“Marcus ạ, chương đầu tiên là chương chính yếu của truyện. Nếu độc giả không thích chương đầu thì họ sẽ không đọc phần còn lại. Anh tính sẽ bắt đầu cuốn sách thế nào đây?
– Em không biết thầy Harry ạ. Thầy có nghĩ là một ngày nào đó em sẽ làm được không?
– Làm được cái gì?
– Viết được một cuốn sách
– Chắc chắn rồi, Marcus ạ.”
Đầu năm 2008, khoảng một năm rưỡi sau khi trở thành thần tượng của nền văn học nước Mỹ nhờ cuốn tiểu thuyết đầu tay, tôi rơi vào trạng thái khủng hoảng trầm trọng gọi là hiện tượng trang trắng, tình trạng này hình như không phải là hiếm xảy ra với các nhà văn đạt được thành công nhanh chóng và rầm rộ. Căn bệnh này không đến bất ngờ: nó từ từ xâm chiếm tôi. Cứ như thể bộ não tôi bị căn bệnh ăn mòn, dần dần càng ngày càng trơ lì. Khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện, tôi không hề muốn lưu tâm: tôi tự nhủ rằng ngày mai, hay ngày hôm sau, hoặc thậm chí ngày hôm sau nữa cảm hứng sẽ quay trở lại. Nhưng ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác trôi đi mà cảm hứng vẫn chưa chịu quay trở lại.
Quá trình sa vào địa ngục của tôi trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn đầu là cú rớt thẳng đứng ngoạn mục, là sự suy thoái rành rành trước mặt: cuốn tiểu thuyết của tôi bán được hai triệu bản, làm tôi thăng hoa ở độ tuổi hai mươi tám, đứng vào hàng các nhà văn thành công. Đó là vào mùa thu năm 2006, trong vòng vài tuần, tôi đã khẳng định được tên tuổi của mình: ở đâu cũng thấy mặt tôi, trên tivi, báo chí, hay bìa các tập san. Khuôn mặt tôi còn xuất hiện trên cả những tấm panô quảng cáo cỡ bự trong trạm tàu điện ngầm. Những tay phê bình nghiêm khắc nhất của các tờ nhật báo bờ Đông đều hoàn toàn nhất trí rằng: chàng trai trẻ Marcus Goldman sẽ trở thành một nhà văn tầm cỡ.
Một cuốn sách, một cuốn duy nhất đã giúp tôi mở ra cánh cửa cuộc đời mới: đó là cuộc đời của những ngôi sao triệu phú trẻ. Rời ngôi nhà của cha mẹ tôi ở thị trấn Montclair bang New Jersey, tôi dọn đến sống trong một căn nhà sang trọng tại Village; tôi lên đời xe hơi, chuyển từ chiếc Ford cũ đã qua ba đời sử dụng sang một chiếc Range Rover màu đen mới cáu lắp kính đen; tôi bắt đầu lui tới những quán ăn xa xỉ thời thượng; tôi thuê một đại điện văn chương, người quản lí thời gian biểu và cũng hay đến ngôi nhà mới của tôi để xem bóng chày trên chiếc ti vi màn ảnh rộng cỡ khủng. Tôi thuê một văn phòng chỉ cách Central Park có vài bước chân và tại đó tôi sắm một nàng thư kí hơi hơi phải lòng tôi tên là Denise. Nàng có nhiệm vụ phân loại thư tín, pha cà phê cho tôi và lưu trữ giúp tôi những tài liệu quan trọng.
Trong vòng sáu tháng sau khi cuốn sách được xuất bản, tôi sung sướng tận hưởng vị ngọt ngào của cuộc đời mới. Buổi sáng, tôi rẽ qua văn phòng xem lướt những bài báo viết về mình, ngày nào cũng đọc cả tá thư do người hâm mộ gửi tới để sau đó, Denise sẽ lưu vào thành những tập hồ sơ dày tổ chảng. Sau đó, hài lòng với bản thân và tự nhủ rằng làm việc như vậy là đủ, tôi đi dạo vơ vẩn một vòng quanh các phố ở quận Manhattan nơi những người qua đường không ngừng thì thào mỗi khi thấy tôi đi qua. Tôi dành phần còn lại của ngày tận hưởng những đặc quyền mới mẻ mà sự nổi tiếng của tôi mang lại: quyền được mua tất cả những gì mà tôi muốn có, quyền được ngồi ở những lô VIP của Madison Square Garden để xem những chiếc Ranger trên trường đua, quyền được sánh vai với những ngôi sao ca nhạc trên thảm đỏ mà khi còn trẻ con, tôi hâm mộ đến mức mua tất cả các đĩa hát của họ, quyền được hẹn hò với nàng Lydia Gloor, nữ diễn viên chính của bộ phim truyền hình nhiều tập lúc bấy giờ ai ai cũng hâm mộ. Tôi là một nhà văn nổi tiếng; tôi có cảm giác mình đang làm một nghề cao quý nhất thế giới. Tôi chắc chắn là thành công của tôi sẽ kéo dài mãi mãi, tôi không gợn mảy may lo âu cho tới khi người đại diện của tôi bắt đầu nhắc nhở và nhà xuất bản bắt đầu thúc tôi phải trở lại làm việc, phải bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết thứ hai.
Sáu tháng tiếp theo tôi bắt đầu ý thức được rằng gió đã đổi chiều: thư của người hâm mộ thưa dần và trên phố ít có người tiến lại phía tôi hơn. Chẳng bao lâu sau, những người đi ngang qua nếu có nhận ra tôi thì bắt đầu hỏi những câu kiểu: “Anh Goldman à, chủ đề của cuốn sách thứ hai của anh là gì? Khi nào thì xuất bản?” Tôi hiểu ra rằng mình cần phải bắt tay vào việc và tôi đã làm vậy: tôi bắt đầu viết ý tưởng lên trên các tờ giấy rời rồi phác thảo ra kịch bản vào máy tính cá nhân. Nhưng chả có gì hay ho. Thế nên tôi lại bắt đầu tìm ý tưởng khác và lại phác thảo kịch bản khác. Nhưng vẫn chả có gì hay ho. Rốt cuộc tôi quyết định mua một cái máy tính mới với hi vọng sẽ viết được tiểu thuyết mới với những ý tưởng tuyệt vời và một cấu trúc không chê vào đâu được nhưng tất cả đều vô ích. Tiếp theo, tôi quyết định thay đổi phương pháp làm việc: tôi bắt Denise ở lại thật muộn đến tận khuya để đánh máy tất cả những câu văn mà tôi cho là những áng văn bất hủ, những ngôn từ tinh túy và những cú tấn công táo bạo và độc đáo trong tiểu thuyết. Nhưng ngay ngày hôm sau, tôi lại thấy những từ ngữ ấy trở nên nhạt nhẽo, câu văn trở nên khoa trương, câu cú tấn công táo bạo và độc đáo lại biến thành những thất bại thảm hại. Tôi lâm vào giai đoạn hai của căn bệnh.
Vào mùa thu năm 2007, tức là một năm sau khi cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi xuất bản, tôi vẫn chưa viết được lấy nữa câu cho cuốn thứ hai. Khi chẳng còn thư từ gì để lưu trữ, khi ở những nơi công cộng chẳng ai nhận ra tôi và khi các thư viện lớn ở khu Broadways không còn những tấm áp phích quảng cáo chân dung của tôi nữa, thì tôi hiểu rằng vinh quang chỉ là phù du. Vinh quang là một con ma đói mà hễ ai không cho nó ăn thì nó sẽ bỏ đi tìm người khác để thay thế: các nhân vật chính khách thời thượng, các ngôi sao giải trí chiếu trên chương trình Truyền hình Thực tế, các nhóm nhạc rock đã cướp đi của tôi sự quan tâm của dư luận. Thế mà mới có mười hai tháng ngắn ngủi trôi qua kể từ lúc tôi xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên: dưới con mắt tôi, đó là một khoảng thời gian ngắn tủn mủn, nhưng theo thước đo của nhân loại lại là một độ dài vô tận. Cũng trong chính năm đó, chỉ riêng tại Mỹ, có một triệu trẻ em ra đời, lại cũng có một triệu người chết, hàng chục nghìn người bị bắn chết, một nửa triệu người ngập vùi trong ma túy, một triệu người trở thành tỉ phú, mười bảy triệu người đổi máy điện thoại, năm mươi triệu người chết và hai triệu người khác bị thương vì tai nạn xe hơi. Còn tôi, tôi chỉ làm có mỗi một việc là viết một cuốn tiểu thuyết.
