“Anh phải chuẩn bị câu chữ giống như người ta chuẩn bị một trận đấm bốc vậy, Marcus ạ: những ngày trước khi xảy ra trận đấu, phải huy động tối đa bảy mươi phần trăm khả năng luyện tập để làm nóng và trào lên trong mình cơn điên dại, và ta chỉ cho nó nổ tung ra khi thực sự xung trận.
– Nghĩa là sao ạ?
– Nghĩa là khi anh có một ý tưởng, thay vì bắt tay vào viết ngay một truyện ngắn dở ẹc rồi cho xuất bản liền trên trang đầu tạp chí, thì anh phải giữ nó thật kín cho đến lúc chín muồi. Anh phải ngăn không cho nó bộc phát ra, phải để cho nó lớn lên trong anh cho đến tận khi anh cảm thấy đã đến lúc. Nó sẽ là số một… Tới chương nào rồi?
– 18.
– Không phải, chương 17 chứ.
– Thầy biết rồi sao còn hỏi?
– Để xem anh có chăm chú theo dõi không, Marcus ạ.
– Vậy là tới chương 17, thầy Harry… Biến các ý tưởng
– …thành thiên khải”.
Thứ Ba ngày 1 tháng Bảy năm 2008, trong phòng thăm tù nhân tại Nhà tù bang New Hampshire, tôi đang say sưa nghe Harry kể chuyện vào buổi tối ngày 3 tháng Tám năm 1975 , khi vừa nhấn hết ga trên con đường 1 chuẩn bị rời Aurora, thì thầy gặp một ô tô đi ngược chiều, chiếc xe lập tức đuổi theo xe của Harry.
* * *
Tối Chủ nhật ngày 3 tháng Tám năm 1975
Mới đầu, anh cứ tưởng là xe cảnh sát, nhưng chiếc xe đó không có đèn nhấp nháy cũng không có còi hụ. Nó bấm còi đuổi theo anh nhưng anh không hiểu tại sao. Bỗng nhiên anh lo sợ bị bọn cướp tấn công. Anh tăng tốc hết cỡ, nhưng kẻ bám theo anh vẫn vượt lên được. Hắn chặn đầu, bắt anh phải dừng lại bên vệ đường. Harry nhảy ra khỏi buồng lái, sẵn sàng hạ gục kẻ chặn đường, chợt nhận ra Luther Caleb, tài xế của Stern, cũng đang nhảy khỏi xe.
– Anh điên à! Harry gào lên.
– Phin phòng làm ơn phứ lỗi, phông Quebert. Phôi phông muốn Phàm phông sợ. Nhưng phông Stern, phông ấy dứt khoát muốn gặp Phông bằng được. Phôi tìm phông mấy ngày nay rồi.
– Ông Stern muốn gặp tôi để làm gì?
Harry run rẩy, chất adrealine sản sinh quá nhiều làm tim anh muốn nổ tung.
– Phôi phông biết gì hết, phưa phông, Luther nói. Nưng phông ấy bảo rằng phoan trọng lắm. Phông ấy đợi phông ở nhà.
Luther nằn nì khiến Harry đành miễn cưỡng chấp nhận đi theo anh ta tới Concord. Màn đêm buông xuống. Họ tới cơ ngơi rộng lớn của Stern. Caleb không hé răng nửa lời, âm thầm dẫn Harry đi sâu vào bên trong ngôi nhà, đến tận cái sân rộng. Elijah Stern trong bộ quần áo mặc nhà, đang ngồi bên bàn uống nước chanh. Ngay khi thấy Harry tới, ông ta liền đứng lên đón tiếp. Rõ ràng có vẻ như trút được gánh nặng khi thấy Harry.
– Trời ơi, anh Harry quý mến, tôi cứ tưởng sẽ không bao giờ tìm được anh! Xin cảm ơn anh đã đến tận đây vào thời điểm như thế này. Tôi gọi điện về nhà anh, tôi còn viết cả thư cho anh. Nhưng anh trốn ở chỗ chết tiệt nào mà kĩ thế?
– Tôi không có mặt trong thành phố! Có chuyện gì quan trọng thể?
– Tôi biết hết! Biết hết! Anh muốn giấu tôi sự thật đúng không?
Harry thấy người mình nhũn ra, vậy là Stern biết chuyện anh với Nola!
– Anh đang nói chuyện gì vậy? Harry lúng búng nhằm kéo dài thời gian.
– Thì về chuyện ngôi nhà ở Goose Cove chứ còn chuyện gì nữa, trời đất ơi. Sao không nói với tôi là anh sắp phải trả nhà cho tôi vì lí do tiền bạc? Công ty ở Boston vừa thông báo cho tôi biết. Họ bảo anh gọi điện cho họ thỏa thuận mang trả chìa khóa vào ngày mai. Tình hình khẩn cấp thế nên dứt khoát tôi phải nói chuyện với anh ngay! Tôi thấy anh đi thì đáng tiếc quá. Tôi quả thực không cần đến số tiền cho thuê nhà, tôi lại còn có ý muốn hỗ trợ dự án viết sách của anh. Tôi muốn anh ở lại Goose Cove cho đến khi anh hoàn thành cuốn sách, anh thấy thế nào? Anh có nói với tôi nơi đó mang lại cho anh cảm hứng, thế thì sao lại phải đi? Tôi thu xếp xong xuôi với công ty môi giới rồi. Tôi rất yêu nghệ thuật và văn hóa: nếu như anh cảm thấy thoải mái, thì cứ ở lại đó thêm vài tháng nữa! Tôi sẽ rất tự hào khi có thể đóng góp gì đó cho sự hình thành một cuốn tiểu thuyết lớn. Đừng từ chối tôi, tôi không quen biết nhiều nhà văn. Tôi hoàn toàn thành tâm muốn giúp.
Harry đổ sụp xuống chiếc ghế tựa, thở hắt ra nhẹ nhõm. Anh chấp thuận ngay lời đề nghị của Elijah Stern. Đây là cơ hội hiếm có ngoài sự mong đợi: có thể ở lại Goove Cove thêm vài tháng nữa, có thể hoàn thành cuốn đại tiểu thuyết nhờ vào nguồn cảm hứng từ Nola. Nếu anh chỉ sống giản dị, lại không còn phải lo trả tiền thuê nhà, thì anh có thể chi trả được sinh hoạt phí. Anh còn ngồi lại trên sân thêm lúc nữa với Stern để trò chuyện về văn chương, nhất là để tỏ ra lịch sự với người giúp đỡ mình còn thực ra, ước muốn duy nhất của anh lúc này là về Aurora ngay lập tức để gặp Nola, và thông báo cho nàng biết anh đã tìm được giải pháp. Rồi anh lại nghĩ, có thể nàng đã tới Goose Cove. Không biết nàng có thấy cửa khóa? Liệu nàng có phát hiện ra anh bỏ trốn và sẵn sàng bỏ rơi nàng? Anh thấy bụng mình quặn đau. Ngay khi tìm ra một cái cớ hợp lý, anh vội cáo từ, phóng xe hết tốc lực về Goose Cove. Anh vội vàng mở lại tất cả cửa nhà, cửa sổ, cửa chớp, đường nước, đường điện, đường gaz; sắp xếp đồ đạc vào vị trí cũ và xóa hết các dấu vết của cuộc bỏ trốn vừa rồi. Nola phải không bao giờ được biết. Nola, tiên nữ của anh. Nàng thơ của anh. Không có nàng, anh sẽ không thể làm được bất kì điều gì.
