Sự Thật Về Vụ Án Harry Quebert Hay Chuyện Nàng Nola

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
13
Trận Bão

❊ ❊ ❊

“Marcus yêu quý, sự nguy hiểm của sách là ở chỗ đôi khi anh có thể bị mất kiểm soát. Phát hành cũng có nghĩa là điều mà anh đơn độc viết ra bỗng nhiên thoát khỏi tay anh và bay biến mất giữa đông đảo dân chúng. Thời điểm đó cực nguy hiểm: lúc nào anh cũng phải có khả năng tự chủ. Mất tự chủ đối với chính quyển sách mình viết ra, chính là thảm họa”.

TRÍCH TỪ CÁC TỜ NHẬT BÁO NỔI TIẾNG CỦA BỜ ĐÔNG

Ngày 10 tháng Bảy năm 2008.

Trích từ New York Times:

MARCUS GOLDMAN SẮP VÉN BỨC MÀN BÍ MẬT VỀ VỤ HARRY QUEBERT

Tin đồn nhà văn Marcus Goldman đang viết sách về Harry Quebert nổi lên mấy ngày gần đây trong giới văn hóa. Tin này vừa được khẳng định do có sự rò rỉ thông tin. Hôm qua, một số trang bản thảo của cuốn sách này đã tới tay ban biên tập của nhiều tờ nhật báo quốc gia. Cuốn sách kể lại chi tiết cuộc điều tra tỉ mẩn do Marcus Goldman thực hiện nhằm làm sáng rõ toàn bộ các sự kiện diễn ra vào mùa hè năm 1975 dẫn đến cái chết của Nola Kellergan, cô bé mất tích vào ngày 30 tháng Tám năm 1975. Ngày 12 tháng Sáu năm 2008, người ta đã phát hiện ra hài cốt của Nola được chôn trong vườn nhà Harry Quebert ở Aurora.

Bản quyền cuốn sách đã được nhà xuất bản Schmid & Hanson, một đơn vị quyền lực tại New York mua. Tổng giám đốc của công ty này, ông Roy Barnaski, không tiết lộ bất kì thông tin nào, mặc dù vậy cũng đã cho biết cuốn sách dự kiến sẽ được xuất bản vào mùa thu tới với tựa đề Vụ án Harry Quebert […]

Trích từ Concord Herald:

TIẾT LỘ CỦA MARCUS GOLDMAN

[…] Goldman là người có quan hệ rất gần gũi với Harry Quebert và từng là sinh viên của ông ta ở trường đại học. Chính từ Aurora, Goldman đã tường thuật lại những sự kiện xảy ra gần đây ở thành phố này. Câu chuyện của nhà văn bắt đầu bằng việc phát hiện ra mối quan hệ giữa Quebert và thiếu nữ Nola Kellergan khi cô bé mới mười lăm tuổi.

“Vào mùa xuân năm 2008, gần một năm sau khi tôi trở thành ngôi sao mới nổi của nền văn học nước Mỹ, đã xảy ra một sự kiện mà tôi quyết định chôn chặt trong tâm trí của mình: tôi phát hiện ra thầy giáo dạy tôi hồi đại học, Harry Quebert, sáu mươi bảy tuổi, một trong những nhà văn được cả nước tôn vinh, đã từng có quan hệ với một bé gái mười lăm tuổi khi thầy ở độ tuổi ba mươi tư. Câu chuyện đó đã xảy ra trong suốt mùa hè năm 1975”.

Trích từ Washington Post:

QUẢ BOM MARCUS GOLDMAN

[ … ] Càng điều tra, Goldman càng không ngừng đi hết từ phát hiện này tới phát hiện khác. Đặc biệt, anh kể rằng Nola Kellergan là một cô bé bị bỏ rơi, bị đánh đập và hành hạ, phải chịu hàng loạt các trận đòn dã man, bị nhấn ngập đầu trong nước lạnh. Tình bạn và sự gần gũi với Harry Quebert giúp anh đạt được một sự chín chắn và điềm tĩnh mà từ trước đến nay anh chưa từng có. Điều đó cũng giúp cho anh mơ mộng về một cuộc sống tốt đẹp hơn […]

Trích từ Boston Globe:

CUỘC SỐNG PHÙ DU CỦA CÔ THIẾU NỮ NOLA KELLERGAN

Marcus Goldman phơi bày ra những yếu tố mà báo chí chưa từng biết đến. Nola Kellergan là đối tượng tình dục của ES., nhà kinh doanh hùng mạnh ở Concord, người đã sai tay chân đi tìm kiếm nàng làm món thịt tươi. Nửa phụ nữ, nửa trẻ con, thật béo bở cho các hoang tưởng của cánh đàn ông ở Aurora. Cô bé cũng đã từng là miếng thịt ngon của ông Cảnh sát trưởng trong vùng; ông ta đã ép Nola quan hệ tình dục bằng miệng. Chính gã Cảnh sát trưởng này là người chịu trách nhiệm điều tra vụ Nola mất tích […]

Vậy là tôi đã mất quyền kiểm soát về cuốn sách của mình ngay từ khi thậm chí nó chưa tồn tại.

Đầu giờ sáng thứ Năm ngày 10 tháng Bảy, tôi phát hiện ra các tựa đề lừa gạt của báo chí: tất cả các tờ nhật báo quốc gia đều đưa lên trang nhất mấy đoạn tôi mới viết sơ qua nhưng cắt xén câu chữ, bỏ ra khỏi ngữ cảnh của nó. Các giả thuyết của tôi biến thành các khẳng định thô thiển; những điều giả sử trở thành sự thực mới được phát hiện và các trăn trở suy nghĩ trở thành các phán xét khét tiếng có giá trị. Người ta tháo rời công trình của tôi ra từng bộ phận, phá hủy các ý tưởng, xâm phạm các suy nghĩ của tôi. Người ta đã giết chết Goldman, nhà văn đang trong quá trình bình phục, đang cố gắng một cách khó nhọc thấy lại con đường viết sách.

Khi Aurora thức giấc, cảm xúc bắt đầu gia tăng trong thành phố: dân chúng chết lặng, đọc đi đọc lại các bài báo. Điện thoại trong nhà bắt đầu liên tục đổ chuông, một số người không hài lòng đến tận cửa nhà bấm chuông yêu cầu giải thích. Tôi chỉ có hai lựa chọn, hoặc đối điện trực tiếp với họ hoặc trốn biệt: tôi chọn cách thứ nhất. 10 giờ sáng, tôi nóc cạn hai ly rượu mạnh rồi đến thẳng tiệm Clark’s.

Khi bước qua cửa kính ở lối vào, tôi cảm thấy mọi ánh nhìn của những vị khách quen đổ dồn về tôi như thể ngần ấy mũi dao găm. Tôi ngồi xuống bàn 17, tim đập thình thịch. Jenny vô cùng tức giận, vội chạy lại chỗ tôi nói rằng tôi là thứ rác rưởi tồi tệ nhất. Tôi sợ cô ấy sẽ ném thẳng cả ấm cà phê vào mặt tôi.

– Thế nào hả, cô hùng hổ, cậu đến đây chỉ lợi dụng chúng tôi để kiếm tiền hả? Chỉ để viết những trò đểu cáng về chúng tôi hả?

Mắt cô mọng nước. Tôi cố gắng trấn tĩnh cô:

– Cô Jenny, cô biết đó không phải là sự thật. Mấy đoạn trích đó nhẽ ra không bao giờ được xuất bản. Nhưng…

– Có thật chính cậu viết những điều kinh khủng đó không?

– Những câu văn đó bị tách khỏi ngữ cảnh nên mới trở nên kinh khủng như vậy.

– Nhưng chính cậu đã viết ra những từ ngữ đó phải không?

– Đúng. Nhưng…

– Không nhưng gì cả, cậu Marcus!

