“Chương 2 của cuốn sách rất quan trọng, Marcus ạ. Chương 2 phải sắc và mạnh.
– Kiểu như thế nào hả thầy Harry?
– Như đấm bốc ấy. Anh thuận tay phải, nhưng thế tự vệ của anh lúc nào cũng phải là nắm đấm trái: cú đầu tiên nhắm thẳng vào mặt đối thủ, cú tiếp theo là nắm đấm phải, cần mạnh để hạ gục đối thủ. Chương 2 của anh cũng vậy: một cú đấm phải vào quai hàm độc giả.”
Chuyện xảy ra vào thứ Năm ngày 12 tháng Sáu năm 2008. Tôi ở trong nhà suốt buổi sáng, đang đọc sách ở phòng khách. Bên ngoài trời mưa nhưng nóng: kể từ ba ngày nay, New York đang tắm mình bởi những cơn mưa nóng ẩm. Vào khoảng 13 giờ, có chuông điện thoại reo. Tôi nhấc máy trả lời, thoạt đầu tôi tưởng không có ai ở đầu dây bên kia. Sau đó, tôi nghe rõ tiếng nức nở nghẹn lại.
– Alô? Alô? Ai đấy? tôi hỏi.
– Cô ấy… cô ấy đã chết.
Giọng nói kìm nén thật khó nghe nhưng tôi nhận ra ngay lập tức.
– Thầy Harry, thầy Harry, thầy phải không?
– Cô ấy chết rồi, Marcus.
– Chết? Ai chết?
– Nola.
– Cái gì? Thế là thế nào?
– Cô ấy đã chết, tất cả là lỗi tại tôi, Marcus ạ… Tôi đã làm gì, trời ơi, tôi đã làm gì?
Ông đang khóc.
– Thầy Harry, thầy đang nói về điều gì vậy? Thầy nói cho em biết đi.
Nhưng ông đã gác máy. Tôi gọi lại nhà thầy ngay lập tức nhưng ông không trả lời. Gọi vào di động, thầy cũng không nghe máy. Tôi thử gọi lại nhiều lần nữa, để lại nhiều tin nhắn trên điện thoại. Nhưng vẫn chẳng có tin phản hồi. Tôi vô cùng lo lắng. Lúc đó tôi không biết là Harry gọi cho tôi từ đồn cảnh sát bang ở thành phố Concord. Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra cho đến tận khoảng 16 giờ, Douglas gọi điện cho tôi.
– Marc, ôi trời, cậu biết gì không? Anh ta gào thất thanh.
– Biết cái gì?
– Ôi trời ơi, bật tivi lên đi! Chuyện về Harry Quebert! Về Quebert đấy!
– Quebert? Quebert cái gì?
– Bật tivi lên đi trời ạ!
Ngay lập tức tôi mở tivi, xem một kênh thông tin bất kì. Tôi quả đỗi ngạc nhiên khi trên màn hình đang hiện lên những hình ảnh ở Goose Cove, giọng cô phát thanh viên giảng giải: Chính tại đây, trong ngôi nhà này ở thành phố Aurora, thuộc bang New Hampshire, là nơi nhà văn Harry Quebert hôm nay vừa bị bắt sau khi cảnh sát đã đào được một bộ hài cốt trong dinh thự của ông. Theo những yếu tố ban đầu của cuộc điều tra, đây có thể là xác chết của Nola Kellergan, một thiếu nữ trong vùng đã bị mất tích vào tháng Tám năm 1975 lúc mới mười lăm tuổi. Từ đó đến nay, vẫn chưa ai biết chuyện gì đã xảy ra… Bất chợt, mọi thứ quanh tôi quay cuồng; tôi ngã gục xuống tràng kỉ, choáng váng kinh ngạc. Tôi không còn nghe được gì hết: cả tiếng ti vi lẫn tiếng Douglas, ở đầu kia của đường dây điện thoại đang rống lên: “Marcus, cậu vẫn còn ở đấy chứ, Alô? Ông ta đã giết một bé gái à? Ông ta đã giết cô bé đó à?” Trong đầu tôi, mọi thứ lẫn lộn, như trong một cơn ác mộng.
Vậy là cùng lúc với cả nước Mỹ cũng đang sững sờ kinh ngạc, qua truyền hình tôi biết được câu chuyện vừa xảy ra trước đó vài giờ: vào đầu giờ sáng, theo yêu cầu của Harry, một công ty cây xanh đã đến Goose Cove để trồng cẩm tú cầu trong vườn nhà ông. Khi đào đất trồng cây, những người thợ làm vườn đã phát hiện ra bộ xương người được chôn ở độ sâu một mét và ngay lập tức báo cảnh sát. Một bộ xương người hoàn chỉnh đã nhanh chóng được mang ra ánh sáng và Harry bị bắt.
Mọi thứ xảy ra quá nhanh. Người ta thay nhau truyền hình trực tiếp từ Aurora về những thông tin xoay quanh vụ án, từ thành phố Concord, thủ phủ bang New Hampshire, nằm cách đó sáu mươi dặm về phía đông bắc, nơi Harry từ bây giờ bị giam giữ trong nhà tù dành cho tội phạm địa phương của cảnh sát bang. Nhiều nhóm nhà báo đã đến hiện trường để theo dõi sát cuộc điều tra. Có vẻ như người ta đã tìm thấy cùng với bộ hài cốt, một yếu tố nào đó cho phép suy luận một cách nghiêm túc rằng đây chính là hài cốt của Nola Kellergan; một quan chức cảnh sát đã chỉ ra rằng nếu thông tin này được khẳng định thì điều đó có nghĩa là Harry Quebert cũng bị coi là đối tượng tình nghi về cái chết của một người có tên là Deborah Cooper, người cuối cùng nhìn thấy Nola còn sống vào ngày 30 tháng Tám năm 1975, bị giết hại cùng ngày sau khi gọi báo cảnh sát về Nola. Câu chuyện thực sự đáng kinh ngạc. Tin đồn càng ngày càng bùng lên mạnh mẽ; thông tin lan truyền khắp đất nước bằng nhiều phương tiện như ti vi, đài internet và cả các mạng xã hội: Harry Quebert, sáu mươi bảy tuổi, một trong những tác giả lớn của nửa sau thế kỉ, lại là một kẻ giết trẻ vị thành niên kinh tởm.
Phải rất lâu sau đó, tôi mới ý thức được điều gì đang xảy ra: có thể là rất nhiều giờ sau đó. Vào lúc 20 giờ, khi Douglas đến tận nhà tôi vì quá lo lắng, kiểm tra xem tôi có chịu đựng được cú sốc này không, thì tôi vẫn cứ tin chắc có điều gì đó nhầm lẫn. Tôi nói:
– Thế là thế nào, làm sao có thể kết tội ông ấy giết chết một lúc hai mạng người trong khi thậm chí người ta còn chưa chắc chắn đó là hài cốt của Nola!
– Dù sao thì cũng có bộ hài cốt chôn trong vườn nhà ông ấy!
– Thế tại sao ông ấy lại cho người đào bới đúng cái chỗ mà gọi là được chôn cái xác chết ấy? Vô lí thật đấy, mình phải đi đến đó mới được.
– Cậu đi đâu?
– Đến bang New Hampshire. Mình phải đi bảo vệ Harry.
Douglas trả lời một cách rất thực tế đúng cái chất của người bản xứ Midwest:
– Không được, Marc. Đừng có đi đến đấy. Đừng có đi nhúng mũi vào cái đống cứt thối hoắc đấy…
– Harry đã gọi điện cho mình.