* * *
– Vậy đấy, Harry nói, tôi được ở lại Goose Cove tiếp tục viết cuốn sách như vậy đấy. Các tuần tiếp theo, tôi không làm gì ngoài một việc, đó là viết. Tôi viết như kẻ điên, viết cuồng nhiệt, viết đến quên cả khái niệm sáng và tối, đói và khát. Viết không ngừng nghỉ, viết đến nỗi đau mắt, đau tay, đau đầu và đau ê ẩm khắp người. Viết đến nỗi muốn ói. Suốt ba tuần liền, tôi viết cả ngày cả đêm. Trong khi đó, Nola bên cạnh chăm sóc tôi. Nàng đến trông chừng tôi, cho tôi ăn, cho tôi ngủ, đưa tôi đi dạo chơi mỗi khi nàng thấy tôi sắp kiệt sức. Bí ẩn, kín đáo mà luôn luôn hiện diện: nhờ nàng, tất cả đều trở thành có thể. Đặc biệt, nàng đánh máy lại các tờ giấy của tôi bằng chiếc Remington cầm tay. Nàng thường mang bản nháp theo để đọc, không hề hỏi ý kiến tôi. Ngày hôm sau, nàng chia sẻ ý kiến với tôi. Nàng hay khen ngợi, bảo rằng những điều tôi viết thật tuyệt vời, văn tôi viết là những lời lẽ đẹp nhất mà nàng được đọc. Bằng đôi mắt chứa chan tình yêu, nàng khiến trong tôi ngập tràn một niềm tin đặc biệt.
– Vậy thầy nói với Nola thế nào về ngôi nhà? Tôi hỏi.
– Tôi bảo rằng tôi yêu nàng hơn hết thảy, tôi muốn ở lại bên nàng nên đã thỏa thuận được với ngân hàng giúp tôi tiếp tục thuê ngôi nhà. Chính nhờ nàng mà tôi viết được cuốn sách này, Marcus ạ. Tôi không còn tới tiệm Clark’s nữa, gần như không ai thấy mặt tôi trong thành phố. Nàng chăm sóc tôi, lo toan mọi thứ. Thậm chí nàng còn bảo tôi không tự đi chợ được vì tôi không biết mình cần mua cái gì. Vậy nên, chúng tôi hay cùng nhau đi siêu thị cách xa nhà, ở đó chúng tôi được bình yên. Khi nàng phát hiện ra tôi bỏ bữa hoặc chỉ ăn tối bằng vài thanh sô cô la, thì nàng tức giận. Những cơn cáu giận thật đáng yêu… Tôi muốn những cơn cáu giận dịu dàng đó sẽ theo tôi suốt mọi sáng tác và suốt cuộc đời tôi.
– Vậy thực sự là thầy viết cuốn Nguồn gốc cái xấu xa chỉ trong có vài tuần thôi ư?
– Đúng vậy. Trong tôi tràn trề một năng lực sáng tạo ngự trị, có thể gọi là điên cuồng mà tôi chưa bao giờ biết tới. Có phải do tình yêu? Không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi nghĩ khi Nola biến mất, thì một phần tài năng của tôi cũng biến mất theo. Bây giờ anh có thể hiểu được tại sao tôi khuyên anh đừng lo lắng khi thấy anh khó tìm cảm hứng.
Lính gác đến báo cho chúng tôi thời gian thăm tù nhân đã hết và mời tôi kết thúc câu chuyện.
– Thế thầy bảo Nola cầm theo bản thảo viết tay ư? Tôi vội hỏi lại để khỏi bị lạc mất mạch chuyện.
– Nola mang đi những trang đã đánh máy xong. Nàng cầm về đọc rồi góp ý kiến. Marcus à, tháng Tám năm 1975 thực sự là những ngày trên thiên đường. Tôi hạnh phúc biết bao. Chúng tôi thực sự hạnh phúc biết bao. Nhưng dù vậy, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh vì có ai đó biết chuyện giữa chúng tôi. Kẻ đó sẵn sàng làm việc bẩn thỉu, chiếc gương và những lời lẽ kinh hoàng. Có thể chính người này đang rình rập chúng tôi từ trong rừng và thấy hết. Ý nghĩ này làm tôi phát ốm.
– Đây có phải là lí do khiến thầy muốn bỏ trốn không? Tại sao hai người lại dự tính bỏ trốn vào ngày 30 tháng Tám?
– Đó là vì có chuyện khủng khiếp xảy ra, Marcus ạ. Anh đang ghi âm à?
– Vâng.
– Tôi sẽ kể cho anh nghe một chuyện cực kì kinh hoàng. Để anh có thể hiểu. Nhưng tôi không muốn chuyện này phát tán ra.
– Cứ tin tưởng ở em.
– Anh biết đấy, một tuần chúng tôi sống với nhau ở Martha’s Vineyard, Nola nói dối là đến nhà bạn chơi, nhưng thực ra cô ấy đã bỏ nhà đi mà không nói năng gì. Nàng đi mà không nói với ai nữa lời. Vào ngày hôm sau khi chúng tôi trở về, tôi gặp lại Nola, nàng buồn vô hạn. Nàng bảo tôi là bị mẹ đánh. Toàn thân nàng đầy những vết thâm tím. Nàng khóc. Ngày hôm đó, nàng bảo tôi nàng đã bị mẹ trừng phạt mà không có lí do. Bà ấy đánh bằng cái thước kẻ sắt, rồi bà ấy cũng làm cái trò quái đản như đã từng làm ở Guantánamo, đó là dìm đầu con gái mình xuống nước: bà ấy đổ đầy thùng nước, túm tóc con gái dúi đầu xuống. Bà ấy bảo làm vậy là để giải thoát cho nàng.
– Giải thoát cho cô ấy ư?
– Giải thoát khỏi tội ác. Tôi nghĩ đó là một kiểu rửa tội. Giống như Jesus ở Jourdain hay kiểu tương tự như thế. Mới đầu, tôi không tin được, nhưng bằng chứng vẫn còn rành rành ra đó. Tôi hỏi: “Ai làm em thế này?-Mẹ.-Thế sao bố em không can? -Bố đóng cửa ở trong gara nghe nhạc rất to. Bố làm như vậy mỗi khi mẹ trừng phạt em. Bố không muốn phải nghe thấy”. Nola không thể chịu đựng hơn nữa Marcus ạ. Nàng không thể chịu đựng được nữa. Tôi muốn đến thẳng gặp nhà Kellergan giải quyết việc này. Chuyện này phải chấm dứt. Nhưng Nola van vỉ tôi không được làm gì hết, nàng sẽ gặp rắc rối, bố mẹ chắc chắn sẽ đưa nàng đi xa và chúng tôi sẽ không bao giờ được gặp nhau nữa. Tuy nhiên, tình trạng này không thể kéo dài thêm. Vì thế vào khoảng ngày 20 tháng Tám, chúng tôi quyết định phải nhanh chóng bỏ đi. Tất nhiên là bí mật, không cho ai biết. Chúng tôi quyết định sẽ bỏ trốn ngày 30 tháng Tám. Chúng tôi muốn đi tận Canada, qua biên giới Vermont. Có thể là tới tận Colombie Britannique, tìm một căn lều gỗ để sống. Cuộc sống tươi đẹp bên hồ nước. Sẽ không ai có thể biết chuyện.