– Cháu cam đoan mình không hề có định kiến với bất kì ai, bất kì điều gì

– Không muốn có định kiến à? Cậu có muốn tôi trích ra từ tuyệt tác của cậu không hả? (Cô mở một cuốn sổ nhật kí ra). Nhìn này, đây, nó được viết rõ ràng đây: Jenny Quinn, nữ nhân viên phục vụ tại tiệm Clark’s, đã phải lòng Harry ngay từ ngày đầu tiên…Cậu định nghĩa về tôi như vậy đó hả? Một nữ hầu bàn, một kẻ hèn hạ thèm nhỏ dãi tình yêu của Harry phải không?

– Cô biết đó không phải là sự thật mà…

– Nhưng Chúa ơi, nó được viết rõ ràng ra đó! Nó được viết trên tất cả các tờ báo của cải đất nước chết tiệt này! Mọi người đều đọc nó! Bạn bè tôi, gia đình tôi, chồng tôi!

Jenny hét lên. Khách hàng im lặng quan sát. Vì không muốn gây căng thẳng nên tôi bỏ đi, tôi đến thư viện, hi vọng Erne Pinkas sẽ là đồng minh của tôi, có thể chia sẻ với tôi thảm họa khi ngôn từ không được sử dụng đúng cách. Nhưng chính ông cũng chẳng tha thiết gặp tôi.

– Ô này, đại văn hào Goldman, ông ta nói khi thấy tôi. Cậu tới đây tìm thêm những điều kinh khủng để viết về thành phố này đấy à?

– Cháu thật sự kinh hoàng khi thông tin bị rò rỉ và lan truyền như vậy, bác Erne ạ.

– Kinh hoàng ư? Hãy dừng ngay màn kịch của cậu đi. Báo chí, internet, truyền hình không nói gì khác ngoài cậu! Chắc cậu phải hài lòng lắm nhỉ. Dù sao thì tôi cũng hi vọng cậu có thể lợi dụng hết các thông tin tôi cung cấp. Marcus Goldman vị thượng đế tối cao của Aurora thò mặt vào đây bảo: tôi cần biết cái này, tôi cần biết cái kia. Chả bao giờ mở mồm nói nữa lời cám ơn, cứ như thể đó là chuyện đương phiên, cứ như thể tôi là loại nằm dưới gót giầy của nhà văn vĩ đại Marcus Goldman. Cậu có biết cuối tuần này tôi làm gì không? Tôi đã bảy mươi lăm tuổi rồi, cứ cách một Chủ nhật tôi lại phải đi làm thêm ngoài siêu thị Montburry mới kiếm đủ cái ăn cho hết tháng. Tôi lượm xe đẩy hàng ở bãi đỗ xe rồi đẩy chúng đến phía trước cửa hàng. Tôi biết rằng công việc này không có gì là vinh quang, tôi không phải là siêu sao như cậu, nhưng tôi có quyền được tôn trọng, phải không nào?

– Cháu rất tiếc.

– Tiếc à? Cậu có tiếc cái quái gì đâu! Cậu không hiểu vì cậu chưa bao giờ quan tâm, Marc ạ. Cậu chưa bao giờ quan tâm tới bất kì ai ở Aurora. Đối với cậu, tất cả chỉ vì vinh quang. Nhưng vinh quang cũng có hậu quả đấy!

– Cháu thực lòng lấy làm tiếc, bác Erne ạ. Nếu bác muốn thì chúng ta đi ăn nhé!

– Tôi không muốn đi ăn! Tôi muốn cậu để tôi được yên! Tôi còn phải sắp xếp hàng chồng sách. Sách mới quan trọng. Còn cậu chả là cái thá gì cả.

Tôi trở về giam mình ở Goose Cove, cảm giác sợ hãi. Marcus Goldman, đứa con nuôi của Aurora, dù bản thân không mong muốn, đã phản bội lại chính gia đình của mình. Tôi gọi điện cho Douglas, yêu cầu cậu ấy phải đăng thông cáo bác bỏ các thông tin do báo chí công bố.

– Thông cáo bác bỏ chuyện gì? Báo chí chỉ làm mỗi một việc là nhặt ra những điều cậu đã viết. Dù sao thì chỉ hai tháng nữa thôi là nó được xuất bản rồi.

– Báo chí bóp méo hết cả! Không có bất kì điều gì họ diễn đạt lại giống với cuốn sách của mình!

– Thôi đi nào, Marc. Đừng làm to chuyện ra như vậy. Cậu phải tập trung vào văn chương của cậu, đó là việc cần thiết. Trước mắt cậu còn rất ít thời gian. Cậu còn nhớ cách đây ba ngày, chúng ta gặp nhau ở Boston và cậu đã kí hợp đồng trị giá cả triệu đô dể viết xong cuốn sách trong vòng bảy tuần chứ?

– Mình biết rồi, biết rồi! Nhưng điều đó không có nghĩa rằng nó sẽ là đống giấy chùi đít!

– Một cuốn sách viết ra trong vài tuần là một cuốn sách viết ra trong vài tuần… Harry cũng chỉ cần vài tuần để viết nên Nguồn gốc cái xấu xa.

– Harry là Harry, không biết cậu có hiểu mình muốn nói gì không?

– Không, tớ không hiểu. Harry là một nhà văn cực lớn!

– Cảm ơn! Rất cảm ơn! Thế còn mình?

– Cậu biết là tớ không định nói như thế… Cậu là nhà văn, có thể gọi là… nhà văn hiện đại. Người ta thích cậu vì cậu còn trẻ, năng động… và hiện đại. Cậu là nhà văn hiện đại. Đấy, thế đấy! Mọi người không mong đợi cậu giật được giải Pulitzer, người ta thích sách của cậu bởi vì nó là xu thế của thời đại, bởi vì nó giúp người ta tiêu khiển, thế là đã tốt rồi.

– Cậu nghĩ đúng như thế à? Cậu nghĩ mình chỉ là nhà văn làm trò tiêu khiển cho thiên hạ à?

– Đừng có bóp méo điều tớ nói nhé Marc. Nhưng mà… Thế cậu không ý thức được rằng độc giả thích cậu tại vì cậu… đẹp trai à.

– Đẹp trai à? Thật càng lúc càng tệ.

– Thôi đi, Marc, cậu thấy rõ tớ có thể nói đến đâu! Cậu truyền tải tới công chúng một hình ảnh nhất định. Như tớ đã nói với cậu đấy, cậu đang là xu thế của thời đại. Tất cả mọi người đều yêu quý cậu. Cậu vừa là người bạn tốt, vừa là người tình bí ẩn, kiểu rất lí tưởng… Chính vì vậy Vụ án Harry Quebert sẽ gặt thành công lớn. Điên thật, cuốn sách còn chưa có, thế mà đã bán đắt như tôm tươi rồi. Trong suốt cuộc đời sự nghiệp, tớ chưa bao giờ thấy điều tương tự.

– Cậu vừa nói cái gì, Vụ án Harry Quebert à?

– Ý tớ là tựa đề của cuốn sách.

– Thế là thế nào, sao lại là tựa đề của cuốn sách?

– Thì chính cậu viết như thế trong tập bản thảo của cậu còn gì.

– Đó mới chỉ là tựa đề tạm thời. Mình để rõ ngay ở đầu trang: tựa đề tạm thời. Tạm thời. Cậu có hiểu không, nó là tính từ chỉ một cái gì đó chưa được quyết định dứt khoát.

– Barnaski chưa báo cho cậu à? Phòng marketing cho rằng tựa đề này quá hoàn hảo. Họ quyết định như vậy tối qua trong cuộc họp khẩn bất thường vì vụ rò rỉ thông tin. Họ quyết định phải lợi dụng điều này một cách tốt nhất, biến nó thành một công cụ marketing. Sáng nay, họ đã bắt đầu chiến dịch quảng cáo cho cuốn sách. Tớ tưởng cậu biết rồi. Lên internet mà xem.

– Cậu tưởng à? Mẹ kiếp, Doug! Cậu là đại diện của mình! Cậu không được tưởng mà phải hành động. Cậu phải đảm bảo cho mình biết tất cả mọi việc diễn ra xung quanh cuốn sách của mình chứ, mẹ kiếp!