– Lúc nào? Hôm nay à?
– Vào khoảng 1 giờ chiều nay. Mình nghĩ đó là cú điện thoại duy nhất mà nghi phạm được quyền gọi. Mình phải đi bảo vệ ông ấy. Đây là việc quan trọng.
– Quan trọng á? Việc quan trọng là cuốn sách thứ hai của cậu. Hi vọng là cậu không cho tớ ăn quả lừa đấy chứ, cậu phải có bản thảo nộp vào cuối tháng. Barnaski chuẩn bị thải cậu rồi đấy. Cậu có ý thức hết được những điều sẽ xảy ra với Harry không? Đừng có nhúng tay vào đống phân thối ấy, Marc, cậu còn quá trẻ! Đừng tự hủy hoại sự nghiệp của mình.
Tôi không trả lời. Trên tivi, trợ lí của người đại diện cho cơ quan pháp luật Nhà nước vừa mới phát biểu trước cánh nhà báo. Ông ta liệt kê tất cả các tội danh đang đè lên vai Harry: kẻ bắt cóc nguy hiểm nhất, thủ phạm hai vụ giết người liên tiếp nguy hiểm nhất. Harry đã chính thức bị buộc tội ám sát Deborah Cooper và Nola Kellergan. Với hai tội danh bắt cóc và giết người, Harry có thế phải chịu án tử hình.
Vận hạn của Harry mới chỉ bắt đầu. Ngày hôm sau, hình ảnh những phiên họp đầu tiên của tòa được lan ra khắp đất nước. Dưới hàng chục máy quay và hàng loạt tia sáng flash của máy ảnh, người ta thấy hình ảnh Harry đang tiến ra bục bị cáo, tay bị còng và xung quanh là cảnh sát. Ông có vẻ rất căng thẳng: nét mặt tối tăm, râu mọc lởm chớm không cạo, đôi mắt sưng húp sụp, tóc tai bù xù, cúc áo sơ mi mở tung. Luật sư của ông, Benjamin Roth, ngồi bên cạnh. Roth là một luật sư nổi tiếng ở Concord, trước kia rất hay được nhờ đến và đôi khi tôi cũng có gặp ở Goose Cove nên cũng hơi quen biết ông ta.
Hệ thống truyền hình kì diệu đã cho phép cả nước Mỹ được theo dõi trực tiếp vụ xét xử cho thấy Harry phản đối các tội danh mà người ta đang cáo buộc, hội đồng phán xử tuyên bố tạm giam Harry trong khu tù nhân có địa vị của bang New Hampshire. Đây mới chỉ là khởi đầu của trận bão tố: lúc này, tôi vẫn còn nuôi hi vọng ngây ngô vào một giải pháp nhanh chóng, nhưng một tiếng sau khi phiên tòa diễn ra, tôi nhận được cú điện thoại từ Benjamin Roth.
– Harry đưa cho tôi số điện thoại của anh. Ông ta nài nỉ tôi gọi điện cho anh, ông ấy muốn nhắn rằng ông ấy vô tội, rằng ông ấy không giết bất kì ai.
– Tôi biết rõ là ông ấy vô tội! Tôi trả lời. Tôi tin chắc chắn như vậy. Tình hình ông ấy thế nào?
– Rất tồi tệ. Như anh có thể tưởng tượng đấy. Cảnh sát đang gây áp lực cho ông ấy. Ông ấy đã thú nhận mối quan hệ với Nola vào mùa hè trước khi cô này biến mất.
– Tôi biết chuyện với Nola, nhưng còn các chuyện khác thì sao?
Roth lưỡng lự một giây trước khi trả lời:
– Tôi thì tôi phủ định, nhưng… Anh ta ngập ngừng.
– Nhưng cái gì? Tôi lo lắng hỏi.
– Marcus, tôi không giấu anh nhưng quả thực việc này quá khó. Tình hình rất nghiêm trọng, họ có bằng chứng chết người.
– Ý anh là thế nào mà anh bảo bằng chứng chết người? Nói cho rõ ràng nào, trời ạ!
– Chỉ giữa tôi và anh thôi nhé. Không ai được biết đấy.
– Tôi sẽ không nói gì. Anh có thể tin tưởng ở tôi.
– Cùng với hài cốt, cảnh sát còn tìm thấy cả bản thảo viết tay của cuốn Nguồn gốc cái xấu xa.
– Cái gì?
– Như tôi đã nói với anh đấy: bản thảo gốc của cái quyển sách chết tiệt kia được chôn cùng với cô ta. Harry đang nằm giữa một đống phân thối hoắc. Thật là nan giải.
– Thế ông ấy giải thích thế nào?
– Ờ, Harry bảo rằng ông ấy viết cuốn sách đó vì cô ta. Cô ta lúc nào cũng ở nhà ông ấy ở Goose Cove, thỉnh thoảng có mượn mấy trang mang về đọc. Nhưng mấy ngày trước khi cô ta biến mất, toàn bộ bản thảo cũng bị cô ta mang đi.
– Gì cơ? Tôi kêu lên. Ông ấy đã viết cuốn sách này vì cô bé ấy ư?
– Đúng. Bằng bất cứ giá nào, tin này cũng không được lan ra. Tôi để cho anh tưởng tượng xì căng đan sẽ nổ ra như thế nào nếu giới truyền thông biết rằng một trong những cuốn sách bán chạy nhất trong vòng năm mươi năm gần đây của nước Mỹ không đơn thuần là một câu chuyện tình như mọi người vẫn tưởng tượng, mà là kết quả của mối quan hệ yêu đương bất chính giữa một gã đàn ông ba mươi tư và một con bé mười lăm tuổi…
– Anh có nghĩ chúng ta có thể xin thả tự do cho Harry nếu chấp nhận trả tiền cọc không?
– Trả một khoản đặt cọc á? Marcus à, anh chưa hiểu hết được tính nghiêm trọng của vụ việc rồi: không có chuyện xin thả tự do bằng cách trả tiền cọc khi dính vào án mạng. Harry có nguy cơ bị tử hình. Khoảng chục ngày nữa, ông ta sẽ bị giải ra trước hội đồng thẩm phán cấp cao hơn, họ sẽ quyết định việc truy cứu trách nhiệm và đưa ông ấy ra tòa. Thường đó chỉ là thủ tục thôi, còn chẳng nghi ngờ gì nữa, ông ấy sẽ phải bị đưa ra tòa xét xử. Khoảng sáu tháng, có thể là một năm nữa.
– Thế trong thời gian đó thì sao?
– Thì ông ấy ngồi tù và đợi.
– Thế nếu ông ấy vô tội?
– Đây là luật rồi. Tôi nhắc lại với anh là tình hình rất nghiêm trọng. Người ta kết tội ông ấy giết hai mạng người.
Tôi đổ sụp xuống chiếc ghế dài.
– Tôi cần phải nói chuyện với Harry. Hãy bảo ông ấy gọi điện cho tôi! Tôi năn nỉ Roth. Rất quan trọng đấy.
– Tôi sẽ chuyển cho ông ấy tin nhắn của anh.
– Hãy nói với ông ấy rằng tôi nhất thiết phải nói chuyện với ông ấy và tôi đợi điện thoại của ông ấy.
Ngay khi dập máy, tôi vào giá sách lấy ra cuốn Nguồn gốc cái xấu xa. Ở trang đầu tiên của cuốn sách có dòng đề tặng của tác giả:
Tặng Marcus, cậu học trò xuất sắc nhất của tôi với tình bạn chân thành nhất. HLQuebert, tháng Năm năm 1999.
