. Sau đó tôi ngỏ lời xin được vào thăm phòng riêng của Nola; ông dẫn tôi vào xem như thể người hướng dẫn tham quan bảo tàng: “Xin đừng chạm tay vào bất cứ vật gì”. Kể từ khi con gái ông mất tích, ông vẫn giữ căn phòng không hề thay đổi. Tất cả mọi thứ vẫn ở đó: chiếc giường, chiếc giá chất đầy búp bê, giá sách nhỏ, ngăn bàn lẫn lộn hàng trăm thứ nào bút bi, bút chì, thước kẻ sắt và những trang giấy đã ngả vàng. Đó là giấy viết thư, cùng một loại giấy dùng để viết tin nhắn cho Harry.
– Con bé tìm thấy loại giấy nhắn tin này trong quầy bán giấy ở Montburry, người cha giải thích khi thấy tôi có vẻ quan tâm đặc biệt đến lốc giấy nhắn tin. Nó rất thích loại giấy này. Lúc nào nó cũng mang theo người, nó dùng để ghi chép và nhắn tin. Giấy này cũng chính là nó. Lúc nào nó cũng có mấy tập để dành.
Ở một góc phòng, vẫn còn thấy cả chiếc máy tính nhỏ Remington
– Chiếc máy tính này của con gái ông à? Tôi hỏi.
– Của tôi đấy. Nhưng nó cũng dùng. Mùa hè đó nó sử dụng liên tục nó nói có nhiều tài liệu cần đánh máy. Thậm chí nhiều lúc nó còn mang ra khỏi nhà. Tôi thường muốn chở nó đi, nhưng nó không bao giờ thích như vậy. Nó đi bộ, đeo máy vào vai.
– Vậy là căn phòng này vẫn y nguyên như lúc con gái ông mất tích?
– Mọi thứ tuyệt đối y nguyên như cũ. Đây chính là hiện trạng căn phòng trống rỗng mà tôi thấy lúc tôi vào tìm nó. Cửa sổ mở toang, một cơn gió nhẹ lay động những chiếc riđô.
– Ông có nghĩ ai đó đã vào phòng này tối hôm đó, dùng vũ lực cưỡng bức cô ấy và đưa đi?
– Tôi không biết nói với anh thế nào. Tôi chẳng nghe thấy gì hết. Nhưng như anh có thể thấy đó, không hề có dấu vết của vũ lực hay chống cự.
– Cảnh sát tìm thấy cô ấy có một chiếc túi. Bên trong túi có in khắc chữ Nola.
– Vâng. Họ còn yêu cầu tôi nhận diện nó. Đó chính là món quà tôi tặng nó vào dịp sinh nhất nó mười lăm tuổi. Một hôm khi hai bố con tôi đi cùng nhau, nó đã thấy chiếc túi này ở Montburry. Tôi vẫn còn nhớ của hàng đó ở trên phố chính. Ngày hôm sau, tôi đã quay trở lại để mua cho nó. Tôi còn đến hiệu làm yên ngựa nhờ khắc tên nó ở phía trong.
Tôi cố gắng đưa ra giả thuyết:
– Vậy, nếu đúng là túi của cô ấy, nghĩa là cô ấy mang nó theo. Mà nếu cô ấy mang nó theo, thì có nghĩa là cô ấy định đi đâu đó, đúng không ạ? Ông Kellergan, tôi nghĩ thật khó tin, nhưng ông có nghĩ có thể Nola muốn bỏ nhà đi không?
– Tôi không biết nữa, anh Goldman ạ. Cảnh sát cũng hỏi tôi như vậy cách đây 30 năm, rồi mới hỏi lại lần nữa cách đây mấy ngày. Nhưng ở đây chẳng thiếu cái gì. Quần áo , tiền bạc, chẳng thiếu thứ gì. Nhìn này, túi tiền tiết kiệm của nó còn ở đó, trên giá sách, vẫn còn đầy. (Ông cầm hộp bánh quy trên ngăn cao nhất lên). Nhìn này, có tận 120 đô la! 120 đô la. Tại sao con bé để lại đây nếu nó định bỏ nhà? Cảnh sát nói trong túi của nó có quyển sách đáng nguyền rủa đó.
– Có thật không vậy?
– Đúng vậy.
Những câu hỏi tiếp tục nhảy múa trong đầu tôi: tại sao Nola lại bỏ nhà đi mà không mang theo quần áo, cũng không mang theo tiền bạc? Tại sao cô ấy lại chỉ mang có mỗi bản thảo cuốn sách?
Trong nhà xe, chiếc đĩa hát quay đến bài cuối cùng. Người cha vội vã quay trở lại đặt nó về từ đâu. Tôi không muốn làm phiền ông quá lâu; tôi chào ông đi về, khi đi ra tôi còn chụp ảnh chiếc Harley-Davidson.
Về tới Goose Cove, tôi đi ra bãi biển đấm bốc. Tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy trung sĩ Gahalowood từ trong ngôi nhà tiến ra phía tôi. Vì đang đeo tai nghe cho nên tôi chỉ nhận ra khi anh ta đập tay lên vai tôi.
– Anh khỏe thật đấy, trung sĩ vừa nói vừa ngắm cơ thể tôi trần trùng trục, rồi anh ta chùi bàn tay đã dính mồ hôi của tôi lên quần mình.
– Tôi chỉ cố gắng duy trì bản thân mình thôi.
Tôi rút tai nghe khỏi túi, tắt máy.
– Đầu đọc mini à? Anh ta nói giọng khó chịu. Anh có biết Apple đã làm một cuộc cách mạng cho cả thế giới, từ bây giờ có thể lưu trữ âm nhạc gần như vô giới hạn trên một ổ đĩa cứng di động mà người ta gọi là iPod không?
– Tôi không nghe nhạc, thưa trung sĩ.
– Thế anh nghe cái gì khi tập thể thao vậy?