Tôi điên tiết dập điện thoại, chạy lại phía máy tính. Trên trang đầu tiên của website Schmid & Hanson hoàn toàn chỉ có thông tin liên quan tới cuốn sách. Có một tấm ảnh màu khổ to của tôi và mấy tấm ảnh đen trắng về Aurora minh họa đoạn văn sau:

VỤ ÁN HARRY QUEBERT

Marcus Goldman kể về vụ mất tích của Nola Kellergan

Xuất bản mùa thu.

Hãy đặt mua ngay từ bây giờ!

13 giờ cùng ngày, sau kết quả giám định chữ viết, phiên tòa do văn phòng công tố triệu tập sẽ phải làm việc. Cánh nhà báo kéo đến rất đông, dồn lên trên cầu thang tòa án ở Concord, trong khi đó trên các kênh truyền hình tường thuật trực tiếp vụ xét xử, phát thanh viên lại lập lại những lời tiết lộ mà báo chí đã đưa tin.

Một giờ trước khi mở phiên tòa, tôi gọi điện cho Roth thông bảo tôi sẽ không đến tòa án.

– Anh bỏ trốn à Marcus? Anh ta chỉ trích tôi. Thôi đi, đừng giả vờ nhút nhát: cuốn sách này là ân huệ đối với tất cả mọi người. Nó sẽ gột hết tội lỗi cho Harry, làm cho sự nghiệp của anh thêm bền vững và cũng làm cho uy tín của tôi nhảy vọt lên một bậc: tôi sẽ không còn là Roth ở Concord nữa, mà tôi sẽ là Roth được nói đến trong tác phẩm best-seller! Cuốn sách này ra rất đúng thời điểm. Nhất là đối với anh. Hai năm anh không viết được gì cũng chẳng sao.

– Im đi Roth! Anh không biết anh đang nói gì đâu!

– Thế còn anh, Goldman, hạ màn đi! Anh biết rõ là sách của anh sẽ mang lại điều bất hạnh. Anh tiết lộ cho tất cả đất nước này thấy tại sao Harry là kẻ đồi bại. Anh đang gặp khó khăn trong việc tìm cảm hứng đang không biết viết gì thì bỗng nhiên anh vớ được cơ hội viết cầm chắc thành công.

– Mấy trang viết đó nhẽ ra không bao giờ được tới tay báo chí.

– Nhưng những trang đó do chính anh viết. Không cần phải suy nghĩ nhiều, hôm nay tôi tính sẽ đưa Harry ra khỏi nhà tù. Hiển nhiên là nhờ anh. Tôi nghĩ ông thẩm phán cũng phải đọc báo rồi, vậy nên tôi sẽ không cần nhọc công thuyết phục rằng Nola là loại gái đĩ tự nguyện.

– Đừng làm thế, Roth! Tôi kêu lên.

– Tại sao lại không?

– Bởi vì Nola không phải như vậy. Và Harry yêu Nola! Harry yêu cô ấy!

Nhưng anh ta đã đập máy. Không lâu sau, tôi đã thấy Roth xuất hiện trên truyền hình, vẻ đắc thắng, ung dung bước lên những bậc thang của tòa án với nụ cười rạng rỡ. Cánh nhà báo giơ micrô ra trước mặt anh ta, hỏi anh ta những điều viết trên báo chỉ có đúng hay không: Nola Kellergan phải chăng đã quan hệ với tất cả đàn ông trong thành phố? Liệu cuộc điều tra có phải bắt đầu lại từ đầu hay không? Còn anh ta thì vui vẻ khẳng định tất cả mọi điều người ta hỏi.

Phiên tòa trở thành buổi lễ giải phóng cho Harry. Nó kéo dài chưa được 20 phút, theo kết luận của tòa, toàn bộ vụ án xì hơi như ống thổi. Bằng chứng có trọng lượng nhất là tập bản thảo thì hoàn toàn mất hết giá trị khi thông điệp Vĩnh biệt, Nola yêu quý không phải do Harry viết. Những chi tiết khác được phủ định sạch như cắt cỏ: lời buộc tội của bà Tamara Quinn không đáng tin do không hề có bằng chứng cụ thể, chiếc Chevrolet Monte Carlo màu đen thời đó thậm chí còn không bị coi là chứng cứ có trọng lượng. Cuộc điều tra giống mớ bòng bong khổng lồ. Chủ tọa quyết định, vì có những yếu tố mới vừa được phát hiện, nên Harry Quebert sẽ được thả tự do nếu đặt cọc một khoản là nửa triệu đô la.

Toàn bộ cánh nhà báo điên loạn vì cú đảo chiều ngoạn mục này. Tin đồn rộ lên, có lẽ vì muốn khuếch trương thanh thế nên ngài chưởng lý mới cho bắt bỏ tù Harry để mua vui dân chúng. Tại tòa, mọi người được chứng kiến màn trình diễn của cả hai bên: mới đầu là Roth hớn hở tuyên bố rằng sau khi gom xong tiền đặt cọc, ngày mai Harry sẽ là người tự do; sau đó đến vị chưởng lý nỗ lực giải thích tính lô gích trong điều tra của ông ta nhưng không mấy thuyết phục!

Khi cảm thấy quá chán với các màn diễn của tòa án qua màn ảnh nhỏ, tôi đứng lên đi chạy. Tôi có nhu cầu phải chạy thật xa, thử thách cơ thể mình. Tôi có nhu cầu phải cảm thấy mình đang sống. Tôi chạy đến tận hồ Montburry, ở đây tụ tập rất đông trẻ con và các gia đình. Trên đường về, gần tới Goose Cove, một chiếc xe cứu hỏa vượt qua tôi, một chiếc khác bám sát theo và sau cùng là xe cảnh sát. Cùng lúc đó, tôi nhìn thấy làn khói xám và dày bốc lên từ rặng thông. Ngay lập tức tôi hiểu ra: ngôi nhà đang bị cháy. Vụ hỏa hoạn xảy ra, những lời đe dọa đã thành hiện thực.

Tôi co cẳng chạy cật lực như chưa bao giờ từng chạy như vậy, vội vàng về cứu lấy ngôi nhà của nhà văn mà tôi xiết bao quý mến. Lính cứu hỏa tới đông, nhưng lửa quá lớn, đã nuốt chửng toàn bộ mái hiên. Tất cả đang cháy rụi. Cách đám cháy khoảng chục mét, bên cạnh đường, một viên cảnh sát ngắm nhìn mui xe của tôi có viết mấy chữ bằng sơn đỏ Đốt đi, Goldman, đốt đi.

* * *

10 giờ sáng hôm sau, đám cháy vẫn còn bốc khói. Phần lớn ngôi nhà đã bị phá hủy. Cảnh sát đặc nhiệm đang làm việc giữa đống đổ nát trong khi đó đội cứu hỏa cố gắng không cho đám cháy bùng lại. Theo quy mô của đám cháy mà phán đoán, thì xăng hoặc một sản phẩm kích cháy cùng loại đã được đổ xuống hiên. Lửa lập tức lan rộng. Toàn bộ hiên nhà, sân và phòng khách bị cháy rụi, thậm chí cả bếp cũng bén lửa. Tầng một tuy tránh được lưỡi lửa nhưng lại bị ám khói, đặc biệt bị hư hỏng nặng khi lính cứu hỏa dùng nước để dập lửa.

Tôi chẳng khác gì một bóng ma, vẫn mặc nguyên bộ quần áo thể thao, ngồi bệt xuống cỏ nhìn đống đổ nát và tro tàn. Tôi ngồi đó cả đêm. Cạnh chân tôi là chiếc túi còn nguyên vẹn được lính cứu hỏa lấy từ trong nhà: bên trong có ít quần áo và chiếc máy tính.

Tôi nghe thấy tiếng ô tô đến gần và những tiếng xì xào sau lưng. Harry tới. Ông vừa được thả. Tôi đã báo tin cho Roth và tôi biết Harry chắc chắn đã được biết về thảm kịch này. Ông bước vài bước về phía tôi, rồi ông ngồi xuống cỏ, lẳng lặng nói với tôi:

– Anh sao thế, Marcus?