Schmid & Hanson là nhà xuất bản rất mạnh ở New York, đã trả tôi một món tiền béo bở để có giấy phép xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi, đặt rất nhiều hi vọng vào tôi, bắt đầu giục giã người đại diện của tôi là Douglas Claren, rồi đến lượt Douglas Claren hối thúc tôi. Anh ta nói là thời gian gấp rút lắm rồi, tôi phải khẩn trương mang nộp bản thảo, còn tôi thì cố gắng trấn an anh ta đồng thời cũng là để tự trấn an mình, cố khẳng định rằng cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi đang tiến triển tốt, không việc gì phải lo lắng. Nhưng dù đóng cửa tự giam mình trong phòng làm việc hàng giờ liền, trước mặt tôi vẫn là những trang giấy trắng: cảm hứng đã bỏ tôi đi mà chẳng thông báo nữa lời, tôi không tìm thấy tí chút nào nữa. Còn ban đêm nằm trên giường, tôi không tài nào chợp mắt nỗi, nghĩ rằng nay mai, thậm chí trước cả lúc tròn ba mươi tuổi, nhà văn lớn Marcus Goldman sẽ chẳng còn tồn tại nữa. Ý nghĩ này làm tôi khiếp đảm tới mức tôi quyết định sẽ phải đi xa một chuyến để tẩy rửa đầu óc: tôi tự thưởng cho mình một tháng thư giãn trong một cung điện ở Miami gọi là để tái tạo năng lượng nội lực, âm thầm nghĩ rằng thư giãn dưới bóng những rặng cọ xanh sẽ cho phép tôi tìm lại được tài năng sáng tạo. Nhưng Florida đúng chỉ là một âm mưu hoàn hảo để trốn chạy, trước tôi hai nghìn năm, nhà triết học Sénèque đã nếm trải tình trạng nặng nề này: dù anh có lẩn trốn ở bất kì đâu, thì các vấn đề của anh cũng lẫn vào giữa những món hành lí của anh và theo anh khắp nơi. Vừa đặt chân tới Miami, một phu khuân vác tốt bụng người Cuba đã chạy ngay đến gặp tôi ở lối ra của sân bay và nói:
– Ông Goldman phải không ạ?
– Vâng.
– Cái gói này là của ông ạ?
Anh ta chìa ra cho tôi một phong bì lớn trong đó đựng những trang giấy trắng.
– Những trang giấy trắng của tôi à?
– Vâng, thưa ông Goldman, chắc ông cũng không thể rời xa New York mà không cầm theo chúng?
Cứ thế, tôi đơn độc tại bang Florida suốt một tháng, tự nhốt mình trong một phòng suite[1]cùng với những ám ảnh của mình, khốn khổ và lạc lối. Máy tính của tôi bật liên tục cả ngày lẫn đêm, trong đó tài liệu mang tên tieuthuyetmoidoc vẫn vô vọng không có câu chữ nào. Vào buổi tối khi mà tôi tặng cho gã nhạc công ở quầy rượu của khách sạn chiếc bánh pizza margarita, tôi mới nhận ra rằng tôi đã mắc một căn bệnh rất phổ biến của giới nghệ sĩ. Ngồi cùng nhau ở quầy rượu, gã kể chuyện đời gã cho tôi nghe, rằng suốt đời gã chỉ sáng tác được một bài hát duy nhất, nhưng bài hát đó là cả một thành công vang dội, gã đã thành công tới mức sau đó không thể sáng tác được bài hát nào khác, còn lúc này, gã đã hoàn toàn cháy túi và bất hạnh, tồn tại nhờ đánh piano các thành công của kẻ khác để phục vụ đám khách hàng của khách sạn. “Vào thời kì đó, tôi đi lưu diễn rầm rộ khắp các sân khấu lớn nhất trên toàn quốc”, gã vừa nói vừa tóm chặt lấy cổ áo sơ mi của tôi. “Mười nghìn người hò hét tên tôi, hàng loạt gái đẹp chân dài ngất xỉu vì tôi, còn vô vàn gái khác ném cho tôi những chiếc quần lót xinh xắn. Cũng ghê gớm đấy chứ, phải không?”. Khi liếm xong những hạt muối dính xung quanh miệng cốc, gã nói thêm: “Tôi thề chuyện thật một trăm phần trăm”. Tệ bạc làm sao, tôi biết rằng đó chính là sự thật.
Giai đoạn thứ ba của nỗi bất hạnh bắt đầu ngay khi tôi quay trở lại New York. Trong chuyến bay về từ Miami, tôi đọc được bài báo viết về một tác giả trẻ vừa cho ra đời cuốn tiểu thuyết thu hút được sự quan tâm của giới phê bình. Khi hạ cánh tại sân bay La Guardia, tôi đã thấy ngay gương mặt hắn trên tấm áp phích to đùng ở phòng nhận hành lí. Đời đã chơi tôi một vố rồi: không chỉ bị rơi vào quên lãng, mà tệ hơn nữa, tôi đang bị thay thế. Douglas đến đón tôi tại sân bay với tâm trạng hoảng loạn: Schmid & Hanson không thể kiên nhẫn hơn được nữa, họ muốn có bằng chứng chứng tỏ tôi đang tiến triển tốt và sẽ mau chóng mang cho họ bản thảo mới đã hoàn chỉnh.
– Chết cha rồi ông ơi, anh ta nói khi đã ngồi vào xe chở tôi về Manhattan. Hãy nói với tớ rằng Florida đã làm cậu phục hồi và có một cuốn sách sắp xong! Giờ cả nước đang nói đến một tay… Quyển sách của hắn sẽ mang lại thành công vang dội vào Noel. Thế còn cậu, Marcus? Cậu có gì cho Noel chưa?
– Mình sẽ bắt tay vào việc ngay đây! Tôi kêu lên, lo sợ. Mình sẽ làm được! Bọn mình sẽ làm một chiến dịch quảng cáo ác liệt rồi mọi việc sẽ thuận buồm xuôi mái. Người ta đã thích cuốn thứ nhất thì người ta sẽ thích cuốn thứ hai!
– Marc, cậu chẳng hiểu mẹ gì cả: nhẽ ra mình đã phải làm vậy cách đây vài tháng rồi cơ. Chiến lược của ta là: lướt từ đỉnh thành công trước, mớm thức ăn cho công chúng, đưa cho họ những gì họ muốn. Công chúng muốn Marcus Goldman, nhưng Marcus Goldman còn mải ăn chơi ở Florida, cho nên độc giả bỏ đi mua sách của người khác. Cậu có học tí nào về kinh tế không thế hở Marc? Sách đã trở thành một mặt hàng có khả năng thay thế: người ta cần mua cuốn sách có thể khiến người ta hài lòng và thư giãn. Thế nên nếu cậu không phải là người cung cấp cuốn sách đó, thì hàng xóm của cậu sẽ làm điều đó, còn cậu sẽ chỉ còn đáng vứt vào thùng rác.
Chết đứng vì những tiên đoán của Douglas, tôi lao vào làm việc như điên: bắt tay vào viết ngay từ tờ mờ sáng, thông trưa, đến tận 9, 10 giờ tối. Nhiều ngày như vậy liên tục cứ trôi đi trong phòng làm việc chỉ để viết không ngừng nghỉ với nỗi thất vọng điên dại hoàn toàn chi phối, để lựa chọn từ ngữ, hoàn thành câu cú và tìm hết ý tưởng này đến ý tưởng kia cho cuốn tiểu thuyết. Dù nỗ lực là vậy mà tôi vẫn chẳng ra được cái gì có giá trị. Cả ngày Denise chỉ có mỗi một việc là lo lắng cho tình trạng của tôi. Vì nàng chẳng còn gì để làm, không phải chép chính tả, không còn thư tín để sắp xếp, cũng chẳng phải pha cà phê, nên nàng cứ đi lại trong hành lang. Lúc không thể chịu hơn được nữa, nàng bắt đầu đập thình thịnh vào cửa phòng tôi.