– Không có gì quan trọng. Mà thôi, anh nói cho tôi biết lí do tại sao tôi lại có vinh hạnh được anh tới thăm còn hơn. Lại còn vào ngày Chủ nhật nữa chứ!
– Tôi nhận được một cú điện thoại của Cảnh sát trưởng Dawn: ông ta kể cho tôi nghe vụ hỏa hoạn xảy ra tối thứ Sáu vừa rồi. Ông ấy tỏ ra lo lắng, mà tôi cũng phải thừa nhận điều đó là đúng: tôi không muốn vụ việc lại xoay chiều như thế.
– Có phải ý anh muốn nói ông ấy đang lo lắng cho an toàn của tôi không?
– Không hề. Chỉ đơn giản tôi muốn ngăn cản mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn. Chúng ta đều biết các vụ tội phạm liên quan đến trẻ con lúc nào cũng tạo ra vô khối bất ổn trong lòng dân. Tôi đảm bảo với anh rằng mỗi khi trên vô tuyến nhắc đến vụ bé gái bị chết, thì chắc chắn hàng loạt người cha của các gia đình trí thức sẽ nói rằng họ sẵn sàng cắt ngay hai hòn dái của Quebert.
– Nhưng ở đây, chính tôi là người bị tấn công cơ mà.
– Chính vì thế mà tôi đến đây. Tại sao anh không nói với tôi là anh đã nhận được tin nhắn nặc danh?
– Bởi vì chính anh đã tống cổ tôi ra khỏi phòng làm việc của anh.
– Điều này không sai.
– Tôi mời anh uống cốc bia nhé, trung sĩ?
Gahalowood hơi do dự rối chấp thuận. Chúng tôi đi ngược về nhà. Tôi lấy ra hai chai bia, rồi ngồi trên thềm nhà cùng uống. Tôi kể lại tối hôm qua khi trở về từ bãi biển Grand, tôi gặp hỏa hoạn như thế nào.
– Không thể nào tả được, tôi nói. Hắn đeo mặt nạ. Chỉ là cái bóng đen. Rồi lại lần nữa vẫn tin nhắn đó: Hãy trở về nhà, Goldman. Đó là lần thứ ba.
– Cảnh sát trưởng Dawn cũng kể cho tôi rồi. Có ai biết anh cũng tiến hành điều tra?
– Ai cũng biết. Ý tôi muốn nói là suốt ngày tôi cứ đi tra hỏi tất cả những người tôi gặp. Hắn có thể là bất kì ai. Anh nghĩ thế nào? Có ai đó không muốn tôi đào sâu hơn vào chuyện này à?
– Có ai đó không muốn anh khám phá ra sự thật về Nola. Thế cuộc điều tra của anh tiến triển đến đâu rồi?
– Cuộc điều tra của tôi á? Từ bây giờ anh cũng quan tâm tới điều tra của tôi à?
– Có thể. Cứ nói là, kể từ khi người ta dùng biện pháp đe dọa muốn làm cho anh im miệng, thì dân chúng càng ngày càng tin anh hơn.
– Tôi đã nói chuyện với cha Kellergan. Một người đàn ông dũng cảm. Ông ta đã cho tôi xem phòng của Nola.
– Tôi nghĩ chắc anh cũng đã xem rồi …
– Đúng vậy.
– Vậy nếu đó là vụ bỏ nhà đi, thì anh có thể giải thích thế nào về việc cô ta không mang theo thứ gì? Không quần áo, không tiền bạc, chẳng mang theo gì hết.
– Tại vì đây không phải là vụ bỏ nhà, Gahalowood trả lời.
– Thế thì, nếu đó là một vụ bắt cóc, tại sao lại không có dấu vết của sự kháng cự? Tại sao cô ấy lại mang theo cái túi đựng bản thảo?
– Chỉ cần cô gái quen biết tên giết người là có thế lí giải việc không có kháng cự. Có thể họ có quan hệ với nhau. Hắn ta xuất hiện dưới cửa sổ, như thỉnh thoảng hắn vẫn làm vậy. Có thế hắn vẫn hay làm thế, hắn thuyết phục cô bé đi theo hắn. Có thể chỉ ra ngoài đi dạo mấy bước..
– Có phải ông đang ám chỉ Harry không? ,…
– Đúng.
– Thế nghĩa là sao? Cô gái cầm theo bản thảo rồi nhảy qua cửa sổ ra ngoài à?
– Ai bảo anh là cô ấy cầm bản thảo theo? Ai nói với anh là cô ấy đã từng có trong tay tập bản thảo ấy? Đó là cách giải thích của Quebert, đó là cách nói của ông ta để giải thích tại sao có tập bản thảo cạnh xác chết của Nola.
Tôi do dự trong vòng một giây định kể ra điều tôi biết liên quan đến Harry và Nola, rằng họ hẹn gặp nhau ở nhà nghỉ Sea Side rồi bỏ trốn. Nhưng vào lúc này, tôi vẫn chưa muốn nói ra để không làm hại Harry. Tôi chỉ hỏi Gahalowood:
– Vậy thì giả thuyết của ông là gì?
– Quebert giết chết Nola và chôn xác cùng với tập bản thảo. Có thể là vì hối hận. Đó là cuốn sách viết về chuyện tình của họ, và mối tình ấy đã giết chết Nola.
– Điều gì khiến anh nói như vậy?
– Có một dòng chữ viết tay trên bản thảo.
– Dòng chữ viết tay? Dòng chữ viết tay thế nào?
– Tôi không thể nói cho anh biết được. Đây là tin mật.
– Trời đất, thôi đi, đừng bày trò nữa trung sĩ! Hoặc là anh đã nói quá nhiều với tôi hoặc là anh nói vẫn không đủ: anh không thể lợi dụng núp đằng sau cái bí mật của cuộc điều tra để tránh phiền toái.
Trung sĩ thở dài, nhân nhượng.