– Em không biết phải nói gì, thầy Harry.

– Không cần nói gì hết. Cứ nhìn điều anh làm. Không cần phải nói.

– Thầy Harry, em…

Ông nhìn thấy chữ viết trên mui chiếc xe Range Rover của tôi rồi hỏi:

– Ô tô của anh không bị sao à?

– Không ạ.

– Thế thì càng tốt. Vì anh sẽ lên xe và biến khỏi đây ngay lập tức.

– Thầy Harry…

– Cô ấy yêu tôi, Marcus! Cô ấy yêu tôi! Và tôi cũng yêu cô ấy, tôi không bao giờ còn yêu ai sau đó. Tại sao anh lại viết những điều kinh hoàng ấy chứ? Anh có biết vấn đề của anh là gì không? Anh chưa bao giờ được yêu! Chưa bao giờ ! Anh muốn viết truyện tình, nhưng lại chẳng biết tình yêu là gì! Bây giờ, tôi muốn anh đi ngay khỏi đây! Chào anh.

– Em chưa bao giờ miêu tả, cũng chưa bao giờ nghĩ về Nola giống như báo chí viết. Họ đánh tráo ý nghĩa của các ngôn từ em viết, thầy Harry ạ.

– Thế sao anh lại cho phép Barnaski gửi đống giấy chùi đít ấy đến tất cả các tờ báo quốc gia?

– Không, đó là do mất trộm!

Ông cười điên dại.

– Mất trộm à! Đừng nói là anh ngây thơ đến mức tin vào chuyện bịa của Barnaski! Tôi khẳng định với anh, chính hắn đã copy và gửi đống giấy chết tiệt của anh đi khắp đất nước này.

– Cái gì? Sao lại thế…

Ông cắt ngang lời tôi.

– Marcus, ước gì tôi chưa bao giờ gặp anh. Giờ thì đi đi. Anh đang đứng trên mảnh đất của tôi, bây giờ anh không được chào đón nữa.

Yên lặng kéo dài một lúc lâu. Lính cứu hỏa và cả nhân viên cảnh sát đều đứng nhìn chúng tôi. Tôi với lấy chiếc túi, nhảy lên ô tô và ra đi. Ngay lập tức, tôi gọi điện cho Barnaski.

– Thật vui được nghe giọng nói của anh, Goldman, ông ta nói. Tôi vừa mới biết tin về ngôi nhà của Quebert. Tin tức này được phát trên tất cả các kênh truyền thông. Thật mừng vì biết rằng anh không làm sao cả. Tôi không nói chuyện với anh lâu được, tôi có cuộc hẹn gặp với ban lãnh đạo của Warner Bros: đạo diễn đã xếp hàng dài xin dựng phim Vụ án bắt đầu từ trang đầu tiên. Họ rất phấn khởi. Tôi nghĩ chúng ta có thể bán cho họ bản quyền để kiếm thêm một gia tài nho nhỏ.

Tôi ngắt lời ông ta:

– Không có sách vở gì cả, Roy.

– Anh huyên thuyên cái gì thế?

– Chính ông phải không? Chính ông đã gửi những trang viết của tôi cho giới báo chí! Ông phá hỏng bét hết cả!

– Đừng thay đổi xoành xoạch như chong chóng thế chứ, anh Goldman. Tệ hơn nữa, anh chơi trò siêu sao sang chảnh không làm tôi vui lòng một tí nào! Anh tham gia màn kịch lớn, đóng vai thám tử rồi bỗng nhiên lên cơn đồng bóng, đòi dừng hết cả lại. Anh biết không, tôi coi như là anh mới phải trải qua một đêm mất ngủ mà hành động dại dột như vậy, và quên cuộc gọi điện thoại này. Không có sách vở gì cả, đúng là… anh cho mình là ai thế hả Goldman?

– Là một nhà văn tự do thực sự. Viết có nghĩa là được tự do.

Ông ta cố rặn ra để cười.

– Ai nhét vào đầu anh ý tưởng ngu ngốc như vậy? Anh là nô lệ cho sự nghiệp của anh, cho ý tưởng của anh, cho sự thành công của anh. Anh là nô lệ của các điều kiện của anh. Viết, có nghĩa là phụ thuộc. Phụ thuộc vào những người đọc sách của anh và phụ thuộc cả vào những người không đọc sách của anh. Tự do là sự bịa đặt khốn nạn! Không có ai tự do cả. Tôi nắm một phần tự do của anh trong tay, cũng như tất cả cổ đông của công ty nắm một phần tự do của tôi trong tay họ. Cuộc sống là như vậy đấy, Goldman. Không ai có tự do cả. Nếu con người có tự do thì họ sẽ hạnh phúc. Thế anh có biết ai thực sự hạnh phúc không? (Vì tôi im lặng, ông ta lại nói tiếp). Anh biết rồi, tự do là khái niệm hay đấy. Tôi biết một tay kinh doanh ở Wall Street, cực kì giàu có, vàng dát đầy người và ai ai cũng mỉm cười với anh ta. Một hôm, anh ta muốn trở thành người đàn ông tự do. Anh ta xem phóng sự về Alaska, bộ phim ấy gây cho anh ta một cú sốc mạnh. Thế là anh ta quyết định trở thành người đi săn, sống bằng khí trời trong lành, tự do và hạnh phúc. Anh ta vứt bỏ hết tất cả, đi đến miền nam của Alaska, phía Wrangell. Thế rồi anh biết không, hắn đã từng thành công mọi thứ trong cuộc sống và cũng đã thành công tương tự ở thử thách này: tức là hắn đã trở thành người đàn ông thực sự tự do. Không ràng buộc, không gia đình, không nhà cửa: chỉ có vài con chó và một cái lều. Hắn đã là người đàn ông duy nhất thực sự tự do mà tôi biết.

– Hắn đã là à?

– Đúng, đã là. Anh chàng đã rất tự do trong vòng ba tháng, từ tháng Sáu đến tháng Mười. Rồi rốt cuộc khi mùa đông tới, anh ta chết cóng vì lạnh sau khi chén hết cả lũ chó vì thất vọng. Không ai tự do cả; Goldman ạ, ngay cả những người thợ săn ở Alaska. Đặc biệt là ở trên đất Mỹ, nơi tất cả những người Mỹ chân chính đều phải phụ thuộc vào hệ thống, người Inuit phụ thuộc vào viện trợ của chính phủ và rượu những người Indien tự do nhưng lại bị nhốt trong các vườn thú dành cho người mà ta gọi là khu bảo tồn, ở đó họ buộc phải nhảy đi nhảy lại những điệu múa đáng thương liên tục dưới trời mưa, mua vui cho đám khách du lịch. Không có ai có tự do cả, con trai của ta ạ. Chúng ta là tù nhân của những người khác và của chính chúng ta.

Trong khi Barnaski nói thì tôi bỗng nghe thấy tiếng còi hụ phía sau: tôi bị xe cảnh sát đuổi theo. Tôi dập điện thoại, đỗ lại bên đường, nghĩ chắc tôi bị bắt do sử dụng điện thoại trong khi lái xe. Nhưng từ xe cảnh sát, trung sĩ Gahalowood bước ra. Anh ta tiến lại phía cửa sổ xe tôi và nói:

– Anh đang quay về New York đấy à, nhà văn.

– Ai bảo anh thế?

– Thì anh đang đi theo hướng về New York.

– Ồ, chẳng hiểu sao tôi tự nhiên chạy theo hướng này, không suy nghĩ gì cả.

– Bản năng tồn tại chăng?

– Anh nói chuẩn xác quá. Làm thế nào anh biết là tôi?

– Chắc anh không để ý, nhưng trên mui xe viết tên anh. Bây giờ không phải là lúc về nhà đâu, nhà văn ạ.

– Nhà của Harry bị cháy rồi.

– Tôi biết rồi. Chính vì vậy tôi ở đây gặp anh. Anh không thể về New York được.

– Tại sao?