– Marcus, em xin anh, hãy mở cửa ra! Nàng rên rỉ. Hãy ra khỏi phòng làm việc, ra công viên đi dạo một chút. Hôm nay anh đã chẳng ăn tí gì rồi.
Tôi gào lên trả lời:
– Không đói! Không đói! Không sách, không ăn!
Nàng gần như khóc nức lên.
– Đừng nói những lời kinh khủng thế, Marcus. Em ra cửa hàng Deli ngoài phố mua bánh mì kẹp thịt bò băm cho anh nhé, anh vẫn thích loại đó mà. Em đi ngay đây, nhanh thôi.
Tôi nghe thấy tiếng nàng quơ vội túi xách, chạy ra cửa và lao xuống cầu thang, cứ như thể sự nhanh nhẹn của nàng có thể cứu vãn được chút gì đó cho tình trạng của tôi. Tôi đã hiểu được cú đòn giáng xuống đầu tồi tệ đến thế nào: dường như viết một cuốn sách từ chỗ chưa có gì thật là dễ dàng, nhưng bây giờ, tôi đã ở trên đỉnh vinh quang, nên tôi phải chịu sức ép của tài năng, phải lập lại thành công, nhưng lần này thật nặng nề, bắt buộc tôi phải có một tiểu thuyết thật hay, tôi cảm thấy không còn đủ khả năng nữa. Căn bệnh của các nhà văn đã hạ gục tôi mà không ai có thể cứu vãn: nói chuyện với ai họ cũng bảo là chẳng có gì khó khăn cả, đó là vấn đề chung, nếu hôm nay tôi không viết được thì ngày mai tôi sẽ viết được. Tôi cũng đã thử gắng làm việc hai ngày liên tục trong căn phòng cũ của tôi ở nhà bố mẹ tôi ở Montclair, chính là nơi tôi đã tìm thấy cảm hứng cho tiểu thuyết đầu tay. Nhưng rốt cuộc âm mưu này cũng kết thúc bằng một thất bại thê thảm mà có khi mẹ tôi cũng góp phần vì hai ngày liên tục, bà chỉ ngồi cạnh ngó nghiêng màn hình máy tính của tôi rồi nói đi nói lại: “Tốt lắm Markie”.
– Mẹ này, con đã viết được dòng nào đâu mà mẹ cứ… , rốt cuộc tôi nói.
– Nhưng mẹ cảm thấy là sẽ rất tốt.
– Mẹ, mẹ để mặc con một mình đi.
– Sao lại một mình? Con đau bụng à? Con có muốn đánh rắm một cái không? Thế thì cứ việc làm như thế trước mặt mẹ, con trai yêu quý ạ, vì mẹ là mẹ của con.
– Không, con không muốn đánh rắm, mẹ ạ.
– Thế con đói à? Con có muốn ăn bánh rán hay bánh sáp ong không? Hay con muốn ăn cái gì mặn? Ăn trứng nhé?
– Không, con không đói.
– Thế sao con lại muốn mẹ để con một mình? Hay con muốn nói là mẹ, người đẻ ra con, có mặt ở đây làm phiền con?
– Không, mẹ không làm phiền con, nhưng…
– Nhưng cái gì?
– Không có gì, mẹ ạ.
– Con phải kiếm bạn gái đi Markie. Con nghĩ mẹ không biết con đã cắt đứt với con bé diễn viên truyền hình rồi à? Mà nó tên là gì ý nhỉ?
– Lydia Gloor. Dù sao chúng con cũng không thực sự với nhau đâu mẹ. Con muốn nói, chỉ là chuyện bình thường thế thôi.
– Chuyện bình thường thế thôi à! Thế hệ trẻ bây giờ toàn thế: chúng nó cứ làm những chuyện bình thường thế thôi rồi rốt cuộc đến tận năm mươi tuổi, đầu thì hói mà vẫn chưa có gia đình!
– Thế có gì liên quan đến chuyện hói đầu ở đây ạ?
– Không liên quan gì cả. Nhưng con có biết là mẹ biết chuyện con đi lại với con bé ấy qua báo chí không? Có đứa con trai nào đối xử với mẹ nó thế không? Con tưởng tượng xem, ngay trước khi con đi Florida, mẹ đến hiệu Scheingetz để làm tóc, không phải hiệu thịt lợn đâu tất cả mọi người ở đấy đều nhìn mẹ với cái vẻ thật hài. Mẹ hỏi có việc gì. Thế là bà Berg, cái bà lúc nào cũng đội mũ bảo hiểm ý, đưa cho mẹ tờ tạp chí và bảo: có một bức ảnh chụp con với Lydia Gloor ở ngoài phố với nhau, còn tựa đề của bài báo thì lại là hai đứa đã chia tay. Tất cả mọi người ở hiệu làm tóc đều biết bọn con chia tay nhau, trong khi đó mẹ thậm chí không biết con với nó đã từng đi lại với nhau! Tất nhiên là mẹ không muốn bị coi là ngu ngốc, nên phải giả vờ bảo là ồ, con bé ấy rất thanh lịch, nó thường xuyên đến nhà ta ăn tối.
– Mẹ, con không kể với mẹ vì chuyện chẳng có gì là nghiêm túc cả. Cô ấy chưa phải đúng người con tìm, mẹ biết đấy.
– Nhưng sẽ không bao giờ có ai là đúng người đâu con! Con sẽ chả gặp ai là đúng cả, Markie ạ! Vấn đề là ở chỗ đấy. Con nghĩ là diễn viên truyền hình có thể cáng đáng được công việc gia đình hay sao? Con này, hôm qua mẹ gặp bà Emerson ở siêu thị: con gái bà ấy cũng chưa có người yêu. Con bé đó sẽ là người hoàn hảo cho con. Hơn nữa, nó có hàm răng tuyệt đẹp. Con có muốn mẹ mời họ rẽ qua nhà mình bây giờ không?
– Không, mẹ ạ. Con đang tập trung làm việc.
Đúng lúc đó, có tiếng chuông cửa.
– Mẹ nghĩ là họ đến đấy, mẹ tôi nói.
– Sao lại thế được, họ nghĩa là sao ạ?
– Là bà Emerson và con gái bà ấy. Mẹ đã mời họ rẽ qua uống trà chiều lúc 4 giờ. Bây giờ là 4 giờ đúng. Người phụ nữ đoan trang là người phụ nữ đúng giờ. Đấy đấy, con bắt đầu phải lòng rồi đấy, đúng chưa?
– Mời họ đến uống trà á? Mẹ đuổi họ về ngay đi! Con không muốn gặp họ! Con phải viết một cuốn tiểu thuyết, khổ quá! Con không về đây để chơi trò hẹn hò ăn tối, con về để viết tiểu thuyết!