– Viết rằng: Vĩnh biệt, Nola yêu quý.
Tôi lặng im không thốt ra được nửa lời. Nola yêu quý. Không phải đó chính là những chữ mà Nola đòi Harry phải nói khi họ ở Rockland đó sao? Tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh.
– Thế các anh định làm gì với dòng chữ này? Tôi hỏi.
– Chúng tôi sẽ cho chuyên gia phân tích nét chữ. Hi vọng có thể rút ra được gì thêm.
Tôi hoàn toàn mất phương hướng trước phát giác này. Nola yêu quý. Đó chính xác là những chữ mà chính Harry đã nói, những chữ mà tôi đã ghi âm.
Suốt cả buổi tôi tôi đắm chìm trong suy nghĩ, chẳng biết còn có thể làm gì. Đúng lúc chuông điểm 21 giờ, tôi nhận được cuộc điện thoại của mẹ tôi. Hiển nhiên là tivi đã đưa tin về vụ hỏa hoạn. Mẹ tôi nói:
– Nhân danh Chúa, Markie, con định chết vì tên tội phạm quỷ quyệt này sao?
– Bình tĩnh đi mẹ, bình tĩnh nào.
– Ở đây người ta chỉ nói đến con thôi, mà không phải bằng những thuật ngữ hay ho gì cho cam. Không biết con có hiểu ý mẹ không. Ở khu nhà mình, người ta bắt đầu xì xào…Họ thắc mắc tại sao con lại ngoan cố ở bên Harry.
– Không có Harry, con không bao giờ trở thành nhà văn lớn Goldman, mẹ ạ.
– Con có lí: không có gã này, con đã trở thành nhà văn rất rất lớn. Kể từ khi bắt đầu kết giao với ông ta ở trường đại học, con đã thay đổi. Con là Siêu Nhân, Markie ạ.
– Mẹ… Chả bao giờ có Siêu Nhân cả.
– Không bao giờ có Siêu Nhân ư? Không bao giờ có Siêu Nhân á? (Bà gọi bố tôi). Nelson, anh đến đây! Markie bảo con nó chưa bao giờ là Siêu Nhân này. (Tôi nghe thấy bố tôi lẩm bẩm gì đó nghe không rõ ở phía sau). Đấy, con nghe thấy chưa, bố con cũng bảo, lúc ở trường trung học, con đã từng là Siêu Nhân. Hôm qua, mẹ gặp thầy hiệu trưởng cũ của con hỏi cấp ba. Ông ấy nói với mẹ, ông ấy vẫn giữ kỉ niệm tuyệt vời về con… Mẹ thấy ông ấy suýt bật khóc, vì ông ấy vô cùng cảm động. Thế còn con thì sao? Tại sao con lại chạy theo ông thầy giáo già thay vì chạy đi tìm vợ? 30 tuổi rồi mà con vẫn chưa cưới vợ! Con muốn cho bố mẹ chết mà không được nhìn thấy con cưới vợ hả?
– Mẹ mới có 52 tuổi thôi, mẹ ơi. Chúng ta vẫn còn nhiều thời gian mà.
– Đừng có triết lí linh tinh nữa! Lại là những thứ học được từ ông thầy Quebert kinh khủng đấy hả. Tại sao không lo tìm về đây cho bố mẹ một phụ nữ trẻ đẹp hả?
– Gần đây con chả gặp được ai cả, mẹ à… Rồi lại còn cả cuốn sách, các buổi thuyết trình, rồi lại lo cuốn sách tới.
– Lại lí do lí trấu rồi! Thế cuốn sách tới của con thế nào? Con sẽ viết về cái gì đây? Về truyện tình dục đồi trụy hả? Mẹ không còn nhận ra con nữa đấy… Markie yêu của mẹ, mẹ phải hỏi con cái này: con phải lòng Harry à? Con có quan hệ đồng tính với ông ta à?
– Không, tuyệt đối không!
Tôi nghe mẹ tôi nói với bố tôi: “Nó nói là không. Thế có nghĩa là có”. Rồi mẹ tôi đổi giọng thì thầm hỏi tôi:
– Con có bị bệnh không con? Mẹ của con vẫn yêu con ngay cả khi con mắc bệnh.
– Cái gì cơ ạ? Bệnh gì cơ ạ?
– Bệnh đàn ông dị ứng phụ nữ.
– Mẹ hỏi là con có bị đồng tính không đấy à? Không. Mà ngay cả khi điều này là sự thật, thì cũng không có gì xấu cả. Nhưng mà con yêu giới nữ, mẹ ạ.
– Giới nữ? Thế nghĩa là sao? Giới nữ? Con phải biết hài lòng với việc chỉ yêu một người phụ nữ duy nhất thôi rồi kết hôn với người đó. Có phải con luôn bị tình dục ám ảnh không hả Markie? Con có muốn hẹn gặp bác sĩ tâm lí để chữa bệnh không?