Tôi vùi đầu vào đọc cuốn truyện mà từ nhiều năm nay tôi không thèm giở ra. Đó là một câu chuyện tình, đan xen giữa các tình tiết của truyện với các mẩu tin nhắn và thư từ; câu chuyện về một người đàn ông và một người đàn bà yêu nhau tha thiết mà không thực sự có quyền được yêu. Vậy là Harry viết cuốn truyện này cho người con gái bí ẩn mà tôi chưa hề hay biết. Đến giữa đêm khuya khi đọc xong, tôi suy nghĩ rất lâu về tựa đề của nó. Và cũng là lần đầu tiên, tôi tự hỏi về ý nghĩa của tựa đề này: tại sao lại là Nguồn gốc cái xấu xa? Cái xấu xa mà Harry muốn nói ở đây là gì?
* * *
Ba ngày trôi qua, trong ba ngày đó người ta tiến hành phân tích ADN và mẫu răng đã cho phép khẳng định hài cốt phát hiện ở Goose Cove chính xác là bộ xương của Nola Kellergan. Việc khám nghiệm bộ xương cũng cho phép khẳng định đây là hài cốt của một bé gái mười lăm tuổi, điều này cho thấy thời điểm Nola chết đúng vào lúc mất tích. Đặc biệt vết vỡ phía sau hộp sọ đã cho phép khẳng định chắc chắn, ngay cả sau đó ba mươi năm, rằng nạn nhân đã chết bởi ít nhất một cú đánh giáng vào đầu: Nola Kellergan đã bị đánh tới chết.
Tôi không có bất kì tin tức gì về Harry. Mặc dù tôi đã cố gắng liên lạc thông qua cảnh sát bang, nhà tù và cả Roth nữa, nhưng chẳng mang lại kết quả nào. Tôi bí bức trong phòng, đi đi lại lại, quay cuồng vì hàng nghìn câu hỏi, tôi đau khổ dằn vật vì cú điện thoại bí ẩn của ông. Rốt cuộc đến cuối tuần, không chịu nổi nữa, tôi coi như không còn lựa chọn nào ngoài việc đích thân đi xem điều gì đang xảy ra ở bang New Hampshire.
Lúc 1 giờ sáng thứ Hai ngày 16 tháng Sáu năm 2008, tôi xếp vali vào cốp xe Range Rover và rời Manhattan bằng đường Franklin Roosevelt men theo sông Đông. Bên ngoài xe, New York dần dần bị lùi lại phía sau: Harlem, le Bronx, trước khi đi trên đường 1-95 hướng thẳng về phía Bắc. Chỉ đến lúc tôi đã tiến sâu vào New York và không còn có nguy cơ bị thuyết phục phải bỏ cuộc để ngoan ngoãn quay trở về nhà, thì tôi mới gọi điện thông báo cho bố mẹ là mình đang trên đường tới bang New Hampshire. Mẹ tôi nói rằng tôi bị điên:
– Con đang làm cái gì thế hả Markie? Con đi bảo vệ cho cái tên tội phạm dã man đó hả?
– Mẹ ơi, không phải là tên tội phạm dã man. Mà là một người bạn.
– Hay hớm chửa, bạn bè của con toàn là bọn tội phạm! Bố đang đứng cạnh mẹ đây, bố bảo con chạy trốn khỏi New York là vì cuốn sách.
– Con không chạy trốn.
– Thế con chạy trốn vì phụ nữ à?
– Con đã nói với mẹ là con không chạy trốn cơ mà. Hiện tại thì con không có người phụ nữ nào cả mẹ ạ.
– Thế khi nào thì con có người yêu? Mẹ đang nghĩ tới con bé Natalie mà con đã giới thiệu với bố mẹ năm ngoái. Con bé ấy không phải là người Do Thái và rất tử tế. Sao con lại không nhớ con bé ấy nhỉ?
– Hồi đấy mẹ ghét cô ấy cơ mà?
– Thế tại sao con lại không viết sách nữa hả? Ai cũng yêu quý con khi con là một nhà văn lớn.
– Con lúc nào cũng là nhà văn mà mẹ.
– Hãy quay về nhà đi. Mẹ sẽ nướng cho con một cái xúc xích thật ngon và một chiếc bánh táo nóng hổi, con sẽ đặt một viên kem va ni lên trên cho nó tan ra.
– Mẹ à, con đã ba mươi rồi, con có thể tự nướng lấy xúc xích khi con muốn.
– Con phải biết là bố con không còn được ăn xúc xích nữa đấy. Bác sĩ bảo thế. (Tôi nghe thấy tiếng bố tôi rên rỉ ở đằng xa rằng thỉnh thoảng ông vẫn có quyền được ăn một cái chứ, rồi mẹ tôi trả lời: “Không có chuyện xúc xích với những đồ ăn như cám lợn ấy nữa. Bác sĩ đã bảo là những đồ ăn như thế sẽ bịt kín hết cả hệ thống mạch máu của anh đấy”). Markie yêu quý của mẹ, bố bảo con phải viết một cuốn sách về Quebert. Nó sẽ giúp con khôi phục lại sự nghiệp. Vì ai cũng nói về Quebert, nên mọi người cũng sẽ đọc và nói về cuốn sách của con. Sao con không đến nhà bố mẹ ăn tối nữa hả Markie? Lâu quá rồi. Măm măm, bánh táo ngon quá cơ.
Vừa mới vượt qua được bang Connecticut thì tự nhiên tôi có ý nghĩ chẳng hay ho cho lắm là tắt nhạc thính phòng đang nghe để mở đài nghe tin tức. Lúc đó, tôi mới biết đội ngũ cảnh sát đã làm rò rỉ thông tin: giới truyền thông đã biết bản thảo cuốn Nguồn gốc cái xấu xa được chôn cùng với xác chết của Nola Kellergan, cũng biết luôn việc Harry thú nhận đã lấy cảm hứng từ mối quan hệ với cô bé để sáng tác nên cuốn sách đó. Trong một buổi sáng, các tin tức giật gân mới đã kịp lan truyền trên toàn bộ đất nước. Ngay sau khi ra khỏi thị trấn Tolland, trong quán nhỏ cạnh cây xăng nơi tôi ghé vào để đổ đầy bình, tôi thấy nhân viên bơm xăng đang dán mũi vào màn hình vô tuyến nghe tường thuật vắn tắt những thông tin này. Tôi đứng sững như trời trồng rồi đề nghị anh ta vặn to tiếng lên, nhìn thấy vẻ ngây thộn như mới từ trên trời rơi xuống của tôi, anh ta hỏi:
– Anh không biết gì à? Mấy tiếng đồng hồ dồi, ai cũng nói về chuyện này. Anh ở đâu da thế ? Từ trên xao hỏa xuống à?
– Không, tôi ở trong xe hơi ra.
– À, thế trong xe hơi không có đài à?
– Tôi nghe nhạc thính phòng. Nhạc thính phòng giúp tôi thay đổi suy nghĩ.
Anh ta nhìn xoáy vào tôi hồi lâu.
– Hình như tôi biết anh thì phải?
– Không đâu, tôi trả lời.
– Hình như tôi có biết anh… .
– Khuôn mặt tôi rất là phổ biến.
– Không, chắc chắn tôi đã gặp anh ở đâu dồi… Có phải anh nà phát thanh viên không? Hay nà diễn viên?