– Ồ Markie, con thật sự cần phải có người yêu. Yêu rồi con sẽ đính hôn và sẽ cưới làm vợ. Con nghĩ quá nhiều về tiểu thuyết mà quá ít về cưới xin…
Không ai nắm được chủ đề chính của truyện: tôi cấp thiết cần một cuốn sách mới, đó là điều cần thiết nhằm tránh vi phạm hợp đồng với nhà xuất bản. Trong suốt tháng Giêng năm 2008, Roy Barnaski, giám đốc nhà xuất bản Schmid & Hanson đầy quyền lực đã liên tục triệu tập tôi đến văn phòng của ông ta trên tầng 51 của tòa tháp ở phố Lafayette, nghiêm khắc nhắc nhở tôi về trách nhiệm: “Thế nào Goldman, khi nào tôi mới có trong tay bản thảo mới của anh? Ông ta gầm gừ. Chúng ta kí hợp đồng năm cuốn tiểu thuyết: anh phải làm việc đi và phải khẩn trương lên! Cần phải có kết quả. Cần phải có con số cụ thể. Anh đã bị chậm tiến độ! Anh chậm trên mọi phương diện! Anh thấy cái tay xuất bản sách trước Noel chưa? Hắn đã thay thế anh trước công chúng. Ông bầu của hắn nói cuốn sách tiếp theo của hắn sắp hoàn thành. Thế còn anh? Anh chỉ có làm phí tiền! Hãy tỉnh dậy và thay đổi tình hình ngay. Hãy đánh một cú thật vang dội, viết một tiểu thuyết thật hay mà cứu lấy tính mạng mình. Tôi cho anh sáu tháng, tôi cho anh đến tận tháng Sáu”. Sáu tháng để viết một tiểu thuyết, trong khi tôi đã bị tắc tị từ một năm rưỡi nay. Không thể được. Tệ hơn nữa, trong khi Barnaski áp đặt thời hạn cho tôi, lại không thông báo hậu quả của việc nếu như tôi không thực hiện được thời hạn đó. Hai tuần sau, chính Douglas báo cho tôi biết trong một cuộc nói chuyện chả biết là lần thứ mấy tại nhà tôi. Anh ta nói: “Phải bắt tay vào viết đi ông bạn, cậu không thể lẩn tránh chuyện này được nữa. Cậu kí hợp đồng năm cuốn sách! Năm tiểu thuyết! Barnaski là kẻ nóng tính như hổ, hắn không muốn đợi nữa Hắn bảo sẽ để cho cậu đến tháng Sáu. Cậu biết điều gì sẽ xảy ra nếu cậu cứ dậm chân tại chỗ như thế này không? Họ sẽ hủy hợp đồng, sẽ kiện ra tòa và sẽ rút ruột cậu đến tận cùng xương tủy. Họ sẽ lấy hết tài sản tiền bạc và cậu sẽ kết thúc cuộc sống tươi đẹp ở đây, ngôi nhà sang trọng, những cuộc liên hoan kiểu Ý xa xỉ, chiếc xe hơi hào nhoáng: sẽ chẳng còn gì sất. Họ sẽ chôn sống cậu”. Vậy là trước đây một năm, tôi còn được coi là ngôi sao mới nổi của nền văn học nước nhà, bây giờ tôi chỉ còn là nỗi thất vọng to lớn, là con ốc sên khổng lồ của nhà xuất bản Bắc Mỹ. Bài học thứ hai: ngoài tính chất phù du của nó, vinh quang không phải là không có hậu quả. Buổi tối sau khi được Douglas cảnh báo, tôi nhấc điện thoại quay số của người duy nhất mà tôi nghĩ là có thể giúp tôi ra khỏi tình trạng tồi tệ này: Harry Quebert, thầy giáo cũ của tôi hồi ở trường đại học và đặc biệt còn là một trong những tác giả được tôn kính nhất và được đọc nhiều nhất nước Mỹ. Tôi có quan hệ chặt chẽ với thầy từ hơn chục năm nay, kể từ khi tôi còn là sinh viên của thầy ở trường đại học Burrows bang Massachusetts.
Lúc đó, đã khoảng hơn một năm tôi không gặp, cũng không gọi điện cho thầy. Tôi điện về nhà thầy ở Aurora bang New Hampshire. Khi nghe thấy giọng tôi, thầy trả lời giọng mỉa mai:
– Ồ, Marcus đấy à! Anh Marcus gọi điện cho thầy đấy ư? Không thể tin được. Từ khi anh trở thành sao thì anh chả tin tức gì cho tôi cả. Cách đây một tháng, tôi đã cố gắng gọi điện cho anh, nhưng chỉ gặp thư kí của anh nói rằng, anh không muốn gặp ai cả.
Tôi trả lời ngay lập tức:
– Mọi chuyện tồi tệ lắm thầy Harry ơi. Em nghĩ em không còn là nhà văn nữa.
Ông lấy lại ngay giọng nghiêm túc:
– Có chuyện gì vậy hả Marcus?
– Em không biết viết gì, đời em xong rồi thầy ơi. Toàn những trang trắng. Nhiều tháng rồi thầy ạ. Đến cả một năm trời rồi.
Ông phá lên cười trấn an tôi, thật nồng hậu.
– Tinh thần tắc tị hả Marcus, người ta gọi vấn đề này như vậy đó. Những trang trắng cũng ngu xuẩn như hiện tượng bất lực tạm thời về tình dục: đó là nỗi sợ của thiên tài, nỗi sợ đó làm chân giữa của anh mềm oặt ra như bún trong khi anh định chơi trò bắn pháo với cô nàng thần tượng anh và định mang đến cho cô nàng một cơn khoái cảm phải đo bằng độ Richter. Đừng lo lắng gì về tài năng Marcus ạ, hãy tự bằng lòng với việc xếp các con chữ lại cùng nhau. Lúc đó tài năng sẽ lại tự xuất hiện.
– Thầy nghĩ vậy ạ?
– Hẳn nhiên rồi. Nhưng anh cần phải bỏ bớt những đêm hội hè đình đám. Viết lách là chuyện nghiêm túc. Tôi đã chỉ bảo anh điều đó từ lâu.
– Em luôn nỗ lực làm việc mà. Em chỉ có làm việc và làm việc. Dù vậy, em vẫn chẳng làm được gì.
– Vậy chắc có lẽ anh chưa có một môi trường thuận lợi. New York đẹp đấy, nhưng lại quá ồn ào. Sao anh không đến chỗ tôi, ở nhà tôi, như cái thời anh còn là sinh viên của tôi ấy?
Rời xa New York và thay đổi không khí. Chưa bao giờ lời mời đi ở ẩn lại có ý nghĩa lớn lao đối với tôi đến thế. Đi tìm cảm hứng cho một cuốn sách mới ở vùng quê xa xôi hẻo lánh của Mỹ với sự hỗ trợ của thầy giáo cũ: đó chính là điều tôi cần. Vậy nên một tuần sau, vào giữa tháng Hai năm 2008, tôi đến Aurora thuộc bang New Hampshire. Lúc đó là vài tháng trước khi xảy ra những sự kiện bi thảm mà tôi sắp kể sau đây.
* * *
Trước khi vụ việc khuấy động cả nước Mỹ xảy ra vào mùa hè 2008, không có ai nói đến Aurora. Đó là một thành phố nhỏ nằm bên bờ biển, cách biên giới với bang Massachusetts khoảng một tiếng đường bộ. Trên con phố chính ở đây có một rạp chiếu bóng mà chương trình chiếu phim luôn luôn chậm hơn so với toàn bộ phần còn lại của đất nước, vài cửa hàng, một bưu điện, một đồn cảnh sát và vài tiệm ăn, trong đó có tiệm Clark’s lâu đời nhất thành phố. Xung quanh đó, chỉ là những khu dân cư thanh bình với những ngôi nhà gỗ có hiên sơn những tông màu ấm áp, những mái nhà bằng đá ardoise nổi bật, vây xung quanh là vườn cây với những thảm cỏ được chăm sóc tỉ mẩn không chê vào đâu được. Đó là một nước Mỹ trong lòng nước Mỹ, nơi người dân không bao giờ phải khóa cửa lúc vắng nhà; những nơi như thế này chỉ có ở New England, thanh bình đến mức làm cho người ta có cảm giác được che chở và hiểm nguy không bao giờ xảy ra.
Tôi biết rõ Aurora vì thường xuyên ghé thăm nhà thầy Harry khi còn là sinh viên. Ông sống trong một ngôi nhà tuyệt đẹp xây bằng đá và gỗ thông to bản, nằm ở ngoại ô, trên đường 1 thẳng hướng đi Vermont, phía bên kia nhà là bờ biển được in trên bản đồ với tên gọi Goose Cove. Ngôi nhà bề thế, cơ ngơi của một nhà văn, hướng ra đại dương với một mái hiên tuyệt vời dành cho những ngày đẹp trời, một con đường nhỏ từ đó chạy thẳng ra bãi biển. Xung quanh hoàn toàn là những miền tĩnh lặng hoang sơ: rừng cây um tùm dọc bờ biển, những dải sỏi và đá cuội lớn, những bụi cây dương xỉ ẩm ướt và rêu xanh, một vài đường đi đạo dẫn thẳng ra bãi đá. Chỉ cách trung tâm văn minh có vài dặm, mà nơi đây đôi khi làm người ta cứ ngỡ như là nơi tận cùng của thế giới. Thật dễ tưởng tượng được rằng, nơi đây, dưới hiên nhà, thủy triều và những buổi hoàng hôn đỏ thắm là nguồn cảm hứng cho nhà văn viết nên những tác phẩm để đời.