Rốt cuộc tôi dập máy, vô cùng thất vọng. Tôi cảm thấy cực kỳ cô độc. Tôi vào phòng làm việc của Harry và ngồi đó, bật máy ghi âm lên nghe lại giọng của thầy. Tôi cần có một yếu tố mới, một bằng chứng cụ thể để đổi hướng cuộc điều tra, một cái gì đó có thể soi sáng đôi chút bảng xếp hình đang làm tôi mụ mị cả đầu óc. Bảng xếp hình mà tôi đang gắng giải quyết cho đến tận bây giờ, chỉ nhờ mỗi vào Harry, tập bản thảo viết tay và bộ hài cốt của một đứa bé gái. Càng nghĩ, tôi càng rơi vào trạng thái kì lạ đã từ lâu rồi tôi không biết đến: tôi muốn viết. Viết những điều tôi đang sống, đang trải qua và cảm nhận. Các ý tưởng mau chóng đến trong đầu tôi. Hơn cả một mong muốn, tôi cảm nhận rõ một nhu cầu được viết. Tình trạng này không xảy đến với tôi đã năm rưỡi nay. Như mỏm núi lửa bỏng bất ngờ thức dậy và sẵn sàng nổ tung. Tôi vội vàng lấy máy tính xách tay; sau giây lát do dự không biết phải bắt đầu câu chuyện thế nào, tôi bắt đầu gõ những dòng đầu tiên và sau này nó dần dần trở thành cuốn sách tiếp theo của tôi:
Mùa xuân năm 2008, tức là gần một năm sau khi tôi trở thành ngôi sao mới nổi của nền văn học nước Mỹ, đã xảy ra một sự kiện mà tôi quyết chôn chặt trong trí nhớ: tôi phát hiện ra thầy giáo đại học của tôi, Harry Quebert, 67 tuổi, một trong những nhà văn được tôn trọng nhất đất nước, trước đây khi ở độ tuổi 34, từng có quan hệ với một bé gái 15 tuổi. Câu chuyện này kéo dài suốt mùa hè năm 1975.
* * *
Thứ Ba ngày 24 tháng Sáu năm 2008, bồi thẩm đoàn nhân dân đã khẳng định cơ sở đúng đắn của những lời buộc tội do văn phòng công tố đưa ra và chính thức kết tội Harry bắt cóc đồng thời một lúc giết chết hai mạng người. Khi Roth cho tôi biết quyết định của bồi thẩm đoàn, tôi nổi cơn thịnh nộ trên điện thoại: “Có vẻ như rõ ràng anh học luật, vậy thử giải thích cho tôi xem dựa trên cơ sở nào mà họ kết luận ngu như lừa thế?” Câu trả lời thật đơn giản: dựa vào hồ sơ của cảnh sát. Vì chúng tôi ở phía bị cáo, nên khi có lời cáo buộc Harry thì chúng tôi được phép tra cứu hồ sơ. Cả buổi sáng tôi cùng với Roth nghiên cứu các tài liệu bày la liệt trên bàn, càng xem thì anh ta càng nhân nhó kêu ca không ngớt: “Ôi giời ơi, không hay rồi, không hay tí nào”. Tôi vặc lại: “Không hay chẳng có nghĩa gì cả: chính anh là người phải chứng minh là có hay, phải vậy không?”. Anh ta trả lời tôi bằng những cái nhăn mặt bối rối làm cho niềm tin vào tài năng luật sư của anh ta trong tôi giảm dần.
Tập hồ sơ bao gồm những bức ảnh, những bằng chứng, các báo cáo, thẩm tra, tóm tắt các buổi hỏi cung. Một phần của đống tài liệu này được gom từ năm 1975: các bức ảnh chụp ngôi nhà của Deborah Cooper, thi thể của bà nằm dài trên nền phòng bếp, ngập trong vũng máu, cuối cùng là nơi có nhiều vết máu được tìm thấy trong rừng, những lọn tóc, những mảnh vải. Sau đó, chúng tôi làm một cuộc hành trình vượt thời gian 33 năm sau đó để đến Goose Cove, nơi có thể thấy nằm sâu dưới cái hố do cảnh sát đào là một bộ hài cốt trong tư thế nằm của thai nhi. Đôi chỗ, thịt còn bám lại trên xương, vài sợi tóc còn bám ở phần phía trên cao của hộp sọ; bộ hài cốt mặc chiếc váy đã bị phân hủy một nửa, bên cạnh là chiếc túi da trứ danh. Tôi thấy buồn nôn.
– Đây là Nola à? Tôi hỏi.
– Đúng cô ấy đấy. Chính trong túi này có tập bản thảo của Quebert. Chỉ có mỗi tập bản thảo thôi, không còn gì khác. Khám sát viên nói nếu một bé gái bỏ nhà đi thì không có chuyện không mang theo gì như vậy.
Báo cáo khám nghiệm tử thi cho thấy có miếng vỡ lớn trên đỉnh đầu. Nola đã bị đánh một cú chí mạng làm vỡ cả hộp sọ. Bác sĩ tư pháp cho rằng kẻ giết người sử dụng gậy nặng hoặc một vật gì đó tương tự như gậy đánh bóng chày hay dùi cui.
Sau đó, chúng tôi đọc tất cả lời khai của các nhân chứng xoay quanh vụ án, lời khai của người làm vườn, của Harry, đặc biệt nhất là bản khai có chữ kí tay của bà Tamara Quinn, khẳng định trước trung sĩ Gahalowood đã phát hiện và có bằng chứng vào thời kì Harry phải lòng Nola nhưng sau đó bằng chứng đó biến mất, do vậy không ai còn tin bà nữa.
– Bằng chứng của bà ta có đáng tin cậy không? Tôi lo lắng hỏi.
– Dưới con mắt của những người xử án thì có, Roth nói. Tôi chẳng có gì để có thể bào chữa cho lời buộc tội đó, ngay chính Harry cũng thừa nhận có quan hệ với Nola trong lúc bị hỏi cung.
– Vậy trong tập tài liệu này có chi tiết nào là không buộc tội ông ấy?
Về chuyện này, Roth cũng có ý tưởng riêng: anh ta tìm trong đống tài liệu và giơ ra cho tôi xem một xấp giấy dày dính với nhau bằng băng dính.
– Đây là bản sao của bộ bản thảo trứ danh đó, anh ta nói với tôi.
Trang bọc bên ngoài trắng tinh, không có tựa đề: rõ ràng chỉ sau này Harry mới có ý tưởng về tựa đề. Nhưng ở giữa trang có ba từ rõ ràng viết tay bằng mực màu xanh lơ:
Vĩnh biệt, Nola yêu quý.