– Không phải.
– Thế anh làm nghề ngỗng gì?
– Tôi là nhà văn.
– À, chuẩn mẹ nó dồi! Năm ngoái ở đây chúng tôi bán xách của anh mà. Tôi nhớ dồi, trên bìa xách có in mặt anh.
Anh ta lục lọi các ngăn hàng để tìm lại cuốn sách nhưng hiển nhiên là nó không còn ở đó nữa. Rốt cuộc, anh ta cũng tìm thấy một cuốn trong kho lưu trữ rồi lôi ra quầy bán hàng với vẻ mặt rất hãnh diện:
– Đây lày, anh đây lày ! Nhìn lày, xách của anh đấy. Marcus Goldman nà tên anh, ló được viết trên cuốn sách.
– Anh mà nói vậy thì chắc là đúng vậy rồi.
– Thế nào? Có gì mới không anh Goldman?
– Nói thật là chả có gì mới.
– Thế cho tôi mạn phép hỏi anh đi đâu với cái bộ dạng như vậy?
– Tôi đi đến bang New Hampshire.
– Ồ, một lơi tuyệt đẹp. Nhất nà vào mùa hè. Anh đến đấy nàm gì thế? Đi câu à?
– Vâng.
– Câu gì? Ở đó, có những chỗ có dất nhiều cá dô bụng đen cực hay.
– Ôi, chắc là câu đen câu đủi, câu phiền câu toái thôi. Tôi đến với người bạn đang gặp hoạn nạn. Đại hoạn nạn.
– Ồ, có cái đại hoạn lạn lào to bằng cái hoạn lạn của Harry Quebert không!
Anh ta phá lên cười và bắt tay tôi hết sức nồng nhiệt bởi vì “hiếm khi có người lổi tiếng ghé qua đây”, sau đó anh ta đãi tôi một ly cà phê trước khi lên đường.
Dư luận công chúng đã hoàn toàn đổi chiều: chẳng những Harry đã thực sự bị kết án vì toàn bộ bản thảo gốc nằm giữa bộ hài cốt của Nola, mà công chúng còn vô cùng khó chịu khi phát giác ra cuốn sách được viết dựa trên cảm hứng từ câu chuyện tình với một bé gái mới có mười lăm tuổi. Từ giờ, dân tình sẽ suy nghĩ thế nào về cuốn sách? Liệu trước đây, nước Mỹ có bị ma ám không mà đồng loạt tâng Harry lên hàng đầu các nhà văn xuất sắc nhất? Nhiều nhà báo bắt đầu đưa ra các giả thiết khác nhau dẫn Harry đến hành động sát hại Nola Kellergan. Liệu cô bé có đe dọa tố giác mối quan hệ của họ hay không? Liệu cô bé có muốn chấm dứt quan hệ nên dẫn đến việc Harry có hành động điên rồ? Trong suốt hành trình tới bang New Hampshire, tôi không thể cưỡng lại sự ám ảnh của tất cả các câu hỏi này trong đầu. Tôi cố hết sức thay đổi suy nghĩ bằng cách tắt đài, chuyển sang nghe nhạc thính phòng, nhưng không có giai điệu nào giúp tôi xao nhãng suy nghĩ về Harry. Và khi nghĩ đến ông, tôi lại nghĩ ngay tới bé gái nằm dưới đất từ ba mươi năm nay, ngay cạnh ngôi nhà mà tôi cho là đã trải qua những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời mình.
Sau 5 giờ lái xe, rốt cuộc tôi cũng đến Goose Cove. Tôi chạy xe thẳng một mạch mà không hề nghĩ: tại sao lại đến đây mà không đến thủ phủ Concord để gặp Harry hay là Roth? Những chiếc xe tải nhỏ truyền tin tức qua vệ tinh đậu dọc theo trục đường 1, trong khi đó tại lối rẽ vào con đường nhỏ lát đá dẫn đến ngôi nhà, cánh nhà báo đứng đợi để thuyết minh trực tiếp trên các kênh truyền hình. Vào lúc tôi định ngoặt tay lái, tất cả mọi người đổ xô về phía tôi để xem ai đến, che kín cả lối đi. Một trong số họ nhận ra tôi liên kêu lên: “A, nhà văn Marcus Goldman!” Đám đông lại càng thêm náo loạn, những màn hình camera và máy ảnh chen nhau áp sát vào cửa kính ô tô của tôi. Người ta hét vào tai tôi hàng loạt câu hỏi: “Anh có nghĩ Harry Quebert đã giết cô bé ấy không?”, “Anh có biết ông ta viết cuốn Nguồn gốc cái xấu xa vì cô ta không?”, “Cuốn sách này liệu có bị cấm lưu hành không?”. Tôi không muốn tuyên bố bất kì điều gì, tôi đóng kín cửa kính ô tô và đeo kính râm lên. Mấy viên cảnh sát thành phố Aurora xuất hiện ở hiện trường nỗ lực dẹp đám nhà báo và những người tò mò, rốt cuộc cũng tạo ra cho tôi được một lối đi để vào trong nhà, vốn bị những khóm cây dâu tằm và hàng cây thông che khuất. Tôi còn nghe thấy tiếng một số nhà báo hét với theo: “Anh Goldman, anh đến Aurora làm gì? Anh làm gì ở nhà Harry Quebert? Anh Goldman, tại sao anh lại đến đây?”
Tại sao tôi lại ở đây? Tại vì Harry. Tại vì ông hẳn là người bạn tốt nhất của tôi. Thật đáng ngạc nhiên và khó có thể tưởng tượng, chỉ lúc đó tôi mới ý thức được rằng ông là người bạn quý báu nhất đời tôi. Trong suốt những năm cấp ba và đại học, tôi không bao giờ có bạn bằng tuổi mà thông thường ai ai cũng giữ được quan hệ suốt đời. Trong đời, tôi chỉ có mỗi Harry. Thật ngạc nhiên là tôi không đặt ra vấn đề liệu ông có phải hay không phải là tội phạm trong những vụ việc mà người ta đang kết án: câu trả lời không làm cho tình cảm sâu nặng của tôi đối với ông phải thay đổi. Đó là một tình cảm lạ lùng: tôi cứ tưởng rằng cùng với cả đất nước, tôi sẽ phải căm thù ông, phải nhổ vào mặt ông; nếu như vậy thì đơn giản hơn. Nhưng vụ việc này không hề ảnh hưởng đến tình cảm tôi dành cho ông. Tôi tự nhủ đơn giản rằng, trong trường hợp xấu nhất, thì ông cũng là con người, mà trong con người có cả con quỷ. Ai cũng có một con quỷ ngự trị trong mình. Vấn đề chỉ là phải xem có thể tha thứ cho con quỷ này đến đâu mà thôi.
Tôi đỗ xe vào bãi đỗ nền sỏi cạnh hiên nhà. Chiếc Corvette đỏ của ông cũng đậu ở đó , trước phần công trình phụ dùng làm gara, vẫn như mọi khi. Cứ như thể chủ nhân vẫn đang ở nhà và mọi việc đều tốt đẹp. Tôi định vào nhưng cửa đã bị khóa. Theo tôi nhớ, đây là lần đầu tiên cánh cổng này chống lại tôi. Tôi đi một vòng; không còn viên cảnh sát nào ở đây nữa, nhưng lối vào đằng sau ngôi nhà đã bị cảnh sát rào chắn lại. Tôi đành đứng từ xa mà quan sát khu vực cấm được khoanh vùng từ vườn đến tận bìa rừng. Có thể thấy một cái hố to tướng ngoác miệng rộng chứng tỏ cảnh sát đã tiến hành đào bới tìm kiếm rất kĩ, ngay bên cạnh đó mấy cây cẩm tú cầu bị bỏ quên đang héo khô đi.