– Vậy lí do cả hai quyết định bỏ trốn cùng nhau là vậy?
– Đúng thế.
– Vì sao thầy lại không kể cho em chuyện đó?
– Vì đó mới chỉ là phần mở đầu của câu chuyện, Marcus ạ. Vì sau đó, tôi đã phát hiện ra một sự thực kinh hoàng về mẹ của Nola.
Đúng lúc đó, chúng tôi phải dừng lại vì lính gác tới. Thời gian thăm tù nhân đã hết.
– Chúng ta sẽ nói tiếp chuyện này vào lần tới, Marcus ạ, Harry vừa đứng dậy vừa nói với tôi. Trong khi chờ đợi, dứt khoát cậu phải giữ kín chuyện này đấy.
– Em xin hứa, thầy Harry ạ. Nói cho em biết điều này: cuốn sách của thầy sẽ thế nào nếu cả hai bỏ đi?
– Tôi sẽ thành nhà văn lưu đày, hoặc cũng có thể hoàn toàn không còn là nhà văn nữa. Vào lúc đó, điều này không có ý nghĩa gì cả. Chỉ có Nola là quan trọng, cô ấy là thế giới của tôi. Những thứ còn lại không quan trọng.
Tôi đứng ngây người. Kế hoạch điên rồ mà thầy Harry dựng ba mươi năm trước là vậy: Chạy trốn tới tận Canada cùng người con gái mà ông yêu như điên dại. Bỏ đi cùng Nola, sống một cuộc đời kín đáo bên bờ hồ. Không nghi ngờ gì nữa, đêm trước khi bỏ trốn, Nola biến mất và bị giết chết. Và một điều chắc chắn, cuốn sách ông viết trong khoảng thời gian ngắn kỉ lục cũng là cuốn sách ông sẵn sàng vứt bỏ, lại trở thành tác phẩm thành công nhất trong suốt nửa thế kỉ qua.
Trong lần gặp gỡ thứ hai, Nancy Hattaway thổ lộ với tôi cách nhìn nhận của cô ấy về tuần lễ ở Martha’s Vineyard. Cô ấy kể, sau khi Nola xuất viện về nhà, trong suốt một tuần tiếp theo, ngày nào họ cũng đi tắm biển với nhau ở bãi biển Grand và nhiều lần Nola ở lại nhà cô ăn tối. Nhưng vào thứ Hai sau đó, cũng như các ngày trước, khi Nancy đến bấm chuông nhà số 245 Terrace Avenue để rủ Nola ra biển, thì bố Nola nói rằng Nola bị ốm nặng, phải nằm nghỉ trên giường.
Suốt tuần đó, Nancy nói, luôn là điệp khúc: “Nola ốm lắm, nó cũng không thể tiếp khách được”. Ngay cả mẹ tôi cũng thấy lạ và đến hỏi thăm, nhưng cũng không được phép bước qua cửa vào nhà. Điều này làm tôi phát điên, tôi tin chắc đang có chuyện thêu dệt gì xảy ra ở đây. Đúng lúc đó, tôi cũng hiểu ra: Nola đã biến mất.
– Điều gì khiến cô nghĩ như vậy? Cũng có thể cô ấy bị ốm liệt giường chứ
– Vào thời kì đó, chính mẹ tôi đã chứng nhận: hoàn toàn không có tiếng nhạc. Trong suốt tuần, không hề có tiếng nhạc đinh tai nhức óc ấy.
Tôi giả vờ vặn vẹo:
– Nếu cô ấy ốm, rất có thể người nhà không bật nhạc to để tránh làm phiền.
– Đó là lần đầu tiên kể từ lâu lắm rồi không có tiếng nhạc chói tai. Điều này hoàn toàn bất bình thường. Bởi vậy, tôi muốn biết rõ ràng. Không biết là lần thứ bao nhiều sau khi được nghe trả lời Nola ốm nặng phải nằm trên giường, tôi bí mật lẻn ra sau nhà, nhìn qua cửa sổ phòng Nola. Căn phòng không có người, giường chiếu ngăn nắp gọn gàng. Nola không có nhà, đó là điều chắc chắn. Thế rồi đến tối Chủ nhật, lại có tiếng nhạc. Âm thanh đáng nguyền rủa ấy lại vang lên từ gara, và thế là, ngày hôm sau thì Nola xuất hiện. Anh định bảo đó chỉ là sự trùng hợp ư? Cuối buổi chiều hôm đó, cô ấy tới nhà tôi. Chúng tôi cùng đi dạo ở khu quảng trường trên phố chính. Ở đó, tôi bắt cô ấy phải thú nhận. Nhất là vì những vết đánh trên lưng cô ấy: tôi bắt cô ấy ra phía sau bụi cây, vén váy lên, tôi thấy rõ các vết tím vô cùng tàn bạo. Tôi nài nỉ để biết chuyện gì xảy ra. Rốt cuộc cô ấy thú nhận mình bị phạt vì đã bỏ nhà đi suốt cả một tuần liền. Cô ấy bỏ đi với một người đàn ông, một người lớn tuổi. Chắc đó chính là Stern. Cô ấy bảo tuần lễ đó vô cùng tuyệt diệu nên khi trở về nhà có bị đánh dã man như vậy cũng đáng.
Tôi không vội nói cho Nancy biết là cả tuần đó Nola đi Martha’s Vineyard với Harry chứ không phải Elijah Stern. Nhưng có vẻ cô ấy cũng không biết gì nhiều về mối quan hệ giữa Nola với Elijah Stern.
– Tôi nghĩ chuyện với Stern là vớ vẩn, Nancy Hattaway nói tiếp. Nhất là bây giờ nghĩ lại. Luther Caleb tới Aurora bằng chiếc Mustang màu xanh lơ. Tôi biết anh ta chở cô ấy tới nhà Stern. Tất nhiên là mọi việc đều vụng trộm, nhưng có lần chính tôi đã chứng kiến. Lúc đó, Nola bảo: “Cấm không được nói với ai đấy nhé! Cậu thề đi, nhân danh tình bạn, cậu phải thề đi. Nếu không cả hai chúng ta sẽ gặp rắc rối đấy”. Tôi trả lời: “Nhưng Nola, tại sao cậu lại tới nhà lão già ấy?” Cô ấy trả lời: “Vì tình yêu”.
– Nhưng chuyện ấy bắt đầu từ khi nào? Tôi hỏi.
– Tôi không biết phải trả lời anh thế nào. Tôi biết chuyện đó vào mùa hè, nhưng tôi không nhớ là khi nào. Mùa hè năm đó, có bao nhiều chuyện đã xảy ra. Có thể câu chuyện đã kéo dài từ lâu, thậm chí từ mấy năm trước, ai mà biết được.