Roth bắt đầu thuyết minh một tràng dài. Anh ta dự định sử dụng bản thảo này làm bằng chứng chính để chứng minh việc buộc tội Harry là sai lầm thô thiển của văn phòng công tố: người ta sẽ giám định nét chữ, ngay lập tức chuyện sẽ được làm rõ ràng-anh ta tin chắc Harry sẽ được minh oan toàn bộ bản kết tội sẽ sụp đổ như lâu đài xây bằng các quân bài.
– Đây là quân át chủ bài của tôi trong lập luận bảo vệ Harry, anh ta nói vẻ đắc thắng. Thêm chút may mắn, có thể chúng ta sẽ không cần phải ra tòa.
– Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu như mấy chữ kia được giám định chính là của Harry, - tôi hỏi.
Roth nhìn tôi với vẻ mặt quá nực cười:
– Trò khỉ gì thế?
– Tôi phải thông báo cho anh vài thông tin nghiêm trọng: Harry kể với tôi rằng ông ấy đã đi chơi cả ngày ở Rockland với Nola, cô ấy đã yêu cầu Harry gọi mình là Nola yêu quý.
Roth tái mặt, nói với tôi: “anh phải hiểu là, bằng cách này hay cách khác mà ông ta chính là tác giả của những lời nói đó”, thậm chí còn chưa nói hết câu, anh ta đã gói ghém hết tất cả tài liệu, kéo ngay tôi đến nhà tù bang. Roth không còn có thể tự kiềm chế.
Ngay khi vừa mới vào phòng dành cho người nhà thăm tù nhân, Roth liền giơ tập bản thảo ra ngay trước mặt Harry, hét lên:
– Nola yêu cầu ông phải gọi cô ta là Nola yêu quý à?
– Đúng vậy, Harry cúi đầu trả lời.
– Thế ông có nhìn thấy cái gì viết ở đây không? Ngay trang đầu tiên của tập bản thảo chết tiệt này! Ông định khi nào thì mới nói cho tôi biết chuyện, rõ thật là cả đống cứt thối.
– Tôi cam đoan với anh đó không phải của tôi. Tôi không giết cô ấy! Tôi không giết Nola! Nhân danh Chúa, anh biết rõ điều đó phải không nào? Anh biết rõ tôi không phải là kẻ giết trẻ con!
Roth bình tĩnh trở lại và ngồi xuống.
– Chúng tôi biết rõ điều đó, Harry a, anh ta nói. Nhưng tất cả sự trùng hợp này thật là khó giải thích. Bỏ nhà ra đi cái từ này… Còn tôi thì phải bảo vệ cái đít của ông trước hội đồng toàn các công dân gương mẫu chỉ muốn xử trảm ông ngay lập tức, trước cả khi mở phiên tòa.
Vẻ mặt Harry nom thật kinh khủng. Ông đứng lên, quay tròn trong căn phòng nhỏ xíu bằng bê tông.
– Cả đất nước này đứng lên chống lại tôi. Rồi sắp tới, cả đất nước này đòi giết tôi, nếu bây giờ còn chưa giết ngay được mọi người sử dụng các ngôn từ mà bản thân họ thậm chí còn không hiểu hết nghĩa khi nói về tôi: trụy lạc, đồi trụy, lạm dụng tình dục trẻ con, vô đạo đức. Họ làm dơ bẩn tên tôi, đốt sách của tôi. Nhưng anh phải biết và tôi cũng nhắc lại với anh lần cuối cùng: tôi không phải loài quỷ dữ. Nola là người phụ nữ duy nhất tôi yêu. Bất hạnh cho tôi khi nàng mới có mười lăm tuổi. Tình yêu, mẹ kiếp, không thể ra lệnh được!
– Nhưng người ta đang nói về cô gái mười lăm tuổi! Roth tức tối.
Harry ngơ ngác, ông quay lại phía tôi.
– Anh cũng nghĩ thế à Marcus?
– Harry, điều khiến em bối rối là thầy không bao giờ nói cho em biết toàn bộ chuyện này… Chúng ta là bạn của nhau từ 10 năm nay, thầy không bao giờ nhắc đến cái tên Nola. Thế mà em cứ đinh ninh chúng ta là người thân…
– Nhưng nhân danh Chúa, tôi phải nói cho anh nghe cái gì mới được chứ? “À, Marcus yêu quý, thật ra, tôi chưa nói cho anh biết rằng vào tháng Năm năm 1975, khi đến Aurora, tôi đã yêu một đứa trẻ mười lăm tuổi, một đứa trẻ làm thay đổi cả cuộc đời tôi nhưng sau ba tháng, cô ấy mất tích vào một buổi tối cuối mùa hè. Tôi vẫn còn rất đau về chuyện này…”?
Ông giơ chân đá vào chiếc ghế nhựa, rồi cầm nó và lẳng mạnh vào tường.
– Ông Harry, Roth nói. Nếu ông không phải là người viết mấy chữ đó, ông nói thế thì tôi cũng tin thế. Vậy ông có nghĩ ai là người viết mấy chữ đó không?
– Không.
– Ai là người biết chuyện giữa ông và Nola? Tamara Quinn khẳng định bà ấy đã nghi ngờ chuyện này từ lâu.
– Tôi không biết! Có thể Nola đã kể chuyện chúng tôi với bạn gái của cô ấy…
– Nhưng ông có nghi ngờ ai là người có khả năng nhất biết được chuyện này không? - Roth nói tiếp.
Một phút yên lặng. Nhìn Harry buồn bã và đau khổ làm tim tôi đau đớn.
– Nào, Roth nài nỉ để Harry phải nói thêm, tôi cảm thấy ông chưa nói cho tôi hết mọi chuyện. Làm sao ông muốn tôi có thể bảo vệ được ông nếu ông che giấu một số thông tin.
– Có… có những bức thư nặc danh.
– Những bức thư nặc danh nào?