Dường như tôi đứng như vậy đến cả tiếng đồng hồ, vì tôi bỗng nghe thấy tiếng xe hơi phía sau lưng. Đó là Roth đến từ thủ phủ Concord. Vì xem truyền hình thấy tôi đã có mặt tại đây nên anh ta ngay lập tức lên đường. Lời đầu tiên của anh ta là:
– Thế là anh đã đến đây rồi đấy.
– Vâng, sao ạ?
– Harry nói với tôi là anh sẽ đến. Ông ta cũng nói anh là một đứa cứng đầu cứng cổ và sẽ đến đây để nhúng mũi vào vụ việc này.
– Harry hiểu tôi rất rõ.
Roth lục tìm trong túi áo vét và lấy ra một mẩu giấy.
– Ông ấy gửi cho anh đấy, Roth nói.
Tôi mở tờ giấy ra. Đó là tin nhắn viết bằng tay.
Marcus yêu quý của thầy, Nếu anh đọc những dòng này, tức là anh đã đến New Hampshire kiếm tin tức của người bạn già này. Anh là một chàng trai dũng cảm. Thầy không bao giờ nghi ngờ điều này. Thầy viết cho anh, thề rằng thầy vô tội và không dính dáng gì đến những tội danh mà người ta đang buộc cho thầy. Tuy nhiên, thầy nghĩ mình sẽ phải ngồi tù ít lâu còn anh có nhiều việc hay hơn phải làm chứ đừng phí phạm thời gian quan tâm tới thầy. Hãy quan tâm tới sự nghiệp của mình, hãy quan tâm tới cuốn tiểu thuyết mà anh phải hoàn thành vào cuối tháng cho Nhà xuất bản. Theo thầy sự nghiệp của anh là quan trọng nhất. Đừng lãng phí thời gian vì thầy. Chúc anh mọi việc tốt đẹp.
Harry.
TB. Mặc dù vậy, nếu như chẳng may anh có muốn ở lại bang New Hampshire ít ngày hay thỉnh thoảng muốn ghé qua đây anh Phải biết Goose Cove là nhà của mình. Anh có thể ở lại đây bao lâu tùy ý. Thầy chỉ đề nghị anh duy nhất một điều hãy nuôi bọn mòng biển. Hãy vứt bánh mì ra ngoài hè, nuôi mòng biển là việc quan trọng.
– Đừng bỏ ông ấy, Roth nói với tôi. Quebert cần tới anh.
Tôi gật đầu.
– Ông ấy nhìn nhận sự việc thế nào?
– Rất bi quan. Anh xem tất cả thông tin rồi chứ? Ai ai cũng biết về cuốn sách. Thật là một thảm họa. Càng biết thêm nhiều điều thì tôi càng lo làm sao có thể bảo vệ được ông ấy.
– Từ đâu xảy ra tình trạng rò rỉ thông tin như vậy?
– Theo tôi, tin lọt thẳng ra từ văn phòng của chưởng lý. Họ muốn tăng áp lực lên Harry bằng cách gây sức ép dư luận. Họ muốn có lời thú tội đầy đủ. Họ biết rằng với những vụ việc cũ mèm đến ba mươi năm, không có gì quý hơn những lời tự thú.
– Khi nào tôi có thể gặp ông ấy?
– Ngay sáng mai. Nhà tù của bang nằm ngay trên đường ra từ thủ phủ Concord. Thế anh ngủ ở đâu?
– Nếu có thể thì ngủ ở đây luôn.
Anh ta hơi nhăn nhó.
– Tôi hơi nghi ngờ, anh ta nói. Cảnh sát đã trưng thu ngôi nhà. Đây là hiện trường vụ án.
– Hiện trường không phải chỉ là ở chỗ có cái hố kia à? Tôi hỏi.
Roth kiểm tra lại lần nữa lối cửa vào, sau đó anh ta nhanh chóng đi vòng quanh ngôi nhà rồi quay lại phía tôi, mỉm cười;
– Anh sẽ là luật sư giỏi đấy Goldman. Trên nhà không có dấu niêm phong.
– Vậy tức là tôi được quyền vào ở trong nhà đúng không?
– Vậy tức là anh không bị cấm vào ở trong nhà.
– Tôi chả hiểu gì cả.
– Cái hay của luật pháp nước Mỹ nằm ở đó, anh Goldman ạ: chỗ nào không có luật, thì anh có thể tự biên tự diễn. Nếu anh cả gan bới lông tìm vết, cứ việc đến tận Tòa tối cao để tìm chân lí và có thể xuất bản một bản án mang tên anh: Goldman chống lại bang New Hampshire. Anh có biết tại sao trên đất nước này, khi bắt anh, người ta phải nói cho anh biết các quyền của anh không? Bởi vì trong những năm 1960, một kẻ nào đó tên là Ernesto Miranda đã bị kết tội cưỡng hiếp dựa trên chính những lời tự thú của hắn. Và thế là, anh biết không, luật sư của hắn tuyên bố bản án không chính đáng vì cái tay Miranda dũng cảm này không được học hành nhiều và hắn không hề biết có Bộ Nhân quyền cho phép hắn không cần phải thú tội gì hết. Viên luật sư đó đã làm ầm ĩ lên thành chuyện to, rồi mang vụ việc kiện lên đến tận Tòa án tối cao và mọi cơ quan thẩm quyền. Thế rồi, anh biết không, cái tên luật sư khốn kiếp ấy đã thắng kiện! Những lời thú tội không có giá trị, bản án Miranda chống lại bang Arizona trở nên nổi tiếng và từ đó khi cảnh sát bắt người đều phải nói theo quy định: “Anh có quyền giữ im lặng và có quyền đòi luật sư, nếu anh không có khả năng tài chính trả tiền luật sư thì sẽ có luật sư nhà nước phục vụ anh”. Tóm lại, mấy cái câu nhảm nhí ngu ngốc đó người ta thường nghe trên phim, tất cả là nhờ vào anh bạn Ernesto! Đạo đức, chân lí ở nước Mỹ là kết quả làm việc tập thể: tất cả mọi người đều có quyền tham gia. Vậy anh cứ chiếm lấy nơi này, chẳng có gì ngăn cản cả. Nếu cảnh sát dám đến làm phiền, thì anh cứ nói là ở đây thiếu quy định của luật pháp, cứ nhắc đến Tòa án tối cao rồi đe dọa họ phải đền bù thiệt hại với tổn thất to lớn, thế nào họ cũng sợ. Tuy nhiên, tôi lại không có chìa khóa để vào nhà.
Tôi rút từ túi quần ra một bộ chìa khóa.
– Harry cho tôi một bộ từ lâu rồi, - tôi nói.
– Goldman, anh đúng là nhà ảo thuật! Nhưng làm ơn đừng vượt qua rào chắn của cảnh sát nếu không sẽ rầy rà to.
– Được rồi, tôi hứa. Benjamin này, rốt cuộc việc khám xét ngôi nhà có mang lại được kết quả gì không?
– Không. Cảnh sát không tìm thấy gì. Chính vì vậy mà chúng ta được tự do vào nhà.