Ngày 10 tháng Hai năm 2008, tôi rời New York giữa cơn khủng hoảng trang trắng. Trong khi đó toàn bộ đất nước đang sục sôi bước vào chiến dịch bầu cử tổng thống: vào ngày Super Tuesday xảy ra cách mấy hôm (năm đó được tổ chức một cách ngoại lệ vào tháng Hai thay vì tháng Ba, chứng tỏ đây sẽ là một năm đặc biệt), tấm vé của Đảng Cộng hòa đã được trao cho nghị sĩ McCain, còn phía Đảng Dân chủ thì cuộc chiến giữa Hilary Clinton và Barack Obama vẫn diễn ra ác liệt. Tôi lái ô tô một mạch tới thẳng Aurora mà không hề dừng lại nghỉ giữa đường. Mùa đông ngập tuyết và quang cảnh vụt qua tôi phủ một màu trắng xóa. Tôi rất thích bang New Hampshire: tôi yêu cái tĩnh lặng của nó, yêu những cánh rừng ngút ngàn nơi đây, yêu những cái ao nở đầy hoa súng có thể nhảy xuống bơi vào mùa hè và trượt băng vào mùa đông. Tôi thấy bang này rất tự do, khẩu hiệu ở đây là SỐNG TỰ DO HAY LÀ CHẾT được dán lên hầu hết trên các biển xe hơi của vùng đang chạy vụt qua tôi trên xa lộ, thể hiện rất rõ ràng tinh thần yêu chuộng tự do mà mỗi lần tới Aurora đều khiến tôi phải ngỡ ngàng. Hơn nữa, tôi còn nhớ khi đến nhà thầy Harry hôm đó, vào giữa một buổi chiều vừa lạnh vừa mù mịt sương, tôi thấy ngay lập tức một cảm giác chùng xuống từ bên trong. Thầy đợi tôi dưới mái hiên, trùm chiếc áo khoác dày mùa đông kín mít. Tôi xuống xe, thầy chạy lại phía tôi, đặt đôi bàn tay lên vai tôi và tặng tôi một nụ cười rạng rỡ nồng ấm.
– Có chuyện gì xảy ra vậy, Marcus?
– Em không biết, thầy ơi…
– Nào nào, anh lúc nào cũng là một đứa trẻ quá nhạy cảm.
Còn chưa dỡ xong hành lí để mang vào nhà, thì chúng tôi đã ngồi trong phòng khách để nói chuyện. Thầy mời tôi cà phê. Trong bếp lò, lửa tí tách cháy; ở trong nhà thật là tuyệt khi nhìn qua tấm cửa kính rộng bản, ngoài trời, đại dương đang quay cuồng trong gió buốt, tuyết rơi ẩm ướt trên những mỏm núi đá.
– Em đã quên mất rằng ở đây đẹp đến nhường này, tôi thì thầm.
Thầy gật đầu tán thành.
– Rồi anh sẽ thấy, Marcus bé nhỏ, thầy sẽ chăm sóc anh cẩn thận. Anh sẽ đẻ ra được một tiểu thuyết gây chấn động dư luận. Đừng có lo lắng quá, nhà văn xuất sắc nào cũng phải trải qua những giai đoạn khó khăn như thế.
Nét mặt thầy tràn đầy vẻ bình thản và tin tưởng mà tôi vẫn thường xuyên thấy. Thầy là một người đàn ông mà chưa bao giờ tôi thấy mất đi sự tự tin: ông lôi cuốn những người xung quanh, tự tin về bản thân mình, chỉ riêng sự hiện diện của ông đã đủ toát lên một quyền lực. Ông sắp tròn sáu mươi bảy tuổi nhưng dáng người còn rất đẹp, mái tóc bạch kim, dày, gọn gàng; đôi vai rộng, cơ thể kiện tráng là kết quả tập đấm bốc lâu dài và thường xuyên. Hồi còn ở trường đại học Burrows, cũng chính nhờ môn thể thao này, môn thể thao mà tôi cũng chuyên cần tập luyện, chúng tôi đã có cảm tình với nhau.
Những sợi dây kết nối tôi với thầy Harry rất mạnh mẽ, tôi sẽ kể ra sau đây. Thầy bước vào cuộc đời tôi năm 1998, khi tôi đang bắt đầu hòa nhập vào trường đại học Burrows, bang Massachusetts. Lúc đó tôi hai mươi, còn thấy năm mươi bảy tuổi. Tính đến thời điểm đó là mười lăm năm, ông mang lại thành công và vẻ vang cho khoa văn của trường đại học khiêm tốn với toàn những sinh viên rất dễ mến và lịch sự ở vùng quê thanh bình này. Trước đó, tôi chỉ biết đến tên tuổi của đại văn hào Harry Quebert như tất cả mọi người khác: còn ở Burrows, tôi trực tiếp gặp và làm quen với nhà văn Harry bằng xương bằng thịt, sau này trở thành một trong những người bạn gần gũi nhất của tôi bất chấp sự chênh lệch về tuổi tác. Ông cũng chính là người sau này dạy tôi trở thành nhà văn. Bản thân thầy Harry cũng đạt tới đỉnh cao vinh quang vào giữa những năm 1970, khi cuốn tiểu thuyết thứ hai của ông có tựa đề Nguồn gốc cái xấu xa được bán tới tận mười lăm triệu bản, mang lại cho ông giải thưởng Booker và National Book, là hai giải thưởng uy tín nhất Quốc gia. Kể từ đó, ông xuất bản với nhịp độ đều đặn và biên tập một chuyên mục có rất nhiều độc giả theo dõi của tờ Boston Globe. Ông là một trong những gương mặt trí thức lớn nhất của nước Mỹ: chủ trì nhiều hội thảo, thường xuyên được mời tham gia vào những sự kiện văn hóa lớn; ý kiến của ông về chính trị được nhiều người lưu tâm. Ông là người rất được kính trọng, một trong những niềm tự hào, là tinh hoa của đất nước, là sản phẩm tốt nhất mà nước Mỹ có thể sản xuất được. Tôi hi vọng đến ở đây vài tuần, ông sẽ giúp tôi một lần nữa trở thành nhà văn và bày cho tôi cách vượt qua vực thẳm của cơn khủng khoảng trang trắng. Tuy nhiên tôi phải thừa nhận rằng thầy Harry rõ ràng thấy tôi sa vào tình trạng khó khăn, nhưng không coi đó là điều bất bình thường. Ông giải thích, “Đôi khi cánh nhà văn cũng gặp lúc khó khăn, đó là rủi ro nghề nghiệp. Cứ bắt tay vào việc đi, rồi anh sẽ thấy, khó khăn tự nhiên sẽ được giải quyết”. Thầy xếp cho tôi ngồi trong phòng làm việc ở dưới tầng trệt, nơi chính thầy cũng đã ngồi viết tất cả các cuốn sách của mình, trong đó có Nguồn gốc cái xấu xa. Tôi ngồi đó hàng giờ liền, cố gắng viết, nhưng thường xuyên bị đại dương và tuyết trắng ở phía ngoài cửa kính cuốn hút. Khi thầy mang đến cho tôi tách cà phê hay cái gì đó để ăn, nhìn bộ mặt thất vọng của tôi, thầy cố gắng động viên tinh thần cho tôi. Một buổi sáng, rốt cuộc thấy nói:
– Đừng có vác cái bộ mặt như vậy Marcus, cứ như thể anh sắp chết đến nơi vậy.
– Cũng gần lắm thầy ơi…
– Thôi nào, hãy đau khổ cho bước tiến của thế giới vì cuộc chiến tranh ở Irac chứ không phải vì quyển sách khốn khổ…còn quá sớm. Anh làm tôi phát chán, này: anh thật là lắm chuyện chỉ vì chưa viết ra được ba câu văn. Tốt hơn hết nên nhìn thẳng vào sự việc thế này: anh đã viết được một cuốn sách tuyệt vời, đã trở nên giàu có và nổi tiếng. Cuốn sách thứ hai hơi gặp khó khăn trong quá trình chui ra khỏi đầu của anh, chẳng có gì là lạ hay đáng phải lo lắng cả…
– Nhưng thầy ơi, thầy chưa bao giờ gặp vấn đề tương tự sao?
Ông phá lên cười.
– Trang trắng à? Anh đùa đấy à? Con yêu quý của thầy ơi, quá nhiều ấy chứ, anh không thể tưởng tượng nổi đâu.