– Ngay sau khi Nola mất tích, tôi bắt đầu nhận được thư nặc danh. Tôi thường thấy chúng được kẹp ở cửa ra vào mỗi khi đi vắng về. Hồi đó, chúng làm tôi kinh hoàng vô cùng. Điều đó có nghĩa là ai đó đang rình mò tôi, theo dõi tôi mỗi khi tôi đi vắng. Có lúc, tôi hoảng sợ vô cùng, đến nỗi mỗi khi tôi nhận được thư nặc danh là ngay lập tức tôi gọi cảnh sát. Tôi báo với họ rằng hình như có kẻ rình trộm, rồi đội 2 cảnh sát đến khiến tôi yên tâm trở lại. Tất nhiên là tôi không thể nói ra lí do thực sự vì sao tôi sợ.
– Nhưng ai có thể là người gửi cho ông những bức thư nặc danh đó? Roth hỏi. Ai biết chuyện giữa ông và Nola?
– Tôi hoàn toàn không biết phải nghi ngờ ai. Dù sao thì chuyện đó chỉ kéo dài 6 tháng rồi chấm dứt.
– Ông có còn giữ những bức thư đó không?
– Có. Ở nhà tôi. Kẹp giữa các trang của quyển bách khoa toàn thư trong phòng làm việc. Tôi nghĩ cảnh sát còn chưa tìm thấy chúng vì không thấy ai nói về chuyện này.
Khi về Goose Cove, tôi lập tức lấy ngay cuốn bách khoa toàn thư mà Harry nhắc tới. Giữa các trang sách, tôi thấy có phong bì bằng giấy cứng, bên trong chứa khoảng chục mẩu giấy nhỏ. Đó là những mẩu tin nhắn trên giấy đã ngả vàng. Các tin nhắn đều như nhau và được đánh máy:
Tôi biết chuyện anh làm với đứa con gái 15 tuổi. Cả thành phố sẽ sớm biết chuyện này.
Nghĩa là có người nào đó biết chuyện giữa Harry và Nola. Có ai đó đã giữ im lặng trong suốt 33 năm nay.
* * *
Trong suốt hai ngày tiếp theo, tôi cố gắng đi hỏi tất cả những người có quen biết trực tiếp và gián tiếp với Nola. Erne Pinkas, một lần nữa, đã cho tôi sự giúp đỡ quý giá trong việc này: khi tìm thấy trong kho thông tin lưu trữ của thư viện cuốn kỉ yếu của trường trung học Aurora năm 1975, với cuốn sổ danh bạ và internet, tôi dựng lên được danh sách các thông tin liên lạc hiện tại của phần lớn những người bạn học cùng lớp với Nola hiện đang còn sinh sống trong vùng. Không may là hướng nghiên cứu này không mang lại kết quả khả quan: hiện nay, tất cả những người này đã ở vào tầm tuổi năm mươi, nhưng chỉ có thể kể lại cho tôi nghe toàn những kỉ niệm trẻ con, không có ích gì giúp cho cuộc điều tra có thể tiến triển thêm. Đến tận khi tôi phát hiện ra trong danh sách một cái tên mà không phải là tôi không biết: Nancy Hattaway. Chính là tên của người bạn mà Harry đã nói với tôi rằng Nola dùng làm bằng chứng ngoại phạm cho vụ đi chơi bí mật của họ ở Rockland.
Theo thông tin ông Pinkas cung cấp, Nancy Hattaway hiện làm chủ một cửa hàng may vá và ghép vải tạo hình, nằm trong khu tổ hợp công nghiệp phía ngoại ô, trên đường 1 theo hướng đi Massachusetts. Lần đầu tiên tôi đến đó là thứ Năm ngày 26 tháng Sáu năm 2008. Cửa hàng rất đẹp, phía trước sơn màu sặc sỡ, nằm giữa của hàng bán đồ ăn vặt và hàng tạp hóa. Người duy nhất tôi thấy trong cửa hàng là một phụ nữ khoảng năm mươi, tóc ngắn muối tiêu. Bà đeo kính lão, ngồi bên bàn làm việc, chào hỏi tôi rất lịch sự. Sau đó, tôi mới hỏi:
– Có phải cô là Nancy Hattaway?
– Chính là tôi đây, cô ấy vừa trả lời vừa đứng dậy. - Chúng ta có quen biết nhau không nhỉ? Tôi trông anh quen quen.
– Tôi tên là Marcus Goldman. Tôi là…
– Nhà văn, cô Nancy cắt lời tôi. Bây giờ thì tôi nhớ rồi. Có tin đồn anh hỏi rất nhiều về Nola. Cô ấy tỏ ý cảnh giác, nói thêm ngay vẻ rào trước đón sau. Tôi nghĩ anh đến đây không phải để ghép vải.
– Chính xác. Tin đồn tôi hỏi nhiều về cái chết của Nola Kellergan cũng đúng luôn!
– Thế có liên quan gì tới tôi?
– Nếu cô đúng là người tôi nghĩ, thì cô quen biết rất rõ với Nola. Khi các cô mười lăm tuổi.
– Ai nói với anh như vậy?
– Harry Quebert.
Cô Nancy đứng dậy khỏi ghế, đi xăm xăm ra cửa. Tôi nghĩ cô ấy chuẩn bị đuổi tôi ra ngoài, thế nhưng cô lại treo biển “Đóng cửa” lên rồi đẩy then chốt cửa lại. Sau đó, cô ấy quay về phía tôi và hỏi:
– Anh Goldman, anh muốn uống cà phê thế nào?
Chúng tôi ngồi nói chuyện hơn một tiếng đồng hồ phía sau cửa hàng. Đó đúng là Nancy mà Harry đã kể cho tôi nghe, là bạn gái thân của Nola vào thời kì đó. Cô chưa lập gia đình lần nào nên vẫn giữ nguyên tên họ thời con gái.
– Cô chưa bao giờ đi xa khỏi Aurora à? Tôi hỏi.
– Chưa bao giờ. Tôi quá gắn bó với thành phố này. Làm thế nào mà anh tìm ra tôi?