Roth ra về còn tôi bước vào ngôi nhà thênh thang không bóng người. Tôi xoay khóa cửa phía sau lưng và tiến thẳng về phía phòng làm việc, đi tìm chiếc hộp gỗ trứ danh kia, nhưng nó không còn ở đó nữa. Không biết Harry đã làm gì với nó? Tôi rất muốn có nó nên đã đi tìm khắp các giá sách từ phòng làm việc tới phòng khách, chú ý đến từng chi tiết nhỏ có thể giúp tôi hiểu được chuyện gì đã xảy ra ở đây vào năm 1975. Phải chăng Nola Kellergan đã bị sát hại tại một trong những căn phòng ở đây?
Cuối cùng tôi cũng thấy mấy cuốn album mà tôi chưa thấy bao giờ hay chưa bao giờ để ý tới. Tôi mở ngẫu nhiên một cuốn, bên trong là những bức ảnh Harry và tôi chụp hồi tôi học đại học. Trên lớp, trong phòng đấm bốc, trên sân trường, trong tiệm ăn nơi chúng tôi thường xuyên gặp nhau. Thậm chí còn có cả ảnh chụp buổi lễ trao bằng tốt nghiệp của tôi. Cuốn album tiếp theo chứa đầy những bài báo cắt ra từ tạp chí viết về tôi và về cuốn sách của tôi. Một số đoạn được đánh dấu bằng bút đỏ, hay được gạch chân; vào lúc đó, tôi nhận ra Harry từ lâu luôn dõi sát theo những bước đi của tôi, lưu giữ thận trọng tất cả những gì liên quan đến hành trình ấy. Thậm chí tôi còn thấy một đoạn trích cắt ra từ một tờ báo của Montclair cách đây một năm rưỡi kể lại buổi lễ tổ chức vinh danh tôi ở trường Felton, nơi tôi học cấp ba. Quá say mê với thành công rực rỡ của tôi, nhà trường thấy tôi xứng đáng được tổ chức cho một buổi lễ tôn vinh đình đám.
Buổi lễ được long trọng khai mạc vào một chiều thứ Bảy trong sân chính của trường, khoảng sân đó do học sinh, cựu học sinh và các nhà báo địa phương chọn ra. Ai nấy tràn trề hạnh phúc, rạng rỡ ngồi sát bên nhau trên những chiếc ghế gấp đối diện với một tấm thảm lớn mà sau bài diễn văn hùng hồn, ông hiệu trường đã kéo xuống, để lộ ra chiếc tủ kính lớn, có trang trí dòng chữ Tôn vinh Marcus Goldman, được gọi là “Siêu Nhân“, học sinh của trường từ 1993 đến 1998, còn bên trong tủ kính, trưng bày cuốn tiểu thuyết, các bảng điểm cũ của tôi, một vài tấm ảnh, chiếc áo thể thao tôi mặc khi tham gia môn đánh bóng crosse và chiếc áo tôi mặc khi thi chạy…Tôi mỉm cười khi đọc bài báo này. Thời gian của tôi ở trường Felton, một ngôi trường nhỏ, rất yên tĩnh của miền bắc Montclair với các thiếu niên ngoan ngoãn, đã để lại cho trường này những dấu ấn mạnh mẽ đến nỗi bạn bè và thầy cô đều gọi tôi là Siêu Nhân. Nhưng Vào cái ngày đó , tháng Mười hai năm 2006, vào thời điểm vỗ tay trước cái tủ kính để tán dương cho vinh quang của tôi, không một ai biết rằng việc trở thành một ngôi sao sáng chói của trường Felton được tất cả mọi người thừa nhận trong suốt bốn năm dài tươi đẹp rực rỡ đó, chỉ là kết quả của sự hiểu nhầm, mới đầu là vô tình, nhưng về sau là kết quả của sự tổ chức sắp xếp một cách có bài bản.
Thời kì huy hoàng của Siêu Nhân bắt đầu cùng lúc với năm thứ nhất của tôi ở trường trung học, khi tôi phải chọn một môn thể thao bắt buộc để đăng kí cho chương trình học. Tôi đã định chọn bóng đá hoặc bóng rổ, nhưng số lượng học sinh được phép tham gia vào hai môn này lại rất hạn chế, và không may cho tôi, đúng hôm phải đến phòng ghi danh đăng kí học thì tôi lại đến quá muộn. “- Tôi đóng cửa rồi, - người giáo vụ béo đẩy nói với tôi. - Hãy quay trở lại ghi tên vào năm sau nhé…”
– Xin cô làm ơn đi mà, thưa cô, tôi nài nỉ, em nhất định phải đăng kí tham gia một môn thể thao, nếu không em sẽ bị lưu ban cô ạ.
– Họ và tên? Bà giáo vụ ngán ngẩm thở dài.
– Goldman. Marcus Goldman, thưa cô.
– Môn thể thao đăng kí?
– Bóng đá, hoặc bóng rổ ạ.
– Cả hai đều không còn chỗ. Chỉ còn chỗ trong hai môn, hoặc nhào lộn, hoặc đánh bóng crosse”.
Đánh bóng crosse hay là nhào lộn. Cũng tương tự như người ta nói đi tả hay tiêu chảy mà thôi. Tôi biết rằng nếu tôi học nhào lộn, thế nào bạn bè cũng trêu chọc vậy nên tôi đành phải chọn đánh bóng crosse. Nhưng từ cả hai thập kỉ nay, trường Felton không có đội đánh bóng crosse giỏi, đến nỗi chả có học sinh nào muốn đăng kí tham gia. từ lâu, những học sinh đăng kí học môn này toàn là học sinh bị trượt tất cả các môn học hoặc đến muộn vào ngày đăng kí. Vậy là tôi đã đăng kí gia nhập một đội thể thao đang ở đáy vực, chẳng có chiến thắng nào và vô cùng hậu đậu, nhưng chính điều này lại mang vinh quang về cho tôi. Với hi vọng được đội bóng đá cho nhập cuộc vớt vào giữa mùa, nên tôi cố gắng lập nhiều thành tích thể thao để thu hút sự chú ý của mọi người: tôi tập luyện với một động lực chưa từng có từ trước đến nay và chỉ trong hai tuần, huấn luyện viên của chúng tôi đã thấy trong tôi tiềm ẩn một ngôi sao lớn của đội mà ông đã chờ đợi từ lâu. Ngay lập tức tôi được bầu làm đội trưởng. Không cần phải cố gắng nhiều để người ta coi tôi là tay đánh bóng crosse giỏi nhất trong lịch sử của trường. Tôi phá vỡ mọi kỉ lục ghi bàn từ hai mươi năm trở lại đây chẳng chút khó khăn nào quá dễ dàng vì chiến công này, tên tôi được ghi trên bảng danh dự của nhà trường, điều chưa bao giờ xảy ra đối với học sinh vừa mới vào năm đầu của cấp ba. Thành tích đó ngay lập tức đã gây ấn tượng cho bạn bè tôi và lôi cuốn sự quan tâm của giáo viên: qua kinh nghiệm này, tôi rút ra bài học rằng để trở thành siêu nhân, chỉ cần phải điều chỉnh lại mối quan hệ tương quan với người khác; rốt cuộc, mọi thứ chỉ là làm thế nào để thể hiện ra bên ngoài cho có vẻ là như vậy mà thôi.