– Nhưng rốt cuộc chắc cô đã kể lại chuyện này với ai đúng không. Nhất là lúc Nola mất tích ấy?
– Tất nhiên rồi! Tôi có nói chuyện này với cảnh sát trưởng Pratt. Tôi nói toàn bộ sự việc mà tôi biết, tất cả những điều mà tôi vừa nói với anh thì tôi cũng nói với ông ấy. Ông ấy bảo tôi đừng nên lo lắng, ông ấy sẽ làm sáng tỏ sự việc.
– Thế cô có sẵn lòng nhắc lại toàn bộ câu chuyện này một lần nữa trước tòa không?
– Tất nhiên rồi, nếu cần thiết.
Tôi rất muốn được nói chuyện một lần nữa với mục sư Kellergan trước mặt Gahalowood. Tôi gọi điện cho Gahalowood để xin ý kiến.
– Tôi nghĩ rằng anh đang có ý đồ thẩm vấn cha Kellergan cùng với tôi, phải vậy không?
– Vừa đúng vừa sai. Tôi muốn đề cặp với ông ấy những yếu tố mới của cuộc điều tra: mối quan hệ của ông ấy với con gái và những cú đòn trên người cô ấy.
– Thế anh muốn gì? Anh muốn tôi hỏi một người cha rằng chẳng may con gái của ông ta có phải là một con điếm không à?
– Thôi đi trung sĩ, anh biết rõ là chúng ta đang mang ra ngoài ánh sáng những yếu tố quan trọng. Trong vòng một tuần, tất cả những điều tôi tin chắc đã bị phủ định sạch trơn. Ngày hôm nay, liệu anh có thể nói cho tôi rõ Nola Kellergan thực sự là ai chưa?
– Tôi đồng ý, nhà văn ạ, anh thuyết phục được tôi rồi đó. Ngày mai ta sẽ đến Aurora. Anh có biết tiệm Clark’s không?
– Tất nhiên rồi, sao không!
– Hẹn nhau 10 giờ ở đó nhé. Tôi sẽ giải thích cho anh hiểu sau.
Sáng hôm sau, tôi tới tiệm Clark’s trước giờ hẹn để tranh thủ nói chuyện chút ít với cô Jenny. Tôi đề cập đến buổi vũ hội mùa hè năm 1975 và cô ấy kể rằng đó là kỉ niệm tệ nhất của mình về buổi lễ, vì cô đã tưởng sẽ tới đó tay trong tay với Harry. Điều tồi tệ nhất xảy ra vào lúc Harry trúng giải nhất. Cô thầm ao ước sẽ được Harry chọn, một buổi sáng, Harry sẽ tới rồi mang cô đi nghỉ một tuần ngập tràn tình yêu dưới ánh nắng mặt trời.
– Tôi đã hi vọng biết bao, cô ấy nói, rằng anh ấy sẽ chọn tôi. Ngày nào tôi cũng đợi anh ấy. Sau đó, vào cuối tháng Bảy, anh đã biến mất suốt một tuần. Lúc đó tôi hiểu rằng anh ấy hẳn đã đi Martha’s Vineyard mà không có tôi. Tôi không biết anh ấy có đi với ai không…
Tôi nói dối để làm cô bớt đau lòng:
– Một mình, tôi nói. Ông ấy đi một mình.
Jenny mỉm cười như trút được gánh nặng. Rồi cô ấy nói tiếp:
– Kể từ khi tôi biết được chuyện giữa Harry và Nola, biết rằng anh ấy viết cuốn sách đó cho Nola, tôi cảm giác mình không còn là phụ nữ nữa. Tại sao anh ấy lại chọn Nola kia chứ?
– Những chuyện như thế không ai chủ động quyết định được. Thế cô không bao giờ nghi ngờ về Harry và Nola à?
– Harry và Nola ư? Ôi trời ơi, ai có thể ngờ một chuyện như thế có thể xảy ra?
– Nhưng mẹ cô biết chuyện đúng không? Ngay từ đầu, lúc nào bà ấy cũng khẳng định là biết tất cả. Thế trước đây, bà ấy có bao giờ nói chuyện này với cô không?
– Mẹ tôi không bao giờ nói về quan hệ giữa Harry và Nola. Nhưng đúng là sau khi Nola mất tích, mẹ tôi nói là có nghi ngờ Harry. Hơn nữa, tôi nhớ ngày Chủ nhật, trong khi Travis tán tỉnh tôi, thì mẹ tôi cứ nhắc đi nhắc lại: “Tôi chắc chắn Harry có liên quan đến việc con bé mất tích!”. Còn Travis thì trả lời: “Phải có bằng chứng, bác Quinn ạ, nếu không thì chẳng có cơ sở gì cả”. Thế mà mẹ tôi vẫn còn tiếp tục nhắc lại: “Tôi có bằng chứng. Bằng chứng không thể chối cãi được. Nhưng tôi đánh mất nó rồi”. Riêng tôi thì không bao giờ tin. Mẹ tôi chỉ muốn Harry phải chết kể từ sau bữa tiệc ngoài vườn.
Đúng 10 giờ, Gahalowood tới tiệm Clark’s gặp tôi.
– Anh gái đúng chỗ ngứa rồi đấy, nhà văn ạ, anh ta vừa nói vừa ngồi xuống cạnh tôi.
– Tại sao anh nói vậy?
– Tôi đã điều tra về Luther Caleb. Không dễ dàng gì, nhưng tôi phát hiện ra rằng: Luther Caleb sinh năm 1940 tại Portland, Maine. Không hiểu tại sao anh ta lại tới vùng này, nhưng giữa những năm 1970-1975, anh ta gặp vấn đề với cảnh sát Concord, Montburry và Aurora vì có những hành vi không đúng mực với phụ nữ. Anh ta lê la ngoài đường tiếp cận họ. Thậm chí anh ta đã bị Jenny Quinn, sau này là bà Dawn đâm đơn kiện. Bà Dawn chính là người chủ nhà hàng này. Đơn kiện vì tội quấy rối được gửi cho cảnh sát vào tháng Tám năm 1975. Đó là lí do tại sao tôi muốn hẹn gặp anh tại đây.
– Cô Jenny đã gửi đơn kiện Luther Caleb sao? Anh biết bà ấy à?
Tất nhiên rồi.
– Mời bà ấy ra đây đi.
Tôi nhờ người phục vụ vào bếp gọi Jenny. Gahalowood tự giới thiệu và yêu cầu Jenny nói về Luther. Cô ấy nhún vai:
– Anh biết rồi đấy, không có gì nhiều để nói. Caleb là người tốt bụng. Rất dịu dàng mặc dù vẻ ngoài hết sức dữ dằn. Thỉnh thoảng anh ta có tới tiệm Clark’s. Tôi lại mời anh ấy bánh mì kẹp hay cốc cà phê. Tôi không bao giờ bắt anh ta trả tiền, anh ta nghèo khiến tôi thương cảm.
– Thế mà cô lại kiện anh ta, Gahalowood nói.
Cô Jenny tỏ vẻ ngạc nhiên:
– Tôi thấy anh nắm thông tin rất rõ đấy, trung sĩ ạ. Điều này xảy ra trước đó rất lâu. Chính Travis thúc giục tôi đâm đơn kiện. Thời kỳ đó, Travis bảo rằng Luther là người nguy hiểm, phải giữ khoảng cách với anh ta.