– Chủ yếu nhờ vào internet. Internet tạo ra nhiều điều kì diệu.
Cô tỏ ý đồng tình.
– Thế nào, cô hỏi, cụ thể anh muốn biết điều gì, hả anh Goldman?
– Cứ gọi tôi là Marcus. Tôi cần tìm người kể cho tôi nghe về Nola.
Cô mỉm cười.
– Nola và tôi học chung một lớp hồi cấp ba. Ngay từ khi cô ấy tới Aurora, chúng tôi đã chơi thân với nhau. Chúng tôi còn ở gần nhà nhau, trên Terrace Avenue, cô ấy rất hay tới nhà tôi chơi. Nola bảo cô ấy thích đến nhà tôi vì tôi có một gia đình bình thường.
– Bình thường? Nghĩa là thể nào?
– Tôi nghĩ anh đã gặp cha Kellergan…
– Vâng.
– Cha Kellergan là người đàn ông hà khắc. Khó mà tưởng tượng ông ta lại có đứa con gái như Nola: thông minh, dịu dàng, tốt bụng, luôn cười tươi tắn.
– Điều cô nói với tôi liên quan tới mục sư Kellergan thật là kì lạ, cô Hattaway ạ. Cách đây vài tuần, tôi có gặp ông ấy, tôi có cảm giác ông ấy là người khá dịu dàng.
– Ông ấy có thể tạo ra ấn tượng ấy, ít nhất là trước mặt công chúng. Ông ấy từng được mời tới để cứu vãn cho tòa thánh St James đang dần trở nên hoang phế. Trước đó, có lẽ ông ấy cũng từng làm nên những điều kì diệu ở Alabama. Quả thực, sau khi ông ấy tiếp quản công việc, tòa thánh St James nhanh chóng chật ních con chiên vào mỗi sáng Chủ nhật. Nhưng ngoài chuyện đó ra, thì rất khó mà biết có những chuyện gì thực sự xảy ra trong nhà gia đình Kellergan…
– Cô nói vậy nghĩa là sao?
– Nola bị đánh đập tàn nhẫn.
– Cái gì?
Theo tính toán của tôi, thời kì liên quan đến câu chuyện Nancy Hattaway kể lại diễn ra từ thứ Hai ngày 7 tháng Bảy năm 1975, có nghĩa là đúng vào thời kì mà Harry cố gắng xa lánh Nola.
* * *
Thứ Hai ngày 7 tháng Bảy năm 1975.
Đó đang là kì nghỉ hè. Thời tiết tuyệt đẹp. Nancy tới nhà rủ Nola ra biển. Khi họ đang đi bộ trên Terrace Avenue, bất chợt Nola hỏi:
– Nancy, thử nói thật đi, cậu có nghĩ mình là đứa con gái độc ác không?
– Đứa con gái độc ác á? Không, khiếp quá! Tại sao cậu lại hỏi thế?
– Tại vì ở nhà, bố mẹ bảo mình là đứa con gái độc ác.
– Gì cơ? Sao bố mẹ cậu lại bảo thế?
– Thôi, không có gì quan trọng đâu. Chúng mình đi bơi ở đâu bây giờ?
– Ở bãi biển Grand nhé. Cậu trả lời tớ đi, Nola: Tại sao bố mẹ cậu lại nói như vậy?
– Vì có thể đó là sự thực, Nola trả lời. Có thể là vì chuyện xảy ra khi nhà mình còn ở Alabama.
– Ở Alabama á? Chuyện gì đã xảy ra ở đó?
—Thôi, không quan trọng đâu.
– Trông cậu có vẻ buồn, Nola ạ.
– Mình buồn mà.
– Buồn á? Đang nghỉ hè mà! Sao cậu lại buồn được khi bây giờ đang được nghỉ hè chú?
– Chuyện phức tạp lắm, Nancy ạ.
– Cậu có chuyện gì phải lo lắng à? Nếu có chuyện gì lo lắng, thì kể ra với tớ đi!
– Mình yêu một người mà người đó lại không yêu mình.
– Ai thế?
– Mình không muốn nói.
– Có phải là Cody, thằng lớp 11 cứ đùa đùa cợt cợt với cậu không? Chắc cậu thích nó à! Yêu một thằng lớp 11 thì được cái gì? Mà thằng đấy là thằng đểu, đúng không? Cực đểu là đẳng khác! Cậu biết đấy, chẳng qua nó lọt được vào đội bóng rổ nên có vẻ là thắng tử tế! Thế có phải thứ Bảy vừa rồi cậu đi chơi với nó à?
– Không.
– Thế thì là ai? Thôi nào, nói cho tớ đi. Bọn cậu ngủ với nhau rồi à? Cậu ngủ với đàn ông bao giờ chưa?
– Không! Cậu làm sao thế! Mình giữ cho người đàn ông của cả đời mình chứ!
– Thế cậu đi với ai hôm thứ Bảy vừa rồi?
– Với một người lớn tuổi hơn nhiều. Nhưng thôi, chuyện không quan trọng đâu. Dù sao chăng nữa, anh ấy sẽ chẳng bao giờ yêu mình. Sẽ chẳng bao giờ có ai yêu mình cả.
Cả hai đi tới bãi biển Grand. Bãi biển tuy không phải rất đẹp nhưng được cái vắng người. Từng đợt thủy triều lớn trào lên, bảy đến tám mét mỗi lần; sau khi rút đi còn để lại những bể bơi tự nhiên giữa những mỏm núi đá nhọn đang bị mặt trời hun nóng. Cả hai cô gái đều thích bơi trong những bể nước đó , nhiệt độ của nước ở đây ấm áp dễ chịu hơn nhiều so với nước biển phía ngoài. Vì bãi biển vắng bóng người, nên cả hai chẳng phải trốn vào đâu để thay quần áo bơi, do đó Nancy nhìn thấy trên ngực Nola có những vết bầm tím.
– Nola! Kinh quá! Cậu bị sao thế này?
Nola lấy tay che ngực.
– Cậu đừng nhìn.
– Nhưng tớ thấy rồi mà! Cậu có nhiều vết…
– Không sao đâu.
– Không thể không sao được! Cái gì thế?
– Hôm thứ Bảy, mẹ mình đánh mình.
– Cái gì? Cậu đừng có ăn nói linh tinh
– Thật mà! Chính mẹ mình bảo mình là đứa con gái độc ác.
– Ôi trời ơi, cậu huyên thuyên gì thế ?
– Đó là sự thật! Tại sao chẳng ai chịu tin mình!
Nancy không dám hỏi tiếp nữa, bèn đổi chủ đề. Sau khi bơi xong, cả hai về nhà Hattaway. Nancy lấy kem của mẹ cất ở tủ thuốc trong phòng tắm bôi lên bộ ngực tím xanh của người bạn gái.
– Nola này, Nancy nói, chuyện về mẹ của cậu tớ nghĩ cậu phải nói với ai đó. Ở trường mình, có thể là bà Sanders, y tá.
– Cậu hãy quên chuyện đó đi Nancy nhé. Mình xin cậu đấy.
* * *
Nancy nước mắt lưng tròng khi nghĩ tới mùa hè cuối cùng bên Nola.
– Thế chuyện gì đã xảy ra ở Alabama vậy? Tôi hỏi.
– Tôi không biết gì hết. Tôi không bao giờ biết điều đó. Nola không bao giờ nói cho tôi biết.
– Chuyện có liên quan đến việc họ chuyển nhà không?
– Tôi không biết. Tôi cũng muốn giúp cậu lắm, nhưng tôi thực sự không biết.
– Thế còn nỗi buồn vì yêu mà không được đáp lại, cô có biết là ai không?
– Không, Nancy trả lời.
Tôi ngờ là chuyện liên quan tới Harry, tuy nhiên tôi vẫn cần biết chính Nancy có nghĩ vậy hay không.
– Nhưng nếu như tôi không nhầm thì vào thời kì các cô bàn bạc dùng nhau làm chứng cứ ngoại phạm để đi gặp gỡ bạn trai riêng thì cô cũng biết việc Nola có hẹn hò với người nào đó, - tôi nói.
Nancy mỉm cười.
– Tôi thấy cậu cũng nắm được nhiều thông tin rồi đó… Lần đâu tiên chúng tôi dùng cách đó là để đi chơi một ngày ở Concord. Đối với chúng tôi, Concord là cả chuyến du ngoạn lớn, ở đó, lúc nào cũng có biết bao nhiều điều để làm. Chúng tôi có cảm giác được trở thành những người phụ nữ đích thực. Về sau, chúng tôi có tiếp diễn trò đó. Vào thời kì ấy, tôi làm thế để được một mình đi thuyền với bạn trai; còn đối với Nola Cậu biết đấy, hồi đó, tôi nghi Nola có gặp gỡ với một người đàn ông lớn tuổi hơn. Về chuyện đó, cô ấy chỉ nói rất ỡm ờ.
– Vậy là cô có biết, Nola và Harry Quebert…
Ngay lập tức Nancy đáp lại:
– Lạy Chúa tôi! Không hề!
– Không hề nghĩa là thế nào? Cô vừa nói Nola đi lại với một người đàn ông lớn tuổi hơn.
Cô im lặng ngượng ngùng. Vậy là tôi hiểu rằng Nancy biết một thông tin mà cô hoàn toàn không muốn chia sẻ.
– Người đàn ông ấy là ai? Tôi hỏi. Không phải là Harry Quebert à? Thưa cô Hattaway, tôi biết là cô không quen biết gì tôi, vậy mà tôi tới đây đường đột như vậy, rồi ép cô phải lục lại trí nhớ. Nếu có nhiều thời gian hơn một chút, thì tôi sẽ làm mọi chuyện tốt hơn. Nhưng thời gian rất gấp rút: Harry Quebert đang mòn mỏi trong tù, còn tôi tin chắc rằng ông ấy không giết Nola. Vậy thì nếu như cô nắm được thông tin gì có thể giúp đỡ tôi thì xin cô hãy nói cho tôi biết.
– Tôi hoàn toàn không biết gì về Harry, cô bộc bạch. Nola không bao giờ nói cho tôi biết. Tôi mới biết tin này qua truyền hình cách đây 10 ngày, như tất cả mọi người khác… Nhưng Nola có nói cho tôi biết về một người đàn ông. Vâng, tôi biết Nola có quan hệ với một người đàn ông lớn hơn cô ấy rất nhiều tuổi. Nhưng người đàn ông ấy không phải là Harry Quebert.
Tôi kinh hoàng đến mức không dám tin vào tai mình.
– Trời, vậy chuyện xảy ra vào khi nào?
– Tôi không còn nhớ toàn bộ chi tiết câu chuyện vì nó xảy ra cách đây đã quá lâu, nhưng tôi khẳng định với cậu rằng vào mùa hè năm 1975, mùa hè mà Harry Quebert tới đây, Nola có quan hệ với một người đàn ông khoảng chừng bốn mươi tuổi.
– Bốn mươi tuổi? Thế cô có còn nhớ tên của người đó không?
– Ôi, điều đó thì làm sao tôi có thể quên được. Người đàn ông đó là Elijah Stern, hắn là người giàu có nhất bang New Hampshire.
– Elijah Stern?
– Chính vậy. Cô ấy kể là cô ấy phải cởi hết quần áo, phải vâng lời ông ta, và để cho ông ta hành động. Cô ấy phải tới nhà ông ấy ở Concord. Stern cho tay sai đi đón cô ấy, một tay khá là kì cục, tên là Luther Caleb. Người này đến đón cô ấy ở Aurora rồi dẫn tới nhà của Stern. Tôi biết chuyện này vì chính mắt tôi trông thấy.