– Nhà xuất bản bảo nếu bây giờ em không viết được một cuốn mới thì coi như đời em tiêu tùng.
– Anh có hiểu nhà xuất bản là gì không? Đó là một tay viết văn bất tài nhưng lại có ông bố thừa tiền giúp nó quơ được tài năng của người khác. Anh sẽ thấy, rối mọi thứ sẽ nhanh chóng đâu vào đó Marcus ạ. Anh có sự nghiệp tuyệt vời trước mặt. Cuốn sách đầu tay đã thành công, cuốn thứ hai sẽ còn tuyệt vời hơn nữa. Đừng lo lắng, thầy sẽ giúp anh tìm lại cảm hứng.
Không thể nói kì ở ẩn tại Aurora đã giúp tôi tìm lại cảm hứng nhưng chắc chắn rất có ích cho tôi. Cho cả thầy Harry nữa, tôi biết ông thường xuyên cảm thấy cô đơn: thầy là người đàn ông không gia đình, không có nhiều cái để khuây khỏa. Đó là những ngày hạnh phúc. Thật ra đó là những ngày hạnh phúc cuối cùng của chúng tôi với nhau. Ngày nào chúng tôi cũng cùng nhau đi dạo rất lâu trên bờ đại dương, nghe những bản nhạc kịch cổ điển nổi tiếng nhất, trượt tuyết đường dài, tham dự tất cả các sự kiện văn hóa ở địa phương, lượn lờ tất cả các siêu thị lớn của vùng và khuân về hàng núi thức ăn, truy lùng tất cả những chiếc xúc xích cốc tai được bán để ủng hộ hội cựu chiến binh Mỹ vì thầy Harry rất khoái khẩu món đó và cho rằng chỉ riêng vì nó cũng đủ lí do biện minh và ủng hộ sự can thiệp quân sự của quân đội Mỹ vào Irac! Chúng tôi cũng thường đi ăn trưa ở tiệm Clark’s, ngồi đó uống cà phê cả buổi chiều để đàm đạo về cuộc sống như chúng tôi vẫn thường làm khi tôi còn là sinh viên. Ai ai ở Aurora cũng đều biết thầy Harry và tôn trọng ông, và kể từ hồi đó, người ta cũng biết tôi luôn. Người mà chúng tôi có cảm tình nhất là Jenny Dawn, chủ quán Clack’s và Erne Pinkas, ông thủ thư tình nguyện của thành phố rất gần gũi với thầy Harry và cũng thỉnh thoảng ghé Goose Cove vào cuối ngày để uống một cốc rượu mạnh. Sáng nào tôi cũng tới thư viện để đọc tờ New York Times. Ngay hôm đầu tiên, tôi đã thấy bác Erne Pinkas bày cuốn sách của tôi trên giá giới thiệu sách ở vị trí nổi bật nhất. Ông rất hãnh diện chỉ cho tôi và nói:
– Marcus thấy không, sách của cậu ở vị trí đẹp nhất nhé. Đó là cuốn sách được nhiều người mượn nhất từ một năm nay. Khi nào thì có cuốn tiếp theo đấy?
– Thú thật là cháu hơi gặp khó khăn để bắt đầu. Chính vì vậy mà cháu tới đây.
– Cậu đừng lo lắng gì. Tôi chắc chắn rằng cậu sẽ tìm ra một ý tưởng độc đáo cho mà xem. Cái gì đó thật ấn tượng và ám ảnh.
– Ví dụ như là cái gì ạ?
– Ồ, bác cũng không biết được, cháu mới là nhà văn cơ mà. Nhưng chắc phải tìm ra một chủ đề mà đông đảo công chúng yêu thích.
Ở tiệm Clark’s, từ ba mươi năm nay thầy Harry lúc nào cũng ngồi ở một bàn duy nhất, bàn số 17, trên đó Jenny cho đóng một tấm biển kim loại có khắc dòng chữ:
Đây là chiếc bàn mà suốt mùa hè năm 1975, nhà văn Harry Quebert đã ngồi để sáng tác cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Nguồn gốc cái xấu xa”.
Dù biết tấm biển này từ lâu, nhưng chưa bao giờ tôi để ý tới nó. Chỉ vào chuyến thăm thầy lần này tôi mới nhìn kỹ và ngắm nghía nó. Những dòng chữ khắc trên miếng kim loại ngay lập tức ám ảnh tôi: ngồi trên chiếc bàn khốn khổ bằng gỗ dính đầy dầu mỡ và nước sirô, trong một tiệm bình dân ở một thành phố nhỏ của bang New Hampshire này, thầy Harry đã viết nên tuyệt phẩm đồ sộ của mình, cuốn sách làm cho ông trở thành một huyền thoại văn chương. Làm sao cảm hứng như vậy lại có thể đến như thế được chứ? Tôi cũng muốn thế, tôi cũng muốn ngồi tại bàn này, viết và thăng hoa. Chẳng những thế, trong suốt hai buổi chiều liên tục, tôi đã ngồi ở chính chỗ đó, cùng giấy và bút trước mặt. Nhưng hoàn toàn thất bại. Rốt cuộc, tôi hỏi Jenny:
– Cô Jenny, ông ấy ngồi tại chính cái bàn này và đã viết ở đây à?
Jenny gật đầu:
– Suốt cả ngày Marcus ạ. Suốt cả ngày dài. Ông ấy không dừng lại lần nào. Đó là vào mùa hè năm 1975, tôi còn nhớ rõ lắm.
– Năm 1975 thì ông ấy bao nhiều tuổi?
– Bằng tuổi cậu bây giờ. Gần ba mươi tuổi. Có thể hơn một vài tuổi.
Tôi cảm thấy cơn cuồng nộ sôi sục trong người: tôi cũng vậy, tôi cũng muốn viết một tuyệt tác, tôi cũng muốn viết cuốn sách trở thành dẫn chiếu của nhiều người. Harry nhận ra vấn đề khi thấy sau gần một tháng ở Aurora, tôi vẫn không viết được nửa dòng. Sự việc diễn ra vào đầu tháng Ba, trong phòng làm việc ở Goose Cove, nơi tôi đang mong chờ sự giác ngộ thần thánh xuất hiện, thì ông bước vào, đeo tạp dề mang cho tôi những chiếc bánh do chính ông vừa rán:
– Có tiến triển gì không? Ông hỏi.
– Một tuyệt tác đây ạ, tôi trả lời và giơ ra cho ông mớ giấy trắng mà anh khuân vác người Cuba đã dúi vào tay tôi ba tháng trước.
– Anh chưa viết được gì hết à? Trong suốt ba tuần ở đây anh vẫn chưa viết được gì sao?
Tôi cũng phát điên lên:
– Chưa! Chưa! Chưa có gì hay ho cả! Chỉ rặt những ý tưởng cho một cuốn tiểu thuyết tệ hại.
– Trời ơi, Marcus, thế anh còn muốn viết gì nữa ngoài tiểu thuyết?
Tôi trả lời không cần suy nghĩ:
– Một tuyệt tác! Em muốn viết một tuyệt tác!
– Một tuyệt tác á?
– Vâng, em muốn viết một đại tiểu thuyết với những ý tưởng lớn! Em muốn viết một tác phẩm sẽ lưu dấu trong trí tuệ loài người.
Thầy Harry nhìn tôi chăm chăm giây lát rồi cười phá lên:
– Tham vọng vô giới hạn của anh làm tôi phát ngấy, Marcus ạ, tôi đã nói với anh nhiều lần rồi. Anh sẽ trở thành một nhà văn tầm cỡ, tôi biết, tôi tin tưởng như vậy ngay từ khi tôi quen anh. Nhưng anh có biết vấn đề của mình là gì không: anh quá vội vàng! Chính xác bây giờ anh bao nhiêu tuổi?
– Ba mươi ạ.