– Tại vì anh là một tay dũng cảm. Trong suốt cuộc đời sự nghiệp, tôi hiếm khi gặp được một người kiên cường như anh.

– Người ta phá hỏng hết cuốn sách của tôi rồi.

– Nhưng anh còn chưa viết cuốn sách đó cơ mà: số phận anh còn đang nằm trong tay anh! Anh vẫn có thể làm được tất cả! Anh có thiên bẩm viết sách! Thế thì hãy bắt tay vào việc và viết một tuyệt tác! Anh là người biết đấu tranh, nhà văn ạ. Anh là người biết đấu tranh, và anh có cuốn sách phải viết. Anh có những điều phải nói! Xin anh thứ lỗi, nhưng anh cũng đã đặt tôi vào tình huống cứt đái đến tận cổ. Tay chưởng lý bị rơi vào tình cảnh không mấy vui vẻ nên tôi cũng bị dính theo. Chính tôi đã bảo với ông ta phải nhanh chóng bắt Harry. Tôi nghĩ ba mươi ba năm sau khi vụ việc xảy ra, bị bắt bất ngờ chắc chắn sẽ làm cho Harry sợ hãi. Tôi đã nhầm lẫn như kẻ mới vào nghề. Rồi anh nhúng mũi vào, với đôi giày đánh xi bóng loáng trị giá bằng cả tháng lương của tôi. Tôi sẽ không diễn vở kịch tình cảm sướt mướt ngay bên lề đường, nhưng…đừng bỏ đi. Chúng ta cần phải hợp tác với nhau để kết thúc cuộc điều tra này.

– Tôi chẳng còn có chỗ ngủ nữa. Ngôi nhà bị cháy…

– Anh vừa đút túi một triệu đô la. Trên báo viết như vậy đấy. Anh cứ việc ngủ phòng hạng siêu sang trong khách sạn nào đó ở Concord. Tôi sẽ đưa thêm cho anh hóa đơn các bữa trưa của tôi để anh thanh toán luôn thể. Tôi đang chết đói đây. Lên đường thôi, nhà văn. Chúng ta còn có rất nhiều việc phải làm.

* * *

Trong suốt một tuần sau đó, tôi không hề đặt chân tới Aurora. Tôi thuê hẳn một phòng hạng siêu sang ở Regent’s, trung tâm Concord, tại đó, suốt ngày tôi chỉ cúi mặt hoặc vào cuộc điều tra, hoặc vào cuốn sách. Tôi chỉ nhận được tin tức của Harry thông qua Roth, anh ta báo cho tôi biết rằng ông đã tới ở tại phòng số 8 của nhà nghỉ Sea Side. Roth bảo Harry không còn muốn gặp lại tôi nữa vì tôi đã làm dơ bẩn tên Nola. Anh ta còn nói thêm:

– Xét cho cùng, tại sao anh lại đi kể với toàn giới báo chí rằng Nola là loại gái lăng loàn không tự tin vào bản thân?

Tôi định cố bảo vệ mình:

– Tôi không hề kể lể gì hết! Tôi mới viết có vài trang rồi đưa cho gã Roy Barnaski khốn kiếp vì ông ta muốn yên tâm thấy công việc của tôi có tiến triển. Ông ta cố ý sắp đặt cho tất cả các báo in tin dưới dạng là một vụ trộm.

– Nếu mà anh đã nói vậy thì…

– Nhân danh Chúa, không phải tôi cố tình nói vậy mà đó là sự thực!

– Dù sao đi nữa thì cũng hoan hô nghệ sĩ. Tôi không thể làm tốt hơn được.

– Anh muốn nói gì?

– Biến nạn nhân thành tội phạm, cách tốt nhất để bác bỏ lời kết tội.

– Harry được thả tự do trên cơ sở nghiên cứu nét chữ. Anh biết rõ điều đó hơn cả tôi.

– Ôi giời ơi, Marcus, như tôi đã nói với anh rồi, tòa án cũng chỉ là những con người cả thôi. Điều đầu tiên họ làm hàng sáng lúc uống cà phê, đó là đọc báo.

Roth là người nông dân xôi thịt nhưng không đến nỗi đáng ghét, cũng cố gắng an ủi tôi bằng cách giải thích rằng Harry rất rối loạn vì mất Goose Cove, nhưng rồi cảnh sát sẽ nhanh chóng tóm được hung thủ và Harry khi đó sẽ cảm thấy tốt hơn nhiều. Về vấn đề này, các điều tra viên hiện đang có hướng đi nghiêm túc: ngày hôm sau vụ hỏa hoạn, sau khi tìm kĩ xung quanh ngôi nhà, họ phát hiện trên bãi biển có bi đông đựng xăng giấu trong lùm cây, trên bi đông vẫn còn dấu vân tay. Nhưng không may là dấu vân tay này không trùng với bất kì dấu vân tay nào mà cảnh sát lưu giữ. Gahalowood cho rằng, nếu không có những yếu tố khác, rất khó mà nhầm lần được tội phạm. Theo Gahalowood, hẳn đây là một công dân gương mẫu nhất, trước kia chưa có tiền án tiến sự nên sẽ không bao giờ gây chú ý của mọi người. Tuy nhiên, ông ta cho rằng có thể thu hẹp đối tượng tình nghi là người trong vùng, ai đó ở Aurora, sau khi gây tội giữa ban ngày đã vội vàng thủ tiêu tang vật cồng kềnh vì sợ những người đi đạo ở đó phát hiện.

Tôi có sáu tuần để lật ngược diễn biến sự việc và biến cuốn sách của tôi thành tuyệt tác. Đã đến lúc phải chiến đấu, phải trở thành nhà văn như tôi mong muốn. Tôi dành buổi sáng để viết sách, còn buổi chiều tôi làm việc cùng Gahalowood. Anh ta đã biến căn phòng hạng siêu sang của tôi thành phòng làm việc phụ của mình, yêu cầu nhân viên phục vụ ở khách sạn chuyên chở những tập tài liệu chứa đầy bằng chứng, báo cáo, trích báo, ảnh và các lưu trữ khác.

Chúng tôi nghiên cứu lại từ đầu toàn bộ cuộc điều tra: chúng tôi đọc lại tất cả các báo cáo của cảnh sát, nghiên cứu tất cả lời khai của các nhân chứng thời kì đó. Chúng tôi vẽ bản đồ Aurora và những vùng lân cận, cùng tính toán các khoảng cách, từ nhà gia đình Kellergan tới Goose Cove, rồi từ Goose Cove tới đường Side Creek. Gahalowood đến tận nơi kiểm tra toàn bộ thời gian để di chuyển trên các quãng đường bằng xe hơi cũng như đi bộ, thậm chí anh ta còn kiểm tra lại cả thời gian can thiệp của cảnh sát địa phương tới các sự việc, thực sự là họ đã phản ứng rất nhanh.

– Khó mà chê trách được những gì Cảnh sát trưởng Pratt đã làm, tôi nói. Cuộc điều tra được tiến hành rất chuyên nghiệp. Còn về phần Harry, thì chúng ta biết rằng thông điệp trên tập bản thảo không phải do ông ấy viết. Thế thì tại sao Nola lại được chôn ở Goose Cove?

– Hẳn là để được yên, Gahalowood gợi ý. Anh có bảo với tôi, Harry kể cho tất cả mọi người rằng có lúc anh ta vắng mặt mấy ngày ở Aurora.

– Chính xác. Vậy theo anh, hung thủ biết Harry không có nhà?

– Có thể. Nhưng khi quay về, Harry lại không nhận ra có người đào hố ở gần nhà mình, công nhận điều này hơi lạ…

– Lúc đó ông ấy không được bình thường, tôi nói. Ông ấy lo lắng, suy sụp. Ông ấy chỉ ngồi đợi Nola. Thế thì cũng rất dễ hiểu khi ông ấy không nhận thấy vết đào bới, nhất là ở Goose Cove hễ trời chỉ hơi mưa là đất hoàn toàn biến thành bùn.

– Thế thì tôi cũng có thể đồng ý với anh. Vậy là, hung thủ biết chắc không ai đến làm phiền hắn ở đây. Nếu như người ta tìm ra bộ hài cốt, thì ai sẽ là người bị kết tội?