Tôi nhanh chóng nắm được luật chơi. Hiển nhiên, từ kinh nghiệm trên, tôi không còn nghĩ đến chuyện bỏ đội bóng crosse nữa, ám ảnh duy nhất của tôi là bằng mọi biện pháp phải trở thành người đứng đầu; phải là ánh sáng, là tấm gương bằng mọi giá. Lúc đó nhà trường cũng tổ chức cuộc thi đề tài nghiên cứu cá nhân về các môn khoa học. Một đứa dịch hạch nào đó tên là Sally quá siêu bẩn đã đoạt giải, và ở cuộc thi đó, tôi đứng ở tận vị trí thứ mười sáu. Ngày trao giải, tại phòng thu thanh của trường, tôi đã tự dàn xếp để được phát biểu và đã tự bịa ra cả một câu chuyện về những ngày cuối tuần hoàn toàn dành hết mình cho hoạt động tình nguyện vì những người bị thiểu năng trí tuệ. Chính vì vậy mà dự án của tôi không được tiến hành đúng tiến độ. Tôi kết luận, với đôi mắt sáng lấp lánh vì những giọt nước mắt chực tuôn ra: “Giải nhất đối với tôi không quan trọng, nếu như tôi có thể mang đến một tia hạnh phúc cho những người bạn của tôi là những trẻ em bị khuyết tật”. Hiển nhiên là tôi đã làm toàn trường cảm động. Điều này đã nâng cao giá trị của tôi và hạ thấp Sally dưới con mắt của giáo viên, bạn bè và của chính Sally. Sally cũng có một người em trai bị khuyết tật nặng mà tôi không hề biết, đã tình nguyện từ chối giải thưởng và đề nghị trao nó cho tôi. Câu chuyện này đã nâng giá trị của tôi lên, tên của tôi được vinh danh dưới các thể loại thể thao, khoa học và giải thưởng tình bạn trên tấm bảng danh dự mà tôi âm thầm gọi là bảng mất danh dự, ý thức rất rõ những điều phàm quấy lừa bịp của bản thân mình. Nhưng tôi không thể dừng lại được, cứ như bị ma ám vậy. Một tuần sau, tôi còn phá kỉ lục bán vé số bằng cách tự bỏ tiền túi ra mua, toàn bộ số tiền tiết kiệm được qua hai mùa hè lăn lóc dọn vườn cỏ trong khu bể bơi của thành phố. Thế là đủ để cho tiếng tăm của tôi đồn thổi toàn trường: Marcus Goldman là một học sinh có phẩm chất đặc biệt. Sự thừa nhận này khiến toàn bộ học sinh và giáo viên trong trường gọi tôi là Siêu Nhân, gắn vào tôi như một nhãn hiệu hàng hóa, đảm bảo cho tôi mọi thành công tuyệt đối trong trường; danh tiếng nho nhỏ của tôi nhanh chóng lan rộng khắp thị trấn Montclair, làm cho bố mẹ tôi vô cùng hãnh diện.
Sự nổi tiếng có được nhờ sắp đặt có tính toán hối thúc tôi rèn luyện một môn nghệ thuật cao quý là đấm bốc. Từ lâu tôi đã rất thích đấm bốc, và cũng là một tay đấm bốc khá cừ, nhưng điều tôi mong muốn khi bí mật đi tập đấm bốc tại câu lạc bộ Brooklyn, cách nhà tôi một tiếng đi tàu nơi không ai biết đến tôi, ở đó Siêu Nhân không còn tồn tại nữa, là khả năng bị thua cuộc: tôi đến để giành lại cái quyền được đánh bại bởi một kẻ mạnh hơn, cái quyền được mất mặt với mọi người đó là cách duy nhất giúp tôi thoát khỏi cái thế giới quỷ quái của sự hoàn thiện mà tôi tạo ra: trong căn phòng tập đấm bốc, Siêu Nhân có thể bị thua cuộc, có thể là đứa kém cỏi. Và Marcus có thể tồn tại. Bởi dần dần, ám ảnh phải luôn luôn là người dẫn đầu đã vượt quá khả năng tưởng tượng: càng thắng cuộc nhiều thì tôi càng sợ bị thua.
Khi tôi lên năm thứ ba ở trường trung học Felton, do cắt giảm ngân sách nên Ban giám hiệu nhà trường buộc phải quyết định giải tán nhóm đánh bóng crosse vì nó gây ra những khoản chi phí quá đắt cho trường so với những điều nó mang lại. Cực chẳng đã, tôi đành chọn một môn thể thao khác: hiển nhiên là đội bóng đá và đội bóng rổ nhìn tôi với đôi mắt rất thiện cảm, nhưng tôi biết rằng nếu gia nhập vào một trong hai đội này, tôi sẽ phải đối đầu với những tay chơi khác có năng khiếu hơn và quyết thắng hơn so với những đối thủ của tôi ở đội đánh bóng crosse. Tôi có nguy cơ sẽ bị thua cuộc, bị rơi vào đám người vô danh, hay thậm tệ hơn, sẽ mất cả danh dự: Người ta sẽ nói gì khi Marcus Goldman được gọi là “Siêu Nhân”, đội trưởng cũ của đội đánh bóng crosse đã phá kỉ lục ghi bàn trong vòng hai mươi năm gần đây, trở thành thằng lon ton của đội bóng đá? Tôi sống trong lo sợ hai tuần liền đến tận khi nghe nói về đội chạy đua đường dài rất ít được biết đến trong trường, đội chỉ gồm hai thằng béo phì ngắn chân và một thằng cò hương không sức. Hơn nữa hóa ra đây là một môn thể thao duy nhất của trường Felton chưa bao giờ tham gia vào bất kì cuộc thi đấu liên trường nào: điều này đảm bảo rằng tôi sẽ không bao giờ phải đọ sức với đối thủ nào nguy hiểm hơn tôi. Vậy là an toàn rồi, nên tôi không chần chừ gia nhập ngay đội chạy đua đường dài của trường Felton. Ngay từ ngày đầu tiên tập luyện, tôi đã phá kỉ lục chẳng khó khăn gì về tốc độ của những người bạn hiền lành cùng nhóm dưới con mắt nhìn đầy ngưỡng mộ và trìu mến của các nhóm khác và của Ban giám hiệu nhà trường.
Tất cả mọi việc nhẽ ra sẽ diễn ra tốt đẹp như vậy nếu như lại không chính là Ban giám hiệu, vì bị những thành công của tôi làm lóa mắt, mà nảy ra cái ý nghĩ lạ lùng là tổ chức một cuộc thi lớn liên trường mong sưu tập thêm huân huy chương cho trường, chắc mẩm rằng Siêu Nhân sẽ thắng lớn. Sau khi tin này được thông báo, vì quá sợ hãi, tôi đã rèn luyện không ngừng trong suốt một tháng trời nhưng vẫn cầm chắc sẽ chẳng làm được gì khi phải đối mặt với các vận động viên từ các trường khác dày dạn kinh nghiệm trong các cuộc đua. Tôi, tôi chỉ là bề ngoài, là đồ giả: tôi sẽ tự làm cho mình trở nên nực cười trên chính sân nhà.