– Ba mươi tuổi! Thế mà anh đã muốn trở thành một dạng đại loại ở giữa Saul Bellow[2]và Arthur Miller[3] à? Vinh quang sẽ đến, đừng quá nóng vội. Chính tôi đây, tôi đã sáu mươi bảy tuổi rồi và rất hoảng sợ; thời gian trôi quá nhanh, Marcus ạ, mỗi năm trôi qua là tôi lại mất đi một năm không thể lấy lại được. Anh nghĩ thế nào hả Marcus? Rằng anh sẽ đẻ ra cuốn tiểu thuyết thứ hai tương tự à? Một sự nghiệp cần phải có quá trình xây dựng, anh bạn trẻ của tôi ạ. Còn viết một tiểu thuyết lớn, không cần phải có những ý tưởng lớn: hãy bằng lòng với việc là chính mình rồi chắc chắn anh sẽ làm được, tôi không lo lắng cho anh. Tôi dạy văn chương từ hai lăm năm nay, hai lăm năm trời và anh là người học trò xuất sắc nhất.
– Em cảm ơn thầy.
– Không cần phải cảm ơn, vì đó hoàn toàn là sự thực. Nhưng đừng có đến đây rên rỉ như người trúng gió bởi vì anh chưa đoạt giải Nobel, trời ạ… Ba mươi tuổi… xì, tôi thí anh cả đống tuyệt tác luôn… Giải Nobel dành cho tính đần độn, đấy là cái mà anh xứng đáng nhận được.
– Nhưng thầy đã làm thế nào hả Harry? Cuốn tiểu thuyết của thầy, cuốn Nguồn gốc cái xấu xa năm 1976 là một tuyệt tác! Đấy mới chỉ là cuốn thứ hai của thầy… Thầy đã làm thế nào ạ? Làm thế nào để viết được một tuyệt tác?
Ông cười buồn bã:
– Marcus, người ta không viết nên tuyệt tác. Tuyệt tác tồn tại bởi chính tự thân nó. Anh biết đấy, dưới con mắt nhiều người, rốt cuộc, đó là cuốn sách duy nhất mà tôi viết… Ý tôi là, không có cuốn sách nào viết ra sau đó thành công được như thế. Khi người ta nói đến tôi, ai ai cũng ngay lập tức nghĩ đến cuốn Nguồn gốc cái xấu xa. Đó là điều đáng buồn, vì tôi tin rằng nếu vào độ tuổi ba mươi mà người ta bảo tôi rằng tôi đã đạt tới đỉnh vinh quang cao nhất của sự nghiệp, chắc chắn tôi sẽ lao xuống biển tự tử. Đừng có nóng vội quá Marcus ạ.
– Thầy tiếc cho cuốn đó à?
– Có thể… Một chút… Thầy không biết… Sự hối tiếc là một khái niệm mà tôi không thích: hối tiếc nghĩa là chúng ta không chấp nhận được chính bản thân chúng ta trong quá khứ.
– Thế thì em phải làm gì đây ạ?
– Phải làm cái mà anh từng làm tốt nhất từ trước tới nay, đó là viết. Nếu tôi phải khuyên anh một điều, thì Marcus ạ, đừng có bắt chước tôi. Chúng ta giống nhau ở rất nhiều điểm, anh biết đấy, cho nên thầy muốn tránh cho anh những lỗi lầm mà thầy đã mắc phải.
– Những lỗi lầm nào ạ?
– Thầy cũng vậy, khi tới đây vào mùa hè năm 1975 , tôi cũng muốn viết một tuyệt tác, ý nghĩ và tham vọng trở thành một nhà văn lớn luôn ám ảnh tôi.
– Và thầy đã đạt được điều đó…
– Anh không hiểu gì cả: chắc hẳn ngày hôm nay tôi là một nhà văn lớn như lời anh nói, nhưng tôi sống trong ngôi nhà rộng mênh mông. Đời tôi trống rỗng, Marcus ạ. Đừng làm như tôi… Đừng để cho tham vọng của anh nuốt chửng anh. Nếu không, tim anh sẽ cô độc và ngòi bút của anh sẽ u sầu. Tại sao anh không có người yêu?
– Vì em không gặp được ai làm em cảm thấy hoàn toàn hài lòng.
– Tôi tin cách anh làm tình cũng giống như cách anh viết văn vậy: hoặc là cực khoái trên tít chín tầng mây, hoặc là hoàn toàn rỗng tuếch. Hãy tìm một người nào tử tế, rồi cho người ta một cơ hội. Viết sách cũng nên làm tương tự: phải tự cho bản thân mình một cơ hội. Hãy mang đến cho đời anh một cơ hội! Anh có biết việc chính của tôi là gì không? Nuôi mòng biển. Tôi lượm những mẩu bánh mì khô cho vào chiếc bát sắt trong bếp có khắc chữ KỈ NIỆM ROCKLAND, MAINE, rồi tôi đi ném cho chim mòng biển ăn. Anh không nên suốt ngày chỉ có mỗi một việc là viết.
Mặc dù Harry cố gắng cho tôi những lời khuyên hữu ích, nhưng tôi vẫn cứ bị ám ảnh bởi ý nghĩ: làm thế nào mà chính ông, vào chính độ tuổi của tôi bây giờ, đã có được cú tỏa sáng ngoạn mục, có được phút giây thiên tài gõ cửa để viết nên cuốn Nguồn gốc cái xấu xa? Càng ngày câu hỏi này càng trở nên ám ảnh. Vì Harry không ngồi trong phòng làm việc nên tôi tự cho phép mình lục lọi đôi chút. Tôi không thể hình dung nổi điều tôi đã phát hiện ra. Mọi thứ bắt đầu khi tôi mở ngăn kéo để tìm bút viết, tôi thấy ngay một cuốn vở viết tay và một vài tờ giấy rời: bản gốc của Harry. Tôi cảm thấy rất kích động: đây chính là cơ hội ngoài sự mong mỏi để có thể hiểu được Harry đã làm việc như thế nào, để biết bản thảo có đầy những câu chữ tẩy xóa không, hay là thiên tài đến ngự trị trong thầy và câu cú cứ thế tự nhiên tuôn trào. Chưa thỏa mãn, tôi bắt đầu lục những ngăn kéo mong tìm những cuốn sổ khác. Để được tự do trong phòng, tôi phải đợi lúc Harry vắng nhà; vậy mà chỉ có mỗi ngày thứ Năm trong tuần là ông phải đi dạy ở Burrows, đi từ sáng sớm và thường chỉ về đến nhà vào cuối ngày. Chính vì thế, vào chiều thứ Năm ngày 6 tháng Ba năm 2008 đã xảy ra một sự kiện mà tôi quyết phải quên đi ngay lập tức: tôi phát hiện ra thầy Harry có quan hệ với một cô gái mười lăm tuổi trong khi bản thân đã ba mươi tư tuổi. Chuyện xảy ra trong những năm 1975.
Đã dò ra một bí mật của ông, nên tôi tiếp tục tìm kiếm một cách điên cuồng không kiêng nể gì toàn bộ các ngăn kéo trong phòng làm việc, tôi phát hiện ra một hộp gỗ trạm khảm lớn có nắp đóng bằng bản lề đậy kín giấu đằng sau hàng sách. Tôi linh cảm toàn bộ bí mật được chứa đựng bên trong chiếc hộp, có thể là bản viết tay của cuốn Nguồn gốc cái xấu xa. Tôi vồ lấy chiếc hộp và háo hức mở ra, nhưng tôi quá thất vọng, bên trong không có bản thảo: chỉ là mấy tấm ảnh và rất nhiều bài báo được cắt ra. Những tấm ảnh chụp Harry vào thời kì đó, tuổi ba mươi rực rỡ, thanh lịch, kiêu hãnh và đứng cạnh một cô gái rất trẻ. Có bốn năm tấm ảnh và cái nào cũng có cô gái ấy. Một tấm có thầy Harry trên bãi biển, cởi trần, làn da rám nắng và cuồn cuộn cơ bắp, ôm chặt vào lòng cô gái trẻ ấy tươi cười, đeo kính râm gài vào mái tóc dài vàng óng và đang hôn lên má Harry. Phía đằng sau tấm ảnh ghi dòng chú thích: Nola và tôi, Martha’s Vineyard, cuối tháng Bảy năm 1975. Vào lúc đó, quá kích động với những bí mật vừa phát hiện được, tôi không nghe thấy tiếng thầy Harry về nhà sớm hơn nhiều so với thường lệ: tôi không hề nghe thấy tiếng bánh xe chiếc Corvette của ông lăn trên đường vào Goose Cove, cũng chẳng nghe thấy tiếng ông vào nhà. Tôi không nghe thấy gì hết bởi vì trong chiếc hộp gỗ ấy, dưới những tấm ảnh, có một bức thư không để ngày tháng. Một nét chữ trẻ con trên một loại giấy tuyệt đẹp:
Xin anh đừng lo lắng Harry, đừng lo lắng vì em, em sẽ tự tìm cách để gặp anh ở đấy. Hãy đợi em ở phòng số 8, em rất thích con số này, nó là số em thích nhất. Hãy đợi em trong phòng lúc 19 giờ. Sau đó chúng ta sẽ ra đi cùng nhau, sẽ bên nhau mãi mãi. Yêu anh thật nhiều, người yêu dấu của em.