– Harry.

– Chuẩn rồi, nhà văn ạ.

– Thế thì tại sao lại có dòng chữ ấy? Tôi hỏi. Tại sao lại viết Vĩnh biệt Nola yêu quý?

– Câu hỏi này trị giá một triệu đô la, nhà văn ạ. Tức là, nếu tôi được phép nói, thì ý tôi là đây là câu hỏi dành cho anh đó.

Vấn đề chính chúng tôi gặp phải đó là các hướng nghiên cứu đang rất mông lung. Rất nhiều câu hỏi quan trọng vẫn tắc tị, Gahalowood ghi hết lên tờ giấy khổ lớn.

- Elijah Stern

Tại sao hắn trả tiền cho Nola để vẽ cô ấy? Động cơ nào giết chết Nola?

- Luther Caleb

Tại sao hắn vẽ Nola? Tại sao hắn lại lảng vảng ở Aurora? Động cơ nào giết Nola?

- David và Louisa Kellergan

Họ có đánh đập con gái mình quá đáng không? Tại sao họ giấu giếm ý định tự tử của Nola và vụ trốn nhà đi Martha’s Vineyard?

- Harry Quebert

Có phải là thủ phạm?

- Cảnh sát trưởng Gareth Pratt

Tại sao Nola lại quan hệ với ông ta? Động cơ: có bị Nola dọa tố cáo không?

- Tamara Quinn khẳng định tờ giấy lấy trộm ở nhà Harry bị mất cắp có đúng không? Ai đột nhập vào tiệm Clark’s?

- Ai là người viết những bức thư nặc danh cho Harry? Ai là người biết chuyện kể từ ba mươi ba năm nay mà không bao giờ hé răng?

- Ai là người đốt Goose Cove? Ai là người không muốn cuộc điều tra này kết thúc?

Buổi tối mà Gahalowood ghim tờ giấy trên tường trong căn phòng của tôi ở khách sạn, anh ta thở một cái rõ dài, đầy thất vọng.

– Chúng ta càng điều tra thì tôi càng thấy sự việc mờ mịt hơn, anh ta nói. Tôi nghĩ phải có một yếu tố trung tâm nối kết những con người và những sự kiện này với nhau. Đó chính là chìa khóa của cuộc điều tra! Nếu chúng ta tìm ra được mối liên hệ đó, chúng ta sẽ tìm ra thủ phạm.

Anh ta đổ gục xuống ghế bành. Lúc đó là 19 giờ, Gahalowood không còn chút năng lượng nào để suy nghĩ tiếp. Như những ngày trước đó, vào giờ này, tôi chuẩn bị ra ngoài để làm việc thường làm: tôi đấm bốc trở lại. Tôi tìm ra một phòng đấm bốc cách khách sạn 15 phút chạy xe và quyết định nghiêm túc quay trở lại võ đài. Chính nhân viên bảo vệ khách sạn giới thiệu nơi này cho tôi và anh ta cũng tập ở đó. Kể từ khi ở Regent’s, tối nào tôi cũng đến phòng tập này.

– Anh đi đâu mà ăn mặc như vậy? Gahalowood hỏi.

– Đấm bốc. Anh có muốn đi cùng không?

– Chắc chắn không.

Tôi nhét đồ vào túi xách và chào anh ta:

– Cứ ở đấy đến khi nào anh muốn, trung sĩ nhé. Khi về chỉ cần sập cửa lại là được.

– Ồ , đừng lo lắng gì cả, tôi chỉ ghé qua phòng làm việc thôi. Anh đi đấm bốc thật đấy à?

– Đúng.

Anh ta do dự một chút, rồi khi tôi đã đi qua cửa phòng, anh ta liền gọi:

– Đợi tôi một tí, nhà văn, thôi, tôi đi cùng với anh!

– Sao anh lại thay đổi ý kiến thế?

– Vì tôi muốn hạ gục anh. Tại sao anh lại thích đấm bốc hả nhà văn?

– Đó là cả một câu chuyện dài, trung sĩ ạ.

Thứ Năm ngày 17 tháng Bảy, chúng tôi đến gặp Neil Rodik, đại úy cảnh sát đã cùng chỉ đạo cuộc điều tra năm 1975. Hiện nay ông ấy đã tám mươi lăm tuổi, sống trên xe lăn, trong ngôi nhà dành cho người già bên bờ biển. Ông ấy vẫn còn nhớ những nghiên cứu thảm họa về Nola. Ông ấy nói đó là vụ án kéo dài cả đời ông ta.

– Đứa bé gái biến mất, thật không thể tưởng tượng nổi! Ông kêu lên. Một người phụ nữ thấy nó người đầy máu chạy ra khỏi rừng. Trong lúc gọi điện thoại cho cảnh sát, con bé vĩnh viễn biến mất. Theo tôi, điều ngạc nhiên nhất đó là tại sao cha Kellergan lại mở nhạc ầm ĩ đến như vậy. Điều này luôn giày vò tôi. Và rồi, hơn nữa, lúc nào tôi cũng tự hỏi tại sao làm cha mà lại không nhận ra con gái mình bị bắt cóc.

– Vậy thì thưa đại úy, đó là vụ bắt cóc sao? Gahalowood hỏi.

– Thật khó mà nói được thế. Không có bằng chứng gì cả. Không biết liệu có phải con bé ra ngoài đi dạo rồi bị kẻ rồ nào đó bắt lên xe tải và đưa đi? Ừ, hẳn là vậy.

– Liệu ông còn nhớ thời tiết của mấy ngày tìm kiếm trong rừng khi ấy không?

– Rất tệ, sương mù dày đặc. Tại sao anh lại hỏi tôi như vậy?

– Để biết chắc chắn Harry Quebert thực sự không thể phát hiện ra có người đào bới trong vườn của ông ta.

– Cũng không hẳn là vô lí. Khuôn viên nhà ông ta quá rộng. Nhà ông có vườn không hả trung sĩ?

– Có.

– Cỡ nào?

– Nhỏ thôi.

– Anh có nghĩ rằng nếu có ai đó tới nhà anh lúc anh đi vắng đào một cái hố nhỏ rồi sau đó anh không phát hiện ra?

– Quả thật là rất có thể.

Trên đường quay trở về Concord, Gahalowood hỏi ý kiến tôi về cuộc trò chuyện.

– Đối với tôi, tập bản thảo chứng minh rằng Nola không bị bắt ra khỏi nhà, tôi nói. Cô ấy đi với chủ định gặp Harry. Họ hẹn nhau ở chỗ nhà nghỉ, cô ấy bí mật bỏ nhà đi cùng thứ duy nhất có giá trị đáng kể. Cô ấy bị bắt chính trên đường đi.

Gahalowood mỉm cười.

– Tôi nghĩ tôi bắt đầu thích thú với ý tưởng này đấy, anh ta nói. Cô ta bỏ nhà, điều này lí giải tại sao không có ai biết hay nghe thấy gì. Cô ta đi đường 1 tới nhà nghỉ Sea Side. Chính lúc đó cô ta bị bắt. Hoặc có thể cô ta bị người quen tóm cổ trên đường. Chính thủ phạm đã viết Nola yêu quý. Hắn biết Nola. Hắn muốn chở cô ấy. Rồi thì hắn giở trò sàm sỡ. Có thể hắn tấp xe vào vệ đường, rồi thò tay dưới váy cô bé. Cô bé chống lại: hắn đánh Nola, bắt cô bé phải im. Nhưng hắn không khóa cửa xe, nên rốt cuộc Nola bỏ chạy. Cô bé muốn trốn trong rừng, và ai sống gần đường 1 và khu rừng Side Creek?

– Deborah Cooper.