Ngày diễn ra cuộc đua, toàn bộ trường Felton lẫn một nửa dân cư trong trị trấn của tôi có mặt để gây áp lực cho tôi. Lệnh xuất phát đã điểm, và như tôi đã lo lắng từ đầu, ngay lập tức tôi bị những tay đua khác bỏ xa. Thời điểm sống chết đã đến: sự nổi tiếng của tôi đang bị đe dọa. Cuộc đua chạy dài sáu dặm, tức là hai mươi lăm vòng quanh sân vận động. Hai mươi lăm lần nhục nhã. Tôi sẽ về đích cuối cùng! thua cuộc và mất mặt. Có khi thằng đến đích đầu tiên còn có kỉ lục gấp đôi tôi. Tôi phải cứu lấy Siêu Nhân bằng mọi giá. Tôi tập hợp toàn bộ sức lực, toàn bộ năng lượng và trong một cú vượt lên tuyệt vọng, tôi chạy như điên: giữa tiếng tung hô cổ động của đám đông tụ tập vì tôi hôm đó, tôi đã vượt lên dẫn đầu đội đua. Đúng vào lúc đó, tôi đã nảy ra và dựng lên một kế hoạch tàn bạo: đang lúc tạm thời là người dẫn đầu đội đua và cảm thấy mình sắp sửa chạm tới giới hạn của khả năng sức lực, tôi giả vờ như bị vướng chân vào nền đất rồi tự ngã lăn quay ra, lăn lông lốc luôn mấy vòng một cách ấn tượng, tiếng hét, tiếng kêu của khán giả ầm ầm vang lên, rốt cuộc, tôi bị gẫy một chân điều này chắc chắn là tôi không tính trước được, nhưng với cái giá là một cuộc phẫu thuật và hai tuần nhập viện, tôi đã cứu vãn được danh tiếng của mình. Tuần sau khi xảy ra sự kiện này, báo trường đã viết về tôi như thế này:
Trong suốt cuộc đua lịch sử vừa rồi, Marcus Goldman hay “Siêu Nhân”, khi đang dẫn đầu và vượt xa các đối thủ của mình, hứa hẹn sẽ giành chiến thắng vang dội, thì bạn ấy trở thành nạn nhân của đường thi đấu xuống cấp với chất lượng tồi: bạn ấy đã bị ngã quá mạnh và bị gẫy một chân.
Đó là đoạn kết của sự nghiệp vận động viên chạy đua và cũng là kết thúc sự nghiệp thể thao của tôi: vì nguyên nhân bị thương quá nặng, tôi được miễn học các môn thể thao đến tận hết cấp ba. Để đền đáp cho nhiệt huyết và sự hi sinh của tôi, tên tôi được khắc biển đặt trong tủ kính danh dự của trường, trong đó đã ngự sẵn chiếc áo may ô tôi mặc khi tham gia đội đánh bóng crosse. Còn Ban giám hiệu thì không ngừng nguyền rủa cơ sở hạ tầng của trường Felton kém chất lượng nên đã cho làm lại toàn bộ đường đua xung quanh sân vận động với mức chi phí khổng lồ. Họ rút hết ngân sách cho học sinh đi dã ngoại để chuyển sang làm lại đường đua, tước mất của toàn bộ học sinh trong trường tất cả các hoạt động ngoại khóa trong suốt năm học tiếp theo.
Khi kết thúc những năm học cấp ba, với bảng điểm giỏi, bằng tốt nghiệp loại xuất sắc và những bức thư giới thiệu tốt, tôi phải chọn cho số phận mình một trường đại học. Buổi chiều, nằm trên giường trong phòng riêng, trước mặt là ba bức thư mời học, một từ đại học Harvard, một từ đại học Yale và bức thứ ba từ trường đại học Burrows, một trường đại học nhỏ chả ai biết đến ở bang Massachusetts, tôi đã không ngần ngại chọn ngay trường Burrows. Đi học ở một trường đại học lớn, tức là có nguy cơ bị mất nhãn hiệu “Siêu Nhân”. Harvard hay Yale, tức là tự đặt mức rào hơi cao: tôi hoàn toàn không mong muốn được đọ sức với những tài năng vô hạn đến từ khắp các vùng của đất nước, họ sẽ là những người chiếm chỗ tôi trên bảng danh dự. Bảng danh dự của trường Đại học Burrows đối với tôi có vẻ dễ dàng hơn nhiều. Siêu Nhân không muốn tự thiêu rụi đôi cánh của chính mình. Siêu Nhân muốn mãi mãi là Siêu Nhân. Burrows là lựa chọn hoàn hảo: một khu học xá khiêm tốn là nơi chắc chắn cho tôi tỏa sáng. Tôi không mất mấy công sức để thuyết phục bố mẹ rằng khoa Văn của trường Đại học Burrows danh giá gấp nhiều lần so với khoa Văn của Đại học Harvard hay Đại học Yale. Đây là lí do tại sao vào mùa thu năm 1998, tôi rời thị trấn Montclair, và chính trong cái thành phố công nghiệp nhỏ bé này của bang Massachusetts tôi được gặp thầy Harry Quebert.
* * *
Vào buổi tối, khi vẫn còn đang ngồi trên hiên nhà xem những cuốn album và ôn lại kỉ niệm, thì tôi nhận được cú điện thoại của Douglas, giọng anh ta nghe như thảm họa đang xảy ra.
– Marcus, mẹ kiếp! Không thể tin được là cậu đi New Hampshire mà không báo với tôi nửa lời! Cánh nhà báo liên tục gọi điện hỏi tôi tại sao cậu lại đến đó, thế mà thậm chí tôi còn không biết chuyện này. Tôi phải bật ti vi lên để nghe tin tức của cậu. Quay về ngay New York đi. Về ngay khi còn kịp. Cậu sẽ ngập lụt trong chuyện này cho mà xem. Hãy rút lui khỏi cái làng đó ngay từ sáng sớm ngày mai và về ngay New York. Quebert có một luật sư xuất sắc. Hãy để cho hắn làm việc của hắn còn cậu tập trung vào cuốn sách của cậu đi. Mười lăm ngày nữa phải nộp bản thảo cho Barnaski rồi đấy.
– Harry đang cần có một người bạn ở bên, tôi trả lời.
Yên lặng một lúc, sau đó Douglas thì thầm, cứ như thể chỉ lúc đó mới phát hiện ra được điều mà từ nhiều tháng nay, anh ta không hiểu nổi:
– Cậu không có sách đúng không? Chúng ta chỉ còn cách thời hạn của Barnaski có hai tuần thế mà cậu còn chưa có cuốn sách chết tiệt đó! Nói vậy có phải không Marc? Sự thật là cậu đến để giúp một người bạn hay là cậu trốn New York?
– Câm mồm đi, Doug.
Yên lặng trôi qua còn lâu hơn lúc nãy.
– Marc, hãy nói là cậu đang có ý tưởng gì đó trong đầu. Hãy nói là cậu đã có một kế hoạch và có một lí do thực sự chính đáng để đến bang New Hampshire.
– Một lí do thực sự chính đáng à? Thế tình bạn không đủ sao?
– Mẹ kiếp, cậu nợ thằng cha Harry cái chó gì thế hả, để mà phải đi đến đấy làm gì?
– Nợ mọi thứ, nợ tất cả.
– Thế là thế nào, mọi thứ là thế nào?
– Giải thích phức tạp lắm, Douglas ạ.
– Mẹ kiếp, Marcus, cậu đang lảm nhảm cái gì thế, Marcus?
– Dough, có một giai đoạn trong đời mà mình chưa bao giờ kể cho cậu nghe … Đó là lúc tốt nghiệp trung học, chắc là đời mình đã hỏng. May mà mình gặp Harry… Về một mặt nào đó, ông ấy đã cứu vớt đời mình, Mình mắc nợ ông ấy…Không có Harry, mình không bao giờ trở thành nhà văn như bây giờ. Chuyện xảy ra ở Burrows, bang Massachusetts, vào năm 1998. Nhờ Harry mà mình mới có tất cả mọi thứ.