“Hãy biết quý trọng tình yêu, Marcus ạ. Hãy coi tình yêu là cuộc chinh phục đẹp nhất đời anh, là tham vọng duy nhất của anh. Sau người này, sẽ có người khác. Sau cuốn sách này, sẽ có cuốn sách khác. Sau vinh quang này, sẽ đến vinh quang khác. Sau khi tiêu hết tiền, sẽ lại có tiền. Nhưng sau tình yêu, Marcus ạ, sau tình yêu, chẳng còn gì khác ngoài vị mặn chát của dòng lệ”.
Cuộc sống sau khi mất Nola thực sự không phải là cuộc sống. Ai cũng nói rằng ở Aurora, trong suốt nhiều tháng sau khi Nola mất tích, cả thành phố chìm dần trong trạng thái suy sụp trầm uất và nỗi lo sợ về một vụ mất tích mới sẽ xảy ra.
Lúc đó là mùa thu, lá cây nhuộm màu sặc sỡ. Nhưng trẻ con không còn được ra ngoài nhảy vào nằm giữa đống lá vàng rụng chất ngất trước lối đi: các bậc phụ huynh lo lắng không rời mắt canh chừng. Từ bây giờ cha mẹ đứng đợi xe buýt cùng con và chờ sẵn trên đường trước giờ tan học. Bắt đầu từ 15 giờ rưỡi, trên vỉa hè, một hàng dài các bà mẹ đứng trước cửa nhà ngóng các con đi học về.
Trẻ con không còn được phép đi đâu một mình. Thời kì vàng son khi trẻ con có thể vui vẻ chạy nhảy hét hò đầy đường phố đã qua rồi: trước nhà để xe, không còn nhóm các trẻ đi giầy trượt patanh hay giầy bánh xe đấu hockey nữa, cũng không còn đám trẻ chơi nhảy dây đánh chàm, thi nhảy lò cò trên những ô vuông to tướng vẽ bằng phấn trên nền đường xi măng. Trên đường phố chính người ta cũng không còn thấy xe đạp dựng trên vỉa hè trước cửa hàng bách hóa của gia đình Hendorf, nơi trẻ con có thể mua một nắm kẹo với giá chưa đầy một xu. Chỉ còn duy nhất một bầu không khí tĩnh lặng ngự trị trên đường phố.
Nhà nào cũng khóa cửa cài then cẩn thận. Khi màn đêm vừa buông xuống, những người đàn ông tình nguyện đi tuần, họ kiểm tra một vòng quanh khu phố để bảo vệ gia đình và hàng xóm. Phần lớn họ tự trang bị gậy gộc, một số người còn mang theo súng săn. Họ bảo nhau, nếu cần, cứ việc nổ súng không phải ngần ngại.
Niềm tin hoàn toàn bị đổ vỡ. Khách vãng lai, những người bán hàng rong và tài xế lái xe khách rất bị coi thường, lúc nào họ cũng bị canh chừng theo dõi. Điều tệ hại nhất là thái độ nghi kị giữa người dân với nhau. Hàng xóm láng giềng là bạn với nhau từ 25 năm, giờ bắt đầu thành gián điệp rình rập lẫn nhau. Người này ngờ vực người kia không biết đã làm gì vào cuối buổi chiều ngày 30 tháng Tám năm 1975.
Xe cảnh sát lượn đi lượn lại không ngừng nghỉ xuyên suốt từ đầu này tới đầu kia thành phố; không có cảnh sát thì người dân lo lắng nhưng quá nhiều cảnh sát cũng khiến họ lo sợ. Khi chiếc xe Ford đen nổi bật trong dòng xe cảnh sát đỗ trước nhà 245 Terrace Avenue, ai cũng nghĩ chắc đại úy Rodik đến đưa tin. Ngôi nhà gia đình Kellergan kéo kín cửa suốt ngày, suốt tuần và suốt tháng. David Kellergan không tới làm lễ ở nhà thờ nữa, một vị mục sư khác được cử đến từ Manchester đến thay thế trông coi và đảm bảo các buổi lễ ở nhà thờ St. James.