– Tại sao lại nguy hiểm?
– Mùa hè năm đó , anh ta rất hay lượn lờ ở Aurora. Đôi khi anh ta tỏ ra hung hăng với tôi.
– Vì lí do gì mà anh ta lại hành động thô bạo?
– Thô bạo thì hơi quá. Có thể nói là có vẻ rất hung hăng. Anh ta cứ nằn nì để… Ôi trời, có thể các anh sẽ thấy điều này nực cười…
– Làm ơn nói hết cho chúng tôi, có thể đó là chi tiết quan trọng.
Tôi gật đầu để khuyến khích Jenny.
– Anh ta nài nỉ vẽ tôi, cô trả lời.
– Vẽ cô à?
– Đúng vậy. Anh ta bảo tôi đẹp, anh ta thấy tôi tuyệt vời và chỉ muốn vẽ tôi mà thôi chứ không có ý định gì khác.
– Rồi sao nữa? Tôi hỏi.
– Thế rồi không thấy anh ta quay lại đây nữa, Jenny trả lời tôi. Theo như người ta nói thì anh ta bị chết trong ô tô. Phải hỏi Travis, chắc anh ấy biết.
Gahalowood xác nhận đúng là Luther Caleb chết vì tai nạn giao thông. Ngày 26 tháng Chín năm 1975, tức là bốn tuần sau khi Nola mất tích, người ta tìm thấy ô tô của anh ta dưới một vách đá dựng đứng, gần Sagamore, thuộc bang Massachusetts, cách Aurora chừng hai trăm dặm. Ngoài ra, Luther từng theo học hội họa ở Portland. Theo Gahalowood, có thể tin chắc rằng chính anh ta là người vẽ bức tranh Nola.
– Luther có vẻ là một tay được đấy, anh ta nói với tôi. Không biết anh ta có tìm cách gây chuyện với Nola không? Có phải chính anh ta mang Nola vào rừng Side Creek không? Khi cơn hung bốc lên, biết đâu anh ta giết chết Nola. Sau khi vứt xác Nola, anh ta trốn sang bang Massachusetts. Lương tâm cắn rứt, cộng với việc biết mình bị truy lùng, anh ta đã lao xe xuống vực thẳm. Anh ta có em gái ở Portland, Maine. Tôi đã có gọi điện thoại cho cô ấy mấy lần mà chưa được. Tôi sẽ liên lạc lại với cô ấy.
– Tại sao hồi đó cảnh sát lại không thiết lập mối liên hệ với anh ta?
– Để thiết lập mối liên hệ, phải coi Caleb là kẻ tình nghi. Thế nhưng, hồi đó, trong hồ sơ không hề có bất kì yếu tố nào liên quan tới anh ta.
– Chúng ta có thể quay lại hỏi cung Stern được không? Một cách chính thức. Thậm chí là có thể khám nhà ông ta. Tôi liền hỏi.
Gahalowood, vẻ nhụt chí:
– Ông ta rất có thế lực. Tại thời điểm này thì xương quá. Chừng nào chúng ta chưa có được bằng chứng chắc chắn, thì chưởng lý không bao giờ chấp nhận. Chúng ta cần phải có được bằng chứng cụ thể, nhà văn ạ, chúng ta cần có bằng chứng.
– Có bức tranh còn gì.
– Bức tranh là bằng chứng bất hợp pháp, tôi còn phải nhắc đi nhắc lại với anh bao lần nữa đây? Bây giờ, nói cho tôi biết anh định làm gì tại nhà cha Kellergan thì hơn.
– Tôi cần phải làm sáng tỏ vài điểm. Càng nghiên cứu về ông ta và vợ ông ta, tôi càng có thêm nhiều câu hỏi.
– Tôi nhắc đến vụ Harry và Nola ngấm ngầm trốn đi Martha’s Vineyard với nhau, rồi những trận đòn không ngớt của người mẹ còn ông bố thì trốn biệt trong gara. Theo tôi, bí ẩn dày đặc bao quanh Nola: một cô gái vừa tỏa sáng, vừa tối tăm. Theo như ý kiến của tất cả những người khác, Nola là cô gái chói lóa rạng rỡ, dù vậy cô vẫn muốn tìm đến cái chết. Ăn sáng xong, chúng tôi lên đường tới gặp David Kellergan.
Cửa ngôi nhà ở Terrace Avenue mở rộng, nhưng không ai ở nhà; không hề có tiếng nhạc phát ra từ gara. Chúng tôi đợi ông dưới cổng. Nửa tiếng sau, ông trở về với chiếc mô tô nổ như đại bác: chính là chiếc Harley Davidson mà ông sửa suốt ba mươi ba năm qua. Ông lái xe không mũ bảo hiểm, đeo tai nghe nối liền với máy phát nhạc bỏ túi. Ông ta hét lên chào chúng tôi vì nhạc quá to, rồi rốt cuộc ông cũng tắt máy phát nhạc vì bắt đầu bật nhạc từ cái pick-up trong gara, âm thanh rền vang cả ngôi nhà.
– Cảnh sát đã phải tới đây can thiệp nhiều lần, ông giải thích với chúng tôi, vì âm lượng quá to. Hàng xóm luôn phàn nàn. Chính cảnh sát trưởng Travis Dawn cũng phải thân chính tới tận đây để thuyết phục tôi từ bỏ âm nhạc. Tôi trả lời rằng: “Anh muốn gì: âm nhạc chính là để trừng phạt tôi”. Thế nên anh ta mua cho tôi tai nghe với chiếc máy nghe nhạc bỏ túi và chiếc CD màu đen này, tôi nghe suốt. Anh ta bảo, như thế màng nhĩ tôi có thể nổ tung chứ nếu không thì cái đồn cảnh sát sẽ bị nổ tung vì những cú gọi điện phàn nàn của hàng xóm.
– Thế còn chiếc mô tô? Tôi hỏi.
– Rốt cuộc thì tôi cũng sửa xong rồi. Đẹp đấy chứ hả?
Bây giờ khi đã biết kết cục về con gái mình, thì ông có thể kết thúc việc sửa chữa chiếc mô tô mà ông ta bắt đầu sửa từ buổi tối cô con gái mất tích.
David Kellergan mời chúng tôi ngồi trong bếp, tiếp chúng tôi món trà đá.
– Khi nào anh trả lại tôi bộ hài cốt của con gái tôi hả trung sĩ? Ông hỏi Gahalowood. Giờ phải chôn nó chứ.
– Sắp rồi, thưa ông. Tôi biết là rất khó khăn.
Người cha xoay xoay cốc nước.
– Nó thích uống trà đá lắm, ông nói với chúng tôi. Các tối mùa hè, chúng tôi thường pha cả chai to rồi mang ra ngoài bãi biển vừa uống vừa ngắm mặt trời xuống thấp dần dưới đại dương, những chú mòng biển bay lượn trên bầu trời. Nó rất thích mòng biến, nó yêu chúng vô cùng. Các anh biết không?
Tôi thừa nhận và nói:
– Thưa ông Kellergan, trong hồ sơ có nhiều điểm chưa sáng tỏ. Đó là lí do vì sao trung sĩ Gahalowood và tôi có mặt tại đây.