– Chính xác! Kẻ tấn công để ô tô bên đường, đuổi theo Nola. Deberah Cooper nhìn thấy cả hai và gọi cảnh sát. Trong khi đó, kẻ tấn công tóm được Nola ở chỗ người ta tìm thấy máu và những lọn tóc; cô bé chống cự, bị hắn đánh cật lực. Có thể hắn đã cưỡng hiếp cô bé. Nhưng lúc đó cảnh sát đến: Travis Dawn và Cảnh sát trưởng Pratt bắt đầu lùng sục trong rừng và dần dần tiếp cận hắn. Vậy nên hắn kéo Nola vào tít sâu trong rừng, nhưng cô bé thoát được, chạy về nhà bà Deborah Cooper tìm cách trốn ở đó. Còn Dawn và Pratt thì tiếp tục lùng sục trong rừng. Cả hai đã đi quá xa để có thể nhận thức được mọi việc. Deborah Cooper mở cửa đón Nola vào phòng bếp và vội vàng đi vào phòng khách để gọi điện thoại cho cảnh sát. Khi bà quay trở lại phòng bếp, thì kẻ tấn công đã ở đó; hắn đột nhập vào nhà để bắt Nola. Hắn hạ bà Cooper bằng viên đạn xuyên tim và mang Nola đi. Hắn kéo cô bé tới tận ô tô, ném vào trong cốp xe. Có thể cô bé vẫn còn sống nhưng chắc đã bất tỉnh vì mất máu. Chính lúc đó hắn đụng phải xe ô tô của Phó cảnh sát trưởng. Cuộc rượt đuổi diễn ra. Sau khi cắt đuôi cảnh sát, hắn trốn ở Goose Cove. Hắn biết đó là nơi hiu quạnh, sẽ không có ai đến quấy rầy hắn. Các nhân viên cảnh sát lại truy lùng hắn ở đoạn trên, đoạn đường đi Montburry. Hắn để ô tô với Nola lại Goose Cove; có khi hắn còn đàng hoàng để xe vào gara. Sau đó hắn ra bãi biển và đi bộ về Aurora: hắn thạo đường, biết rõ đường rừng, hắn biết Harry đi vắng. Hắn biết hết. Hắn về nhà mà không làm bất kì ai chú ý; hắn tắm rửa, thay quần áo, rồi khi cảnh sát đến nhà gia đình Kellergan, nơi có người cha vừa báo con gái bị mất tích, thì hắn cũng hòa vào đám đông những người tò mò trên đại lộ Terrace Avenue. Đó chính là lí do tại sao ta không tìm ra kẻ giết người: bởi vì trong khi tất cả mọi người tìm kẻ sát nhân xung quanh Aurora, thì hắn lại trà trộn vào đám động hiếu kì, ngay chính giữa Aurora.

– Mẹ kiếp, tôi nói. Vậy thì hắn ở ngay đó à?

– Đúng vậy. Tôi tin rằng từ bấy đến giờ hắn vẫn ở đây. Giữa đêm, hắn chỉ việc quay trở về Goose Cove xuyên qua bãi biển. Tôi nghĩ lúc đó thì Nola đã chết. Vậy nên hắn chôn cô bé ngay đấy, cạnh bìa rừng, nơi không ai nhận thấy đất bị đào lên. Sau đó, hắn quay lại lấy ô tô và để gọn gàng trong gara riêng, từ đó, hắn không đi chiếc xe đó ra ngoài trong một thời gian dài để tránh mọi ngờ vực. Vụ án thật hoàn hảo.

– Vậy từ đó, chúng ta có thể suy ra được điều gì?

– Một người đàn ông cô độc. Một người nào đó hành động mà không làm cho bất kì ai đặt câu hỏi và không hỏi tại sao hắn không lái ô tô ra khỏi gara. Một người nào đó sở hữu chiếc ô tô hiệu Monte Carlo màu đen.

Tôi háo hức theo:

– Vậy chỉ cần xem ai là người sở hữu xe Chevrolet màu đen ở Aurora vào thời kì đó thì ta sẽ có được gã đàn ông của mình!

Gahalowood hạ nhiệt tôi ngay lập tức:

– Vào thời kì đó, Pratt cũng nghĩ vậy. Pratt đã nghĩ đến tất cả mọi điều. Trên báo cáo của ông ta có cả danh sách những người sở hữu xe ô tô hiệu Chevrolet màu đen ở Aurora và cả ở vùng lân cận. Ông ta đã đến gặp từng người và tất cả bọn họ đều có bằng chứng ngoại phạm chắc chắn. Tất cả, chỉ trừ một người: đó là Harry Quebert.

Lại là Harry. Chúng tôi lúc nào cũng vấp phải Harry. Mỗi một tiêu chí phụ mà chúng tôi xác định được để lật tẩy bộ mặt kẻ sát nhân đều dẫn tới Harry.

– Thế Luther Caleb thì sao? Tôi hỏi, le lói tia hi vọng. Hắn sở hữu loại ô tô nào?

Gahalowood lắc đầu:

Xe Mustang màu xanh.

Tôi thở dài.

– Theo anh, thưa trung sĩ, từ bây giờ chúng ta phải làm gì?

– Caleb còn có người em gái mà chúng ta chưa thẩm tra. Tôi nghĩ đã đến lúc phải tới thăm cô ta. Đó là hướng đi duy nhất mà chúng ta còn chưa thực sự khai thác.

Tối hôm đó, sau khi luyện đấm bốc xong, tôi lấy hết cam đảm đi tới nhà nghỉ Sea Side. Lúc đó khoảng 21 giờ rưỡi. Harry đang ngồi trên ghế tựa bằng nhựa, trước phòng số 8, tận hưởng không khi dịu dàng của buổi tối và uống sôđa. Nhìn thấy tôi nhưng ông không nói lời nào; lần đầu tiên, trước ông, tôi cảm thấy lúng túng.

– Em cần gặp thầy, thầy Harry. Để nói với thấy rằng em cảm thấy vô cùng tiếc về tất cả những chuyện đã xảy ra

Ông ra hiệu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế tựa bên cạnh.

– Sôđa không? Ông hỏi.

– Dạ, vâng ạ.

– Có máy bán tự động ở cuối hành lang.

Tôi mỉm cười, chạy đi mua một lon Coca light. Khi quay trở lại, tôi nói với ông:

– Lần đầu tiên đến Goose Cove, thầy cũng nói như vậy với em. Lúc đó em đang năm thứ nhất đại học. Thầy pha nước chanh và hỏi em có muốn uống không. Em trả lời là có, thế là thầy bảo em tự đi mà lấy trong tủ lạnh.

– Thời kì ấy thật đẹp.

– Vâng.

– Điều gì đã thay đổi vậy, Marcus?

– Không có gì. Tất cả, nhưng lại không có gì. Chúng ta đã thay đổi tất cả, thế giới thay đổi. Trung tâm thương mại thế giới sụp đổ, nước Mỹ tham chiến…Nhưng thầy đối với em không thay đổi. Thầy vẫn là thầy của em. Thầy vẫn là Harry.

– Điều đã thay đổi là trận chiến giữa thầy và trò, Marcus ạ.

– Không, chúng ta không hề có đấu tranh.

– Thế mà có đấy. Tôi dạy cho anh viết sách, và hãy xem sách vở của anh đã làm gì tôi: chúng làm hại tôi.

– Em không bao giờ muốn làm hại thầy, thầy Harry. Em hứa với thầy sẽ tìm ra kẻ đốt Goose Cove.

– Nhưng điều đó có trả lại ba mươi năm kỉ niệm mà tôi vừa bị mất không? Toàn bộ đời tôi đã tan thành khói! Tại sao anh lại kể những điều kinh hoàng nhường vậy về Nola?

Tôi không trả lời. Chúng tôi ngồi im lặng hồi lâu. Mặc dù chỉ có ánh sáng yếu ớt từ bóng điện hành lang, nhưng thầy vẫn nhận thấy những vết thương trên nắm tay tôi vì tôi tập đấm bốc.

– Tay anh, ông nói. Anh lại quay trở lại tập đấm bốc à?

– Vâng.

– Anh đấm không đúng chỗ. Điều đó luôn luôn là điểm yếu của anh. Anh đấm tốt, nhưng cứ để đốt đầu của ngón cái quá cao nên nó bị va vào lúc đấm.

– Thầy trò mình đi đấm bốc nhé? Tôi đề nghị.

– Nếu anh muốn.

Chúng tôi ra bãi để xe. Không một bóng người. Chúng tôi cởi trần trùng trục. Thầy gầy đi rất nhiều. Thầy ngắm nhìn tôi:

– Người anh rất đẹp, Marcus ạ. Lo cưới vợ đi, trời ạ! Cưới vợ ngay đi!

– Em có cuộc điều tra phải hoàn thành cái đã.

– Quỷ tha ma bắt cuộc điều tra của anh đi!

Chúng tôi đứng đối diện nhau, đấm những cú thận trọng; một người đấm thì người kia phải giữ thế thủ vững chắc và tự vệ. Harry đấm một cú mạnh.

– Thầy không muốn biết ai là kẻ giết Nola à? Tôi hỏi.

Harry dừng lại ngay.

– Anh biết kẻ đó à?

– Không. Nhưng các hướng điều tra đang tiến triển rất tốt. Ngày mai trung sĩ Gahalowood và em sẽ đi gặp em gái của Luther Caleb ở Portland. Bọn em còn nhiều người phải thẩm tra ở Aurora.

Ông thở dài:

– Aurora… Kể từ khi ra khỏi tù, tôi chưa gặp lại bất kì ai. Hôm trước, tôi dừng lại đôi phút trước Goose Cove. Cảnh sát cứu hỏa nói tôi có thể vào, tôi vào lấy ít đồ dùng rồi đi bộ tới đây. Từ đó tôi chẳng đi đâu nữa cả. Roth lo thu xếp với bảo hiểm và tất cả những việc cần thiết khác. Tôi không thể tới Aurora được nữa. Tôi không muốn nhìn thẳng những người ở đó, bảo họ rằng tôi yêu Nola và tôi viết sách cho cô ấy. Thậm chí tôi còn không thể nhìn tôi một cách trực diện. Roth nói với tôi rằng cuốn sách của anh sẽ được gọi là Vụ án Harry Quebert.

– Đúng vậy. Cuốn sách của em kể rằng tác phẩm của thầy là một cuốn sách hay. Em rất thích Nguồn gốc cái xấu xa! Chính cuốn sách đó đã thúc đẩy em trở thành nhà văn!

– Đừng nói vậy, Marcus!

– Đó là sự thật! Đó là cuốn sách hay nhất em được đọc. Thầy là nhà văn thần tượng của em!

– Vì tình yêu của Chúa, xin anh đừng nói nữa!

– Em muốn viết sách để bảo vệ tác phẩm của thầy, thầy Harry ạ. Khi biết thầy viết cuốn sách đó cho Nola, mới đầu em rất choáng, thật đấy. Rồi em đọc lại. Nó rất tuyệt vời! Thầy nói hết trong đó! Nhất là đoạn cuối. Thầy kể lại nỗi buồn lúc nào cũng làm thầy đau khổ. Em không thể để cho mọi người làm bẩn cuốn sách đó, bởi vì chính cuốn sách đó dạy em nên người. Thầy biết đấy, cái thuở nước chanh, lúc em tới nhà thầy lần đầu: khi em mở tủ lạnh ra thấy nó trống trơn, thì em hiểu ra nỗi cô đơn của thầy. Ngày hôm đó, em đã hiểu: Nguồn gốc cái xấu xa là cuốn sách về nỗi cô đơn. Thầy đã viết nỗi cô đơn một cách ấn tượng nhất. Thầy là nhà văn vĩ đại!

– Đừng nói nữa, Marcus!

– Phần cuối cuốn sách mới hay chứ! Thầy không chấp nhận tất cả những điều liên quan tới Nola: Nola đã biến mất mãi mãi, thầy biết thế nhưng vẫn cứ chờ đợi, bất chấp tất cả… Bây giờ khi em đã thực sự hiểu được cuốn sách của thầy, câu hỏi duy nhất của em là liên quan tới tựa đề cuốn sách. Tại sao thấy đặt tên sầu khổ đến vậy cho cuốn sách hay như thế?

– Điều này rất phức tạp, Marcus.

– Nhưng em đến với thầy là để được hiểu biết…

– Điều đó quá phức tạp…

Chúng tôi nhìn thẳng nhau, đối đầu nhau, tư thế phòng thủ như hai tên lính xung trận. Rốt cuộc ông nói:

– Tôi không biết có nên tha lỗi cho anh không, Marcus ạ…

– Tha lỗi cho em? Nhưng em sẽ xây lại Goose Cove! Em sẽ trả hết! Với số tiền thu được từ cuốn sách, chúng ta sẽ xây lại toàn bộ ngôi nhà! Thầy không thể phá bỏ tình bạn của chúng ta như vậy!

Ông bắt đầu khóc.

– Anh không thể hiểu được, Marcus ạ. Không phải tại anh! Anh không có lỗi gì, ấy vậy mà tôi lại không thể tha thứ cho anh được.

– Nhưng tha thứ cho em về chuyện gì?

– Tôi không thể nói cho anh biết được. Anh sẽ không thể hiểu…

– Thế là thế nào, thầy Harry! Tại sao lại có trò đánh đố như vậy chứ? Chuyện gì xảy ra vậy, trời ơi!

Ông lấy mu bàn tay quật những giọt nước mắt lăn tràn trên khuôn mặt.

– Anh còn nhớ lời khuyên của tôi không? Ông hỏi. Khi anh còn là sinh viên của tôi, một hôm tôi nói với anh: đừng bao giờ viết một cuốn sách nếu anh không biết đoạn kết.

– Vâng, em còn nhớ chứ. Em sẽ mãi mãi ghi nhớ điều này.

– Đoạn kết cuốn sách của anh sẽ là thế nào?

– Sẽ là một cái kết đẹp.

– Nhưng rốt cuộc thì cô ấy chết!

– Không, cuốn sách đó sẽ không kết thúc bằng cái chết của nhân vật nữ chính. Sau đó còn những điều tốt đẹp sẽ xảy ra.

– Điều gì vậy?

– Người đàn ông từng chờ đợi cô ấy ba mươi năm sẽ bắt đầu sống lại từ đầu.

TRÍCH ĐOẠN TỪ: NGUỒN GỐC CÁI XẤU XA (trang cuối)

Khi anh hiểu ra rằng không có gì kéo dài mãi mãi và hi vọng chỉ là dối trá, thì anh bắt đầu viết cho nàng lần cuối cùng. Sau những bức thư tình, đã đến lúc phải viết thư buồn. Phải chấp nhận như vậy. Từ bây giờ, anh không làm gì ngoài chờ đợi nàng. Suốt đời anh sẽ chờ nàng. Nhưng anh cũng biết rằng nàng sẽ không bao giờ trở lại nữa. Anh biết sẽ không còn được gặp nàng nữa, không còn được nhìn thấy nàng nữa, không còn được nghe tiếng nàng nữa.

Khi anh hiểu ra rằng không có gì kéo dài mãi mãi, anh viết cho nàng lần cuối cùng.

Em yêu quý!

Đây là bức thư cuối cùng của anh. Đây là những lời cuối cùng của anh. Anh viết cho em để nói với em lời vĩnh biệt.

Kể từ ngày hôm nay, sẽ không còn “chúng ta” nữa. Những người yêu nhau rời xa nhau và không còn gặp lại, chuyện tình của họ cũng kết thúc.

Em yêu, anh sẽ rất nhớ em. Anh nhớ em vô cùng.

Đôi mắt anh đẫm lệ. Trong anh đang bốc cháy.

Chúng ta sẽ không còn gặp nhau nữa; anh nhớ em vô cùng.

Hi vọng em sẽ được hạnh phúc.

Anh tự nhủ rằng anh và em chỉ là giấc mơ, bây giờ đã đến lúc phải thức dậy. Suốt đời anh nhớ em.

Vĩnh biệt. Anh yêu em, sẽ không bao giờ yêu nữa.

tác: The Truth About the Harry Quebert Affair ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Phụ Nữ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.