Sau đó là cuối tháng Mười, trời đầy sương mù. Những đám mây lớn xám xịt, mờ ảo và ẩm ướt bao phủ toàn vùng. Chúng nhanh chóng chuyển thành những trận mưa liên hồi lạnh buốt. Tại Goose Cove, Harry cô độc, trầm uất. Từ hai tháng nay, chẳng ai nhìn thấy bóng dáng anh. Suốt cả ngày anh giam mình trong phòng làm việc bên chiếc máy chữ, chỉ còn biết đến mỗi chồng bản thảo mà anh đã đọc lại tỉ mẩn và đánh máy. Anh dậy từ sáng sớm tinh mơ chuẩn bị rất cẩn thận: anh cạo râu nhẵn nhụi, ăn mặc cực đỏm dáng mặc dù anh biết rằng mình sẽ chẳng ra khỏi nhà và cũng chẳng gặp ai. Anh ngồi thẳng bên chiếc bàn bắt tay vào công việc. Những lúc dừng lại hiếm hoi chỉ để pha đầy tách cà phê; phần thời gian còn lại, anh hoàn toàn tập trung vào việc viết, đọc lại, sửa chữa, xé đi và rồi bắt đầu viết lại.
Chỉ có Jenny là người duy nhất làm phiền anh trong nỗi cô đơn riêng lẻ. Sau khi xong việc ở tiệm Clark’s, ngày nào cô cũng đến gặp anh, lo lắng khi thấy anh ngày càng suy sụp. Thông thường, cô tới vào khoảng 18 giờ; ướt sủng nước mưa vì đoạn đường vài bước chân từ ô tô tới cổng nhà. Jenny mang theo một giỏ đầy thức ăn lấy từ tiệm Clark’s: bánh mì kẹp thịt gà, trứng trộn mayonnaise, mì ý trộn pho mát và kem tươi vẫn còn bốc khói đựng trong một chiếc đĩa bằng kim loại; cô còn giấu cả bánh ngọt tráng miệng không bán cho khách hàng để mang đến cho anh. Cô bấm chuông.
Harry nhảy khỏi ghế. Nola! Nola yêu quý! Anh phóng như bay về phía cửa. Nàng đứng đó, trước mặt anh, khuôn mặt rạng ngời tuyệt diệu. Họ lao vào nhau, anh ôm chặt nàng trong vòng tay. Anh bế bổng nâng lên xoay nhiều vòng, xoay quanh cả trái đất, họ hôn nhau. Nola! Nola! Nola! Họ vẫn còn tiếp tục hôn nhau và cùng nhảy. Mùa hè tuyệt đẹp, hoàng hôn với những tia sáng chói chang trên bầu trời. Trên đầu họ, hàng đàn mòng biển hót líu lo như họa mi, nàng mỉm cười, nàng cười vang, khuôn mặt rạng rỡ đẹp tựa mặt trời. Nàng đã ở đó, anh có thể ôm nàng vào lòng, chạm vào làn da, ve vuốt khuôn mặt nàng, ngửi thấy mùi nước hoa của nàng, đùa giỡn với những lọn tóc của nàng. Nàng ở đó, nàng vẫn còn sống. Họ vẫn còn sống. “Trời ơi, thế em đã đi đâu vậy? Anh vừa hỏi vừa cầm bàn tay nàng. Anh đợi em mãi! Anh sợ quá! Ai cũng bảo có chuyện nghiêm trọng xảy ra với em! Người ta bảo bà Cooper nhìn thấy em người đầy máu gần Side Creek! Cảnh sát khắp nơi! Họ lùng sục tìm kiếm trong rừng! Anh tưởng có điều bất hạnh đã xảy ra với em. Anh hóa điên vì không biết điều gì đã xảy ra”. Nàng ôm anh thật chặt, ghì sát người anh và trấn an: “Đừng suy nghĩ nhiều quá, Harry yêu quý! Chẳng có chuyện gì xảy ra với em cả, em đang ở đây. Em đang ở đây! Chúng ta sẽ bên nhau mãi mãi! Anh ăn chưa? Chắc anh đói lắm rồi! Anh ăn chưa?”
– Anh ăn chưa, Harry? Harry? Harry? Anh sao thế? Jenny hỏi cái bóng ma gầy gò xanh lét đang mở cửa cho cô.
Giọng người con gái đưa anh trở lại với hiện thực. Trời tối và lạnh lẽo. Một trận mưa xối xả. Lúc đó gần là mùa đông. Bọn mòng biển đã bay đi từ lâu.
– Jenny, giọng anh yếu đuối, lạc lõng. Lại là cô đấy ư?
– Vâng, em đây. Em mang đồ ăn đến cho anh, Harry ạ. Anh phải ăn chút gì chứ, anh không khỏe, có vẻ không ổn tí nào.
Anh nhìn cô, ướt sủng và run rẩy. Anh để cô vào nhà. Cô chỉ ở lại chốc lát. Chỉ đủ thời gian đặt chiếc giỏ vào bếp, lấy lại đĩa ăn đã mang tơi từ hôm trước. Khi nhận thấy tất cả các đĩa thức ăn gần như chưa được động tới, cô nhẹ nhàng mắng:
– Harry, anh phải ăn chứ!
– Đôi khi tôi quên mất, anh trả lời.
– Lạ thật đấy, làm sao có thể quên ăn được chứ?
– Đó là bởi vì cuốn sách tôi đang viết…Tôi tập trung vào đó và quên tất cả mọi thứ còn lại.
– Đó hẳn phải là cuốn sách rất tuyệt.
– Rất tuyệt.
Cô không thể hiểu được làm sao anh có thể lâm vào tình trạng như vậy chỉ vì một cuốn sách. Mỗi lần, cô đều hi vọng được anh mời ở lại cùng ăn tối. Cô luôn chuẩn bị thức ăn cho hai người, nhưng anh không bao giờ chú ý đến điều đó. Cô đứng đó vài phút, giữa phòng bếp và nhà ăn, không biết nói gì nữa. Lúc nào anh cũng do dự, không biết có nên mời cô ở lại thêm đôi phút hay không. Nhưng rốt cuộc bao giờ anh cũng từ bỏ ý định đó vì không muốn mang lại cho cô những ảo vọng. Anh biết sẽ chẳng bao giờ anh có thể yêu cô thêm được. Khi im lặng quá lâu tới mức ngại ngùng, thì anh nói “cảm ơn” và ra mở cửa.
Cô trở về nhà, thất vọng, lo lắng. Bố cô làm cho cô một bát sôcôla nóng thả thêm vào một cái kẹo dẻo. Ông đốt lửa trong lò sưởi ở phòng khách. Họ ngồi trên tràng kỉ, và Jenny kể lại tình trạng Harry suy sụp đến mức nào.
– Tại sao anh ấy lại buồn đến thế? Cô hỏi. Cứ như thể sắp chết.
– Làm sao mà bố biết được, Robert Quinn trả lời.