– Những điểm chưa rõ à? Dễ tưởng tượng lắm… Con gái tôi bị giết, bị chôn trong vườn. Thế các anh có tin gì mới không?
– Thưa ông Kellergan, ông có biết Elijah Stern không? Trung sĩ hỏi.
– Hơi hơi. Tôi có gặp ông ấy vài lần ở Aurora. Nhưng cách đây lâu lắm rồi. Một tay đại gia.
– Thế còn người giúp việc cho ông ta? Người đàn ông tên là Luther Caleb?
– Luther Caleb… Tôi không nhớ có quen ai tên như thế không. Các anh biết đấy, có thể tôi quên. Thời gian trôi qua và quét sạch tất cả. Tại sao các anh lại hỏi tôi như vậy?
– Có nhiều lý do cho thấy Nola có liên quan tới hai nhân vật này.
– Liên qua á? David Kellergan nhắc lại, vẻ nghi ngại. Liên quan theo cách nói của cảnh sát nghĩa là gì?
– Chúng tôi cho rằng, Nola có quan hệ với ông Stern. Tôi rất tiếc vì phải thông báo cho ông đột ngột như vậy.
Khuôn mặt người cha bỗng tím ngắt.
– Nola ư? Các anh đang cố gắng lái câu chuyện như thế nào đây? Cho rằng con tôi là loại gái điếm chăng? Con bé là nạn nhân của Harry Quebert, một kẻ ấu dâm độc hại đáng chết sớm! Anh phải đi lo chuyện với hắn ta chứ đừng đến đây làm vấy bẩn những người đã khuất, thưa trung sĩ! Cuộc đối thoại này chấm hết tại đây. Chào các anh.
Gahalowood ngoan ngoãn đứng lên nhưng tôi vẫn muốn làm sáng tỏ một số điểm bèn hỏi luôn:
– Vợ ông đã đánh Nola phải không?
– Xin lỗi anh, cái gì cơ? Kellergan nghẹn họng.
– Vợ của ông, bà ấy đánh Nola nhừ tử, đúng không?
– Anh đúng là bị điên rồi!
Tôi không để cho ông ta nói, tiếp lời luôn:
– Nola bỏ nhà đi cuối tháng Bảy năm 1975. Cô ấy bỏ nhà đi, thế mà ông không hề nói cho ai biết, tôi có nhầm không đấy? Tại sao vậy? Ông cảm thấy xấu hổ phải không? Tại sao ông không gọi cảnh sát khi cô ấy bỏ nhà vào thời gian đó?
Ông lúng búng giải thích:
– Nó lại quay về rồi mà… Bằng chứng là một tuần sau đó, nó đã có mặt ở nhà rồi.
– Một tuần! Mọi người nghe rõ đấy chứ, một tuần! Thế mà buổi tối hôm cô ấy mất tích, chỉ sau đó có một giờ đồng hồ, ông đã gọi ngay cảnh sát. Tại sao thế ?
Ông Kellergan bắt đầu hét lên:
– Bởi vì tối đó, khi đi tìm nó quanh đây, tôi nghe mọi người nói có cô gái máu me đầy mình ở đường Side Creek, ngay lập tức tôi liên tưởng đến con gái tôi. Rốt cuộc, anh muốn gì hả Goldman? Tôi không còn gia đình, tôi chẳng còn gì! Tại sao anh còn đến đây chọc vào vết thương của tôi lần nữa? Cút khỏi đây ngay, ngay bây giờ! Cút hết!
Tôi quyết không để cho mình bị lung lay:
– Ông Kellergan, điều gì đã xảy ra ở Alabama? Tại sao ông lại tới Aurora? Điều gì đã xảy ra ở Aurora năm 1975? Trả lời tôi đi, nhân danh Chúa, trả lời đi! Đấy chính là món nợ của ông với con gái ông đó!
Ông Kellergan đứng lên, nhảy bổ vào tôi như hóa dại. Ông ta đâm sầm vào cổ tôi với sức mạnh mà tôi không ngờ được. “Cút ra khỏi nhà tao ngay!”. Ông ta vừa hét lên vừa đẩy tôi ra ngoài. Tôi suýt ngã xuống đất nếu Gahalowood không kịp đỡ.
– Anh điên à, nhà văn? Gahalowood mắng tôi lúc quay ra xe ô tô. Hay anh chỉ là thằng không bình thường ngu xuẩn? Anh muốn biến tất cả các nhân chứng thành kẻ thù của chúng ta ư?
– Đúng là chẳng có gì rõ ràng cả…
– Cái gì chẳng rõ ràng? Ta đến bảo con gái ông ta là loại đàng điếm, thì ông ta tức giận cũng là điều dễ hiểu thôi? Ông ta suýt nữa cho anh cú đòn hiểm đấy. Lão già thật quá khỏe. Tôi không hề ngờ được điều đó.
– Trung sĩ à, tôi xin lỗi, tôi không biết điều gì xui khiến tôi cư xử như vậy.
– Thế chuyện Alabama là thể nào? Gahalowood hỏi tôi.
– Tôi đã nói với anh rồi mà: gia đình nhà Kellergan đã bỏ Alabama tới đây. Tôi nghĩ phải có lý do nào đấy.
– Tôi sẽ tìm thông tin về chuyện này. Nếu anh hứa với tôi từ giờ sẽ cư xử đúng đắn.
– Chúng ta sẽ làm được, phải không trung sĩ? Ý tôi muốn nói là Harry sắp được minh oan phải không?
Gahalowood nhìn tôi chăm chăm:
– Nhà văn à, phiền phức của tôi chính là anh đấy. Tôi làm việc của tôi. Tôi điều tra về mấy cái chết. Còn anh, dường như anh chỉ bị ám ảnh làm sao chứng tỏ Quebert vô tội, cứ như thể anh muốn nói với cả nước rằng: ông ta là người vô tội, có thể chê trách gì nhà văn dũng cảm này? Nhưng, anh Goldman ạ, điều người ta chê trách ông ta, đó là đã quyến rũ đứa trẻ con mười lăm tuổi.
– Tôi hiểu. Anh yên tâm là lúc nào tôi cũng nghĩ tới điều đó.
– Thế tại sao anh chẳng bao giờ nhắc tới chuyện đó?
– Tôi đã tới đây ngay sau khi xảy ra vụ xì căng đan. Không chút đắn đo. Tôi chỉ nghĩ tới bạn, người đàn anh của mình là Harry. Đúng ra, tôi chỉ ở lại vài ngày để lương tâm mình thấy thanh thản, rồi sẽ quay về New York ngay lập tức.
– Thế sao đến tận giờ này anh vẫn còn ở đây nhúng mũi vào việc của tôi?
– Bởi vì Harry Quebert là người bạn duy nhất của tôi. Tôi đã 30 tuổi rồi, và tôi chỉ có ông ấy. Ông ấy là người dạy cho tôi tất cả. Trong cả nhân loại này, ông ấy là người anh duy nhất của tôi trong suốt mười năm gần đây. Ngoài ông ấy ra, tôi chẳng còn ai hết.