Nola.
Ai là người con gái có tên Nola? Tim đập thình thịch, tôi bắt đầu xem qua các bài báo được cắt: tất cả đều viết về vụ mất tích bí ẩn của người có tên là Nola Kellergan, vào một tối tháng Tám năm 1975; và bức ảnh của người con gái tên là Nola trong các bài báo trùng khớp với bức ảnh của cô gái tên là Nola chụp với thầy Harry. Đúng lúc đó thì ông bước vào, trên tay bê khay đựng cà phê và đĩa bánh bích quy, ông dùng chân đẩy cửa, khi thấy tôi đang quỳ trên thảm chúi mũi vào chiếc hộp gỗ bí mật với tất cả những thứ bên trong nó còn tứ tung trước mặt, ông buông rơi mọi thứ trên tay xuống đất.
– A kìa, anh làm cái gì thế? Ông gào lên. Anh… anh lục lọi hả Marcus? Tôi mời anh đến nhà tôi để anh lục lọi đồ riêng tư của tôi à? Anh là loại bạn bè gì thế ?
Tôi ấp úng những lời xin lỗi không thể tha thứ được:
– Em bất ngờ thấy cái này thôi, thầy Harry. Em vô tình thấy chiếc hộp này, em không lục lọi. Nhẽ ra em không nên mở ra… Em xin lỗi.
– Hiển nhiên là anh không nên mở! Anh có quyền gì! Quyền gì mà mở ra, mẹ kiếp.
Ông giật những tấm ảnh từ tay tôi, vội vàng nhặt những bài báo và đặt cả đống lẫn lộn vào trong hộp và mang đi vào phòng riêng đóng sập cửa lại. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ông như vậy, tôi không thể xác định được thái độ đó là lo sợ hay là điên đại. Từ phía ngoài cửa phòng, tôi không ngớt lời xin lỗi và phân bua rằng tôi không muốn làm ông tổn thương, rằng tôi vớ phải chiếc hộp đó một cách vô tình và không làm gì cả. Tận hai tiếng sau ông mới ra khỏi phòng và bước thẳng xuống phòng khách để liên tục nốc cạn mấy cốc rượu mạnh. Khi ông có vẻ trở nên bình tĩnh hơn, tôi tiến lại gần:
– Thầy Harry, cô gái trẻ ấy là ai thế? Tôi rụt rè hỏi.
Ông cụp mắt xuống, trả lời:
– Nola.
– Nola là ai?
– Làm ơn đừng hỏi Nola là ai.
– Thầy Harry, Nola là ai? Tôi nhắc lại.
– Tôi đã yêu cô ấy, Marcus, yêu thực sự.
– Thế tại sao thấy chưa bao giờ nói cho em biết?
– Chuyện phức tạp lắm…
– Bạn bè với nhau, chẳng có gì là quá phức tạp cả.
Ông nhún vai.
– Vì anh đã thấy những tấm ảnh nên tôi sẽ kể cho anh vậy… Năm 1975 khi đến thành phố Aurora này, tôi đã phải lòng một cô bé mới có mười lăm tuổi. Cô ấy tên là Nola và Nola mãi mãi là người phụ nữ của cuộc đời tôi.
Ông nói đến đó rồi im lặng, tôi đợi một lúc rồi hỏi tiếp:
– Chuyện gì đã xảy ra với Nola?
– Một câu chuyện tồi tệ Marcus ạ. Cô ấy đã biến mất. Vào một buổi tối tháng Tám năm 1975, cô ấy đã biến mất, trước lúc ấy, một phụ nữ nhìn thấy cô ấy mình đầy máu me. Sau đó, không ai còn thấy cô ấy nữa, chẳng có ai biết chuyện gì đã xảy ra.
– Thật đáng sợ, tôi thở dài.
Ông cứ ngồi gật đầu một hồi dài.
– Anh biết không Marcus, Nola đã thay đổi cả đời tôi. Đối với tôi, trở thành nhà văn vĩ đại Harry Quebert không quan trọng mấy. Vinh quang, tiền bạc và cả số phận cuộc đời đối với tôi cũng không quan trọng mấy nếu như tôi có thể bảo vệ được Nola. Tôi không thể làm được điều gì đáng giá hơn mùa hè năm đó khi tôi sống với nàng, nàng đã mang đến cho cuộc đời của tôi xiết bao ý nghĩa.
Kể từ khi quen biết thầy Harry, đó là lần đầu tiên tôi thấy ông ngơ ngác mất phương hướng như vậy. Sau khi nhìn tôi chăm chú một hỏi, ông nói thêm:
– Marcus à, không có ai biết chuyện này hết. Từ bây giờ anh là người duy nhất biết chuyện này. Anh phải giữ kín.
– Hẳn nhiên rồi, Harry.
– Hãy hứa với tôi đi.
– Em xin hứa, Harry, đây là câu chuyện bí mật giữa chúng ta.
– Nếu như ai đó ở Aurora này biết tôi đã có câu chuyện tình như vậy với Nola Kellergan, đời tôi sẽ chấm hết…
– Thầy có thể tin ở em, Harry.
Đó là tất cả những gì tôi biết về Nola Kellergan. Chúng tôi không bao giờ nói về cô ấy nữa, cũng không đã động đến chuyện chiếc hộp gỗ và tôi quyết định đào sâu chôn chặt vĩnh viễn chuyện này ở tận nơi sâu thẳm của trí nhớ, không ngờ rằng, do nhiều tình cờ ngẫu nhiên một vài tháng sau đó , bóng ma của Nola lại hiện về trong cuộc sống của chúng tôi.
Tôi trở về New York vào cuối tháng Ba, sau sáu tuần lưu lại ở Aurora đã không cho phép tôi thai nghén được cuốn đại tiểu thuyết thứ hai. Chỉ còn có ba tháng nữa là hết kì hạn mà Barnaski đưa ra và tôi biết sẽ không còn có cơ may cứu vãn sự nghiệp. Tôi đã tự đốt đi đôi cánh của mình, chính thức lâm vào thời kì mạt vận, tôi là một nhà văn bất hạnh và kém khả năng sáng tạo nhất trong số các nhà văn nổi tiếng của New York. Tuần nối tiếp tuần trôi qua: phần lớn thời gian tôi dành để khẩn trương chuẩn bị cho thất bại của mình. Tôi tìm việc làm khác cho Denise, tôi liên lạc với luật sư nhờ giúp tôi lúc bị nhà xuất bản Schmid & Hanson kiện ra tòa, tôi lên danh sách các đồ vật yêu thích nhất mang đến giấu ở nhà bố mẹ tôi trước khi bị thẩm phán đến gõ cửa. Khi tháng Sáu đến, tháng định mệnh, tháng lên máy chém, tôi bắt đầu tính từng ngày còn lại cho cuộc đời nghệ sĩ của tôi: ba mươi ngày ngắn ngủi, rồi sẽ đến một buổi triệu tập trong phòng làm việc của Barnaski và sẽ là cuộc hành trảm. Đã đến lúc tôi bắt đầu đếm ngược thời gian. Thế nhưng, một sự kiện đầy kịch tính đã xảy ra và lật ngược hoàn toàn ván bài. Tôi hoàn toàn không thể ngờ.
❀ ❀ ❀
[1] Căn phòng xa xỉ trong một khách sạn hạng sang.
[2] Saul bellow (1915-2005), tên thật là Solomon Bellows, là nhà văn Mỹ đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu và giải Nobel Văn học năm 1976.
[3] Arthur Asher Miler (1915-2005), là nhà viết kịch vĩ đại nhất nước Mỹ và thế giới, đoạt giải Pulitzer cho kịch năm 1949, giải Jerusalem 2003.