Anh sợ mỗi khi có việc phải ra khỏi nhà. Những lần hiếm hoi anh phải rời Goose Cove thì khi về đến nhà anh đều thấy mẩu giấy với dòng tin nhắn kinh hoàng. Có ai đó rình rập anh. Có ai đó muốn làm hại anh. Có ai đó rình lúc anh vắng nhà đến ghim thư nặc danh ngay ở cửa chính. Dòng tin nhắn luôn luôn giống hệt nhau như thế này:
“Tôi biết việc anh làm với đứa bé gái mười lăm tuổi. Rồi cả thành phố sẽ nhanh chóng biết điều này”
Ai? Ai mang mối hiềm khích với anh? Ai biết chuyện anh và Nola và bây giờ muốn làm hại anh? Anh phát ốm vì chuyện này; mỗi khi nhận được một bức thư nặc danh, anh đều cảm thấy cơn sốt sập xuống đầu. Anh đau đầu và vô cùng lo lắng. Anh lâm vào khủng hoảng, nôn mửa, và mất ngủ. Anh sợ sẽ bị buộc tội làm hại Nola. Làm sao có thể chứng minh anh vô tội được? Anh bắt đầu tưởng tượng ra những màn kịch tồi tệ nhất: sợ án tù chung thân sẽ nhốt giam và canh phòng anh khắt khe cho tới tận cuối đời, có thể anh còn bị chết trên ghế điện hay trong phòng khí ga. Nỗi sợ cảnh sát trong anh cứ lớn dần lên: hễ nhìn thấy bóng dáng bộ quân phục hay xe cảnh sát đều làm cho hệ thần kinh anh co giật vì căng thẳng. Một hôm, khi ra khỏi siêu thị, anh thấy một toán cảnh sát tuần tra trước bãi đỗ xe, trong số đó có một người cứ dõi theo anh chằm chằm. Anh cố tỏ ra bình tĩnh, rảo bước về phía xe hơi, trên tay là những món đồ đã mua. Nhưng bất chợt, anh nghe thấy có tiếng người gọi anh. Chính là tay cảnh sát đó. Anh giả vờ không nghe thấy gì. Có tiếng sập cửa xe ô tô phía sau: tay cảnh sát bước ra khỏi xe ô tô. Anh nghe thấy tiếng bước chân, tiếng lanh canh của chiếc còng số tám giắt nơi thắt lưng va đập với đống vũ khí và dùi cui. Khi tới được ô tô, anh vội ném tất cả những thứ vừa mua vào cốp để chạy cho nhanh. Anh run bần bật, người túa mồ hôi, mắt mờ đi: anh hoàn toàn hoảng loạn. Anh tự nhủ, phải cố gắng bình tĩnh, lên xe và chạy. Không được về Goose Cove. Nhưng không còn thời gian nữa rồi: một bàn tay rắn chắc đã đặt lên vai anh.
Anh chưa bao giờ bị ai đánh, anh không biết đánh nhau như thế nào. Phải làm thế nào đây? Phải đẩy hắn ra, nhanh chóng nhảy lên xe ô tô, phóng thật nhanh? Đập cho hắn mấy cú? Giật lấy vũ khí rồi đánh hắn? Anh quay lại, sẵn sàng làm mọi chuyện. Lúc đó, viên cảnh sát giờ ra tờ 20 đô la:
– Anh làm rơi này! Tôi gọi mà anh không nghe thấy. Anh có ổn không thế? Nhìn mặt anh trắng bệch
– Tôi ổn, ổn, Harry trả lời, tôi khỏe…Tôi… Tôi… Tôi đang mải suy nghĩ. Vâng, cảm ơn. Tôi… Tôi phải đi đây.
Viên cảnh sát khoát tay tỏ vẻ thông cảm và quay gót, Harry run rẩy. Sau chuyện này, anh ghi tên học đấm bốc; anh đến đó luyện tập rất chăm chỉ. Rồi rốt cuộc, anh quyết định phải đi gặp người nào đó để nói chuyện. Sau khi tìm hiểu kĩ thông tin, anh liên lạc với bác sĩ Roger Ashcroft ở Concord, có vẻ ông ta là bác sĩ tâm lí giỏi nhất vùng. Họ thỏa thuận gặp nhau chữa bệnh hai tuần một lần vào sáng thứ Tư từ 10 giờ 40 đến 11 giờ 30. Anh không nhắc đến những bức thư nặc danh với bác sĩ Ashcroft, nhưng anh nói đến Nola. Anh không nêu tên đích danh Nola. Nhưng đây là lần đầu tiên, anh có thể kể chuyện về Nola với một người nào đó. Điều này có tác động vô cùng tốt với anh. Bác sĩ Ashcroft ngồi trong chiếc ghế đệm chăm chú lắng nghe anh nói, mỗi khi ông cố gắng phân tích thông tin, ông lại chọc những ngón tay vào mu bàn tay.
– Tôi nghĩ mình nhìn thấy người chết, Harry kể.
– Vậy bạn gái của anh đã chết rồi ư? Bác sĩ kết luận
– Tôi hoàn toàn không biết. Chính vì thế mà tôi phát điên.
– Tôi không nghĩ anh điên, anh Quebert.
– Đôi khi, tôi đi xuống bãi biển hét gọi tên cô ấy. Khi không còn đủ sức để hét nữa, tôi ngồi xuống bãi cát và khóc.
– Tôi nghĩ anh đang trong giai đoạn chịu tang. Một phần trong con người anh là lí trí, sáng suốt, ý thức, đang đấu tranh với một phần khác trong anh; phần này đang từ chối chấp nhận cái điều mà dưới góc nhìn của nó là không thể chấp nhận được. Khi thực tế vượt quá sức chịu đựng, thì người ta cố thay đổi nó. Tôi sẽ kê cho anh một đơn thuốc an thần giúp anh thư giãn.
– Không, đừng làm thế. Tôi còn phải tập trung viết sách nữa.
– Nói cho tôi biết về cuốn sách của anh đi, anh Quebert.
– Tôi viết về một chuyện tình tuyệt đẹp.
– Chuyện thế nào?
– Chuyện tình yêu giữa hai người không bao giờ có thể xảy ra.
– Chuyện giữa anh và bạn gái anh à?
– Vâng. Tôi căm thù sách.
– Tại sao?
– Tại sách làm tôi đau đớn.
– Hết giờ mất rồi, tuần tới, chúng ta sẽ nói tiếp về chuyện này.
– Vâng, được ạ, xin cảm ơn bác sĩ.
Một hôm anh chạm trán bà Tamara Quinn tại phòng chờ khi vừa bước ra khỏi phòng khám của bác sĩ.
* * *
Bản thảo hoàn thành vào giữa tháng Mười một, trong một buổi chiều u ám đến mức khó phân biệt đó là ngày hay đêm. Anh xếp gọn đống giấy bản thảo, chăm chú đọc tựa đề viết bằng chữ in hoa trên tờ bìa:
NGUỒN GỐC CÁI XẤU XA. Bởi Harry L. Quebert
Bỗng nhiên anh thấy có nhu cầu nói chuyện với một người nào đó, ngay lập tức anh tới tiệm Clark’s gặp Jenny.
– Tôi đã hoàn thành cuốn sách rồi, anh nói trong tâm trạng hưng phấn tột độ. Tôi đến Aurora để viết sách, nó đây. Xong rồi! Hoàn thành rồi! Hoàn thành rồi!
– Thật tuyệt vời, Jenny trả lời. Em chắc chắn đây sẽ là một tuyệt tác. Từ bây giờ anh định làm gì?
– Tôi sẽ đi New York ít lâu. Mời các nhà xuất bản đặt in.
Anh gửi năm bản sao của bản thảo đến năm nhà xuất bản lớn ở New York. Chưa đầy một tháng sau, cả năm nhà xuất bản đều liên lạc lại khẳng định sách của anh là tuyệt tác và hồ hởi đặt giá rất cao để mua quyền xuất bản. Một cuộc sống mới bắt đầu. Anh thuê luật sư và một công ty đại diện. Cách lễ Noel mấy ngày, rốt cuộc anh kí được một hợp đồng ngoạn mục với giá một trăm ngàn đô la. Anh đang trên đường tới vinh quang.
Harry quay về Goose Cove ngày 23 tháng Mười hai bằng chiếc Chrysler Cordola mới tinh hào nhoáng. Anh đang định đón Noel ở Aurora. Một lá thư nặc danh kẹp ở góc cửa ra vào, không biết tự bao giờ. Đó là bức thư cuối cùng anh nhận được.
Cả ngày hôm sau anh tập trung chuẩn bị bữa tối: anh đặt một con gà tây khổng lồ, rán vàng với đậu và bơ, làm khoai tây chiên, bánh gatô sôcôla với kem tươi. Máy quay đĩa nhẹ nhàng phát bản nhạc Bà Butterfly. Anh kê bàn dành cho hai người cạnh cây thông Noel. Anh không hề biết đằng sau tấm cửa kính, từ phía ngoài, Robert Quinn đang quan sát anh và thề rằng kể từ ngày hôm đó sẽ không gửi thư nặc danh cho anh nữa.
Khi ăn xong, Harry xin lỗi chồng bát đũa trước mặt, rồi biến vào phòng làm việc một lúc. Anh quay trở ra, tay cầm một chiếc hộp lớn.
– Cho em à? Nola reo lớn.
– Không dễ gì tìm được nó đâu, nhưng tất cả đều có thể, Harry vừa trả lời vừa để chiếc hộp xuống đất.
Nola quỳ gối ngồi xuống bên chiếc hộp. “Cái gì thế? Cái gì thế?” Nàng nhắc lại và mở hộp. Một cái mõm thò ra, rồi đến cả cái đầu lông vàng. “Một chú chó nhỏ! Một chú cún có bộ lông màu mặt trời! Ôi, Harry, Harry yêu quý! Cảm ơn anh! Cảm ơn anh!” Nàng bế con chó ra khỏi chiếc hộp và nâng niu nó trên tay. Chú chó giống labrador chưa đầy hai tháng rưỡi. “Em tên là Storm nhé.!” Nàng giải thích với con chó. “Storm! Storm! Em là chú chó chị luôn mơ ước!”
Nàng đặt Storm xuống đất. Nó liền đi khám phá môi trường mới và nhảy nhót tung tăng khắp nhà, nàng nhào lên ôm cổ Harry.
– Cảm ơn Harry, em thật sự hạnh phúc ở bên anh. Nhưng thật xấu hổ quá, em chẳng có quà gì cho anh cả.
– Quà dành cho anh là thấy em được hạnh phúc, Nola ạ.
Anh ôm chặt nàng trong vòng tay, nhưng anh cảm thấy nàng trượt đi và ngay lập tức anh không còn cảm thấy nàng nữa, anh không nhìn thấy nàng nữa. Anh gọi, nhưng nàng không trả lời. Anh thấy trơ trọi một mình đứng giữa phòng ăn, tự ôm chính cánh tay mình. Ở dưới chân anh, con chó nhỏ chạy ra khỏi chiếc hộp và đùa nghịch với những sợi dây giày.
* * *
Nguồn gốc cái xấu xa được xuất bản tháng Sáu năm 1976. Ngay khi xuất bản, cuốn sách đã tạo được thành công vang dội. Đội ngũ các nhà phê bình đều hết lời ngợi khen. Người hùng Harry Quebert, 33 tuổi, từ bây giờ được coi là nhà văn lớn nhất thế hệ mình.
Hai tuần sau khi cuốn sách xuất bản, ý thức được tác động trong tương lai của cuốn sách, nên người xuất bản thân chinh tới tận Aurora tìm gặp Harry:
– Thế nào, Quebert, nghe nói anh không muốn tới New York, người xuất bản sách ướm hỏi.
– Tôi không thể đi được, Harry trả lời. Tôi đang đợi một người.
– Anh còn đợi ai nữa? Anh nói gì vậy? Toàn bộ nước Mỹ mong chờ anh. Anh sẽ trở thành một ngôi sao lớn.
– Tôi không đi được, tôi còn có con chó nhỏ.
– Không sao, anh mang nó đi theo. Chúng tôi sẽ chiều nó hết sức: sẽ có một người chăm sóc nó, một người nấu ăn cho nó, một người dẫn nó đi dạo và một người tắm rửa vệ sinh cho nó. Vậy thôi nào, hãy chuẩn bị hành lí và lên đường tới vinh quang thôi, anh bạn.
Harry rời Aurora làm một vòng xuyên đất nước trong nhiều tháng. Không lâu sau đó, người ta không còn nói gì ngoài cuốn sách kì diệu của anh. Từ nhà bếp của tiệm Clark’s hay từ phòng ngủ ở nhà riêng, Jenny dõi theo Harry qua các chương trình truyền thanh, truyền hình.
Cô mua và giữ gìn cẩn thận tất cả các tờ báo liên quan tới anh. Mỗi khi nhìn thấy sách của anh bày trong hiệu sách nào đó, cô đều mua một cuốn. Tất cả cô có tới hơn chục cuốn và đều đọc hết các cuốn đó. Thường xuyên, cô tự hỏi không biết anh có lại đón cô không. Mỗi khi người đưa thư đi qua, cô đều giật mình vì luôn đợi thư anh. Mỗi khi điện thoại reo, cô đều hi vọng là anh gọi. Cô đã đợi suốt cả mùa hè. Mỗi khi thấy một chiếc ô tô giống xe của anh, tim cô đập mạnh hơn.
Cô đã đợi anh suốt cả mùa thu sau. Mỗi khi cửa tiệm Clark’s mở ra, cô đều tưởng tượng chính là anh quay trở lại đón cô. Anh chính là tình yêu của đời cô. Trong khi chờ đợi, để đầu óc được bận rộn, cô lại nghĩ đến những ngày tháng may mắn khi anh tới ngồi làm việc tại bàn số 17 của tiệm Clark’s. Ở đó, gần sát với cô, anh đã viết nên tuyệt tác mà tối nào cô cũng đọc lại vài trang. Nếu anh muốn quay lại sống ở Aurora, anh có thể tiếp tục tới đây hàng ngày: cô sẽ ở lại phục vụ để có niềm vui ở cạnh bên anh. Đối với cô, làm người phục vụ bánh mì kẹp suốt cả đời cũng chả sao, nếu như được tồn tại bên cạnh anh. Cô sẽ giữ bàn này để dành riêng cho anh, luôn luôn chỉ dành cho anh. Mặc dù cách đối xử của mẹ cô có thay đổi, cô sẽ tự bỏ tiền túi ra đặt làm tấm biển bằng kim loại đóng vít vào bàn số 17, trên đó viết rõ:
Tại chính chiếc bàn này, trong suốt mùa hè năm 1975, nhà văn Harry Quebert đã viết nên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của mình Nguồn gốc cái xấu xa.
Ngày 13 tháng Mười năm 1976, Jenny tổ chức lễ sinh nhật thứ 26. Harry đang ở Philadelphie, cô đọc được tin đó trên báo. Kể từ khi ra đi, anh không hề gửi cho cô bất kì tin tức gì. Buổi tối hôm đó, trong phòng khách của gia đình và trước bố mẹ Jenny, Travis Dawn, từ một năm nay luôn tới ăn cơm tại gia đình họ Quinn vào các ngày Chủ nhật, đã ngỏ lời cầu hôn Jenny. Và vì không còn có chút hi vọng gì, nên cô đã chấp thuận.
* * *
Tháng Bảy năm 1985
10 năm sau vụ bắt cóc Nola cùng những ám ảnh về Nola đã bị thời gian xóa nhòa. Trên đường phố ở Aurora, từ lâu cuộc sống lại bắt đầu hồi sinh: trẻ con lại đi giày trượt tiếp tục chơi hockey và cười đùa ầm ĩ, chúng lại thi nhảy dây, thì đánh chàm trên vỉa hè. Trên đường phố chính, xe đạp lại đỗ chật kín trước lối vào cửa hàng bánh kẹo của gia đình Hendorf nhưng từ đó thì một nắm kẹo được bán với giá gần một đô la. Tại Goose Cove, cuối buổi sáng tuần thứ hai của tháng Bảy, Harry ngồi trước hiên nhà, tranh thủ tận hưởng ánh sáng mặt trời ấm áp của một ngày đẹp tuyệt vời để chữa những trang bản thảo của cuốn tiểu thuyết mới; gần bên cạnh, chú chó nhỏ Storm đang nằm ngủ. Một đàn chim mòng biển bay ngang trên đầu. Ông nhìn dõi theo, chúng sà xuống đậu trên bãi biển. Ngay lập tức, ông đứng dậy đi vào trong bếp, tìm chiếc hộp bằng sắt trắng có dập chữ KỈ NIỆM ROCKLAND, MAINE, rồi đi ra bãi biển tung bánh mì cho lũ chim, sau ông là chú chó Storm già nua bước đi khó nhọc vì viêm khớp. Ông ngồi trên bãi đá cuội ngắm bầy chim ăn bánh, chú chó cũng ngồi xuống bên cạnh. Ông vuốt ve nó hồi lâu. “Storm đáng thương, ông nói với nó, mày đi lại khó nhọc quá nhỉ. Bởi vì mày chẳng còn trẻ lắm nữa rồi… Còn nhớ ngày ta mua mày về đây, ngay trước lễ Giáng sinh năm 1975… Lúc đó mày là một cục lông nhỏ xíu, không to hơn hai nắm tay của ta”.
Bất chợt, ông nghe thấy có tiếng gọi.
– Harry?
Trên sân nhà, một vị khách đang gọi tên ông. Harry nheo mắt lại và nhận ra Eric Rendall, hiệu trưởng trường đại học Burrows, bang Massachusetts. Hai người đàn ông thấy quý mến nhau sau một cuộc hội thảo tổ chức một năm trước, và kế từ đó, họ thường xuyên liên lạc với nhau.
– Eric, anh đấy à?
Harry trả lời.
– Tôi đây. Cứ đứng đấy, tôi lên đây.
Vài giây sau, Harry đi trước, chú chó nhỏ già nua giống labrador nặng nhọc bước theo sau, lên gặp Rendall tại sân nhà.
– Tôi đã cố gắng gọi điện cho anh trước, ông hiệu trưởng tỏ ý xin lỗi vì cuộc viếng thăm đường đột.
– Tôi không hay trả lời điện thoại lắm, Harry mỉm cười.
– Tiểu thuyết mới của anh đấy à? Rendall nhìn đống giấy lộn xộn trên bàn, hỏi.
– Vâng, sẽ xuất bản mùa thu này. Tôi đã viết trong vòng hai năm. Tôi còn phải đọc lại nữa, nhưng anh biết đấy, tôi nghĩ sẽ không bao giờ có thể viết được gì tương tự như Nguồn gốc cái xấu xa.
Rendall nhìn kĩ Harry với vẻ thân thiện:
– Suy cho cùng, ông ta nói, mỗi nhà văn chỉ viết một cuốn duy nhất trong đời.
Harry gật đầu tán thành và mời khách một cốc cà phê. Rồi họ ngồi xuống bên cạnh bàn. Rendall giải thích:
– Harry, tôi đường đột tới đây tìm ông vì tôi nhớ ông bảo tôi là có mong muốn được dạy ở một trường đại học. Hiện tại có một vị trí trống ở khoa Văn trường đại học Burrows. Tôi biết, đây không phải là đại học Harvard, nhưng Burrows là trường đại học có chất lượng. Nếu ông quan tâm tới vị trí này, thì nó là của ông.
Harry quay lại phía con chó lông màu mặt trời, nựng:
– Mày có nghe thấy không, Storm, Ông thì thầm vào tai nó. Ta sẽ trở thành giáo sư đại học.