Tôi nghĩ vào lúc đó Gahalowood thấy thương hại tôi nên rủ tôi về nhà anh ta ăn cơm. “Tối nay đến nhà tôi nhé, nhà văn. Chúng ta sẽ tổng kết lại kết quả điều tra, sẽ cùng ăn cái gì đó. Anh sẽ gặp vợ tôi”. Rồi như thể tử tế quá đối với tôi sẽ giết chết anh ta, nên ngay lập tức, anh ta lại nói thêm bằng cái giọng đáng ghét: “Rốt cuộc, chỉ có mỗi vợ tôi là sẽ hài lòng lắm đây. Từ lâu cô ấy cứ quấy rầy tôi đòi tôi phải mời anh tới nhà. Cô ấy mơ ước được gặp anh. Thật là mơ ước nực cười”.
* * *
Gia đình Gahalowood sống trong một ngôi nhà ở khu dân cư phía đông Concord. Helen, vợ của trung sĩ Gahalowood, là người phụ nữ lịch thiệp và vô cùng dễ mến, tức hoàn toàn trái ngược với ông chồng. Cô ấy đón tiếp tôi vô cùng nồng hậu. “Tôi rất thích cuốn sách của anh, cô ấy nói với tôi. Vậy ra anh cũng tham gia điều tra với Perry à?”. Gahalowood làu bàu rằng tôi không điều tra gì cả, rằng ông mới là người chỉ huy còn tôi chỉ là kẻ từ trên trời rơi xuống khiến cuộc sống của ông ta thêm tồi tệ. Sau đó, hai cô con gái, hai thiếu niên cực kì ngoan ngoãn, lịch sự tới chào tôi rồi kín đáo rút lui vào phòng riêng. Tôi nói với Gahalowood:
– Suy cho cùng, anh là người duy nhất trong ngôi nhà này không quý mến gì tôi.
Anh ta mỉm cười.
– Thôi im đi, nhà văn. Im đi rồi ra ngoài này uống với tôi chai bia lạnh tuyệt hảo.
Thời tiết thật là dễ chịu. Chúng tôi ngồi rất lâu ngoài sân, rất thoải mái trong chiếc ghế tựa bằng mây và uống hết cả một thùng bia. Gahalowood mặc quân phục, nhưng lại xỏ đôi dép cũ kĩ đi trong nhà. Buổi chiều tối nực nội, Chúng tôi nghe thấy tiếng trẻ con chơi đùa trên phố. Không khí đượm vị thơm của mùa hè.
– Anh có một gia đình thật tuyệt vời, tôi nói.
– Cảm ơn anh. Thế còn anh? Có vợ con không?
Không, không có cả vợ lẫn con.
– Có nuôi chó không?
– Không.
– Chó cũng không có à? Thế anh phải cô đơn như con chó, nhà văn ạ… Để tôi đoán nhé: anh ở một căn hộ rộng thênh thang trong khu nhà hiện đại của New York. Căn hộ rộng lúc nào cũng trống rỗng.
– Tôi cũng không buồn tìm cách phủ nhận.
– Trước đây, người đại diện của tôi thường đến nhà tôi xem bóng chày. Chúng tôi thường làm món khoai tây ăn với pho mát. Thật là tuyệt. Nhưng sau chuyện này, không biết anh ta có còn muốn quay lại nhà tôi nữa không. Hai tuần rồi tôi không có tin tức gì của anh ấy.
– Anh đang sợ lắm, phải không nhà văn?
– Đúng vậy. Tệ hại hơn, tôi không biết là mình sợ cái gì nữa. Tôi đang viết cuốn sách mới về vụ án này. Nó sẽ mang lại cho tôi một triệu đô la. Chắc chắn tôi sẽ bán được rất nhiều sách. Nhưng trong sâu thẳm, tôi thấy mình thật bất hạnh. Theo anh thì tôi phải làm gì?
Anh ta nhìn tôi kinh ngạc:
– Anh muốn hỏi ý kiến của một gã chỉ kiếm được có 50.000 đôla một năm.
– Vâng.
– Tôi không biết phải nói với anh thế nào, nhà văn ạ.
– Nếu tôi là con trai của anh, anh sẽ khuyên tôi thế nào?
– Anh, mà là con trai của tôi? Ôi, để tôi nôn cái đã! Đi khám bác sĩ tâm lí đi, nhà văn ạ. Anh biết không, tôi có một đứa con trai. Nó trẻ hơn anh, chỉ mới hai mươi tuổi…
– Tôi không biết điều đó…
Anh ta lục tìm trong túi rồi chìa cho tôi tấm ảnh nhỏ được dán vào bìa các tông cứng để khỏi bị nhàu nát. Bức ảnh một thanh niên trong đồng phục hải quân.
– Con trai anh là lính à?
– Quân đoàn Il bộ binh. Nó phải đi phục vụ ở Irac. Tôi còn nhớ rõ ngày nó nhập ngũ. Văn phòng tuyển quân của Quân đội Mỹ nằm trên bãi đỗ xe ở trung tâm thương mại. Đối với nó, xung trận là điều quá hiển nhiên. Nó về nhà nói với tôi rằng nó lựa chọn rồi: nó bỏ trường đại học, nó muốn tham gia chiến tranh. Bởi vì hình ảnh ngày 11 tháng Chín lúc nào cũng ám ảnh trong đầu nó. Tôi lấy tấm bản đồ thế giới ra hỏi nó: “Irac ở đâu?”. Nó trả lời tôi: “Irac ở chỗ con phải đến”. Anh nghĩ thế nào, Marcus ( đó là lần đầu tiên anh ta gọi tôi bằng tên)? Nó có lí hay nó sai?
– Tôi hoàn toàn không biết.
– Tôi cũng vậy. Tôi chỉ biết rằng cuộc sống là sự nối tiếp của các lựa chọn mà chúng ta chọn và chúng ta phải chịu trách nhiệm về các lựa chọn đó.
Buổi tối hôm đó thật đẹp. Đã lâu lắm, tôi mới được cảm thấy có nhiều người quây quần bên mình như vậy. Sau bữa ăn, tôi còn ngồi một mình một lúc trên hè, trong khi Gahalowood giúp vợ dọn dẹp bát đĩa. Màn đêm buông xuống, trời đen như mực. Tôi chăm chú tìm các đường nét của chòm sao Bắc Đẩu đang nhấp nháy trên bầu trời. Tất cả đều tĩnh lặng. Trẻ con đã về nhà hết, chỉ còn nghe tiếng hát vang của lũ dế. Khi Gahalowood quay trở lại chỗ tôi ngồi, chúng tôi cùng nhau tổng kết lại cuộc điều tra. Tôi kể lại cho anh ta nghe Stern đã nhượng lại quyền sở hữu ngôi nhà ở Goose Cove một cách hào phóng như thế nào.
– Chính hắn là Stern, kẻ có quan hệ với Nola phải không? Tất cả những chuyện này thật kì lạ.
– Anh không cần phải nói như vậy, trung sĩ ạ. Tôi khẳng định rằng hồi đó đã có người biết chuyện giữa Harry và Nola. Harry kể lại với tôi rằng vào đêm vũ hội của Aurora hè năm đó, ông ta thấy trên gương trong nhà vệ sinh viết dòng chữ thóa mạ ông ta là kẻ làm tình với trẻ con. À, mà anh đã có kết quả giám định chữ viết trên bản thảo chưa? Khi nào thì chúng ta có kết quả?
– Về nguyên tắc thì khoảng một tuần nữa.
– Thế thì sắp rồi.
– Tôi đã xem kĩ báo cáo của cảnh sát về vụ Nola mất tích, Gahalowood nói tiếp. Bản báo cáo do cảnh sát trưởng Pratt làm. Tôi khẳng định với anh rằng cả Stern, lẫn Harry đều hoàn toàn không được nhắc đến.
– Lạ thật, bởi vì cả cô Nancy Hattaway và bà Tamara Quinn đều khẳng định với tôi là cả hai đã thông báo cho ông Pratt mối nghi ngờ của họ về Harry và Stern vào thời điểm Nola mất tích.
– Thế mà bản báo cáo do chính Pratt kí. Ông ấy biết mà không đả động gì đến à?
– Thế có nghĩa là thế nào nhỉ? Tôi hỏi.
– Ánh mắt Gahalowood tối sầm lại:
– Thế có nghĩa là có thể chính ông ta cũng có quan hệ với Nola Kellergan.
– Cả ông ấy nữa ư? Anh nghĩ rằng… Nhân danh chúa… Cảnh sát trưởng Pratt và Nola ư?
– Nhà văn ạ, ngày mai, việc đầu tiên chúng ta làm là đi gặp ông ta để hỏi cho rõ.
* * *
Sáng thứ Năm ngày 3 tháng Bảy năm 2008, Gahalowood đến tìm tôi ở Goose Cove để cùng đi gặp cảnh sát trưởng Pratt tại nhà của ông ta ở Mountain Drive. Đích thân Pratt ra mở cửa. Mới đầu ông ta chỉ nhìn thấy tôi, đón chào rất nồng hậu.
– Anh Goldman, cơn gió lành nào đưa anh tới đây? Ở thành phố, người ta nói rằng, anh cũng đang tiến hành cuộc điều tra riêng.
Tôi nghe thấy Amy hỏi ai đấy và Pratt trả lời là “nhà văn Goldman”. Rồi sau đó ông ta nhận ra Gahalowood đứng phía sau tôi vài bước, ông nói tiếp:
– Vậy đây là một cuộc viếng thăm chính thức…
Gahalowood gật đầu:
– Chỉ vài câu hỏi thôi, thưa Cảnh sát trưởng Pratt, Gahalowood giải thích. Cuộc điều tra đang dậm chân tại chỗ và chúng tôi bị thiếu thông tin. Tôi tin là ông hiểu.
Chúng tôi vào ngôi trong phòng khách. Bà Amy Pratt tới chào chúng tôi. Ông Pratt đuổi bà ra ngoài vườn. Bà Pratt vội đội mũ rồi cúp đuôi đi thẳng ra ngoài sân chăm sóc đám nhài tây mà không thèm ngoảnh lại. Đáng lẽ việc đó trông thật ngộ nhưng không hiểu sao, không khí trong phòng khách của gia đình Pratt bỗng trở nên vô cùng căng thẳng.
Tôi để cho Gahalowood thẩm vấn. Viên trung sĩ đúng là một cảnh sát tốt và là người nằm rất rõ tâm lí người khác mặc dù bản tính anh ta luôn tiềm ẩn vẻ tấn công. Mới đầu, chỉ là vài câu hỏi thông thường, trung sĩ yêu cầu cảnh sát trưởng Pratt nhắc lại vắn tắt diễn biến của các sự việc liên quan đến vụ mất tích của Nola Kellergan. Nhưng ông Pratt nhanh chóng mất bình tĩnh: ông ta nói đã làm xong bản báo cáo vào năm 1975, chúng tôi chỉ việc đi tìm đọc. Đúng lúc đó Gahalowood đáp lời rằng:
– Vâng, nói thật là tôi đã đọc bản báo cáo, nhưng tôi không tin vào điều viết trong đó. Ví dụ như tôi biết bà Quinn đã kể cho ông nghe việc bà ta biết chuyện giữa Harry và Nola, thế nhưng bản báo cáo không hề đề cập đến chi tiết đó.
Pratt không để bị sập bẫy:
– Chính xác, đúng là bà Quinn có tới gặp tôi. Bà ấy bảo rằng mình biết tất cả, rằng Harry có những hoang tưởng về Nola. Nhưng bà ấy chẳng hề có bằng chứng, và cả tôi cũng vậy.
– Ông nói dối, tôi chen vào. Bà ấy có cho ông xem tờ giấy do chính tay Harry viết. Rõ ràng tờ giấy ấy là bằng chứng buộc tội Harry.
– Bà ấy có cho tôi xem một lần. Thế rồi, tờ giấy ấy biến mất! Bà ấy chẳng có gì cả! Thì anh muốn tôi làm gì nào?
– Thế còn Elijah Stern, Gahalowood làm ra vẻ dịu giọng hỏi. Ông biết gì về Stern?
– Stern? Pratt nhắc lại. Elijah Stern? Ông ấy có liên quan gì chuyện này?
Gahalowood xuống giọng, vô cùng bình tĩnh, chẳng có lấy một chút do dự:
– Hãy dừng vở diễn của ông lại, Pratt ạ, tôi đã biết tất cả. Tôi biết ông không điều tra đúng như cần phải làm. Tôi biết vào lúc đứa bé gái biến mất, bà Tamara Quinn có chia sẻ với ông về mối nghi ngờ của bà ấy liên quan tới Quebert; còn Nancy Hattaway đã kể với ông rằng Nola có quan hệ tình dục với Elijah Stern. Nhẽ ra ông phải ra lệnh bắt và thẩm vấn Quebert và Stern. Chí ít ông phải hỏi cung hai người này, khám nhà họ để làm rõ chuyện và phải nhắc đến tên hai người này trong bản báo cáo. Đó chính là qui trình bình thường. Thế mà ông không làm bất kì điều gì như thế. Tại sao, tại sao hả? Rốt cuộc, trong tay ông có một người phụ nữ bị giết hại và một đứa bé gái mất tích!
Tôi cảm thấy Pratt đang hoảng loạn. Ông ta cao giọng để tự trấn tĩnh:
– Tôi đã xới cả vùng lên mấy tuần liên tục, ông ta rống lên, thậm chí tự phá hết cả kì nghỉ của bản thân! Tôi đổ biết bao công sức để tìm ra đứa bé này! Vậy nên đừng có tới đây, ngay chính tại nhà tôi, để sỉ nhục tôi và nghi ngờ công việc tôi đã làm! Cảnh sát không làm trò như vậy với cảnh sát.
Gahalowood vặn lại:
– Ông đã xới nát mặt đất và lục tung đáy biển, nhưng ông biết có những người cần phải được hỏi cung mà ông lại không làm gì cả! Tại sao vậy, nhân danh Chúa, hãy trả lời câu hỏi đó. Ông sai sót ở điểm nào?
Im lặng một lúc lâu. Tôi nhìn Gahalowood, và thật ấn tượng. Anh ta nhìn thẳng vào Pratt với thái độ bình tĩnh giống sự tĩnh lặng trước cơn giông bão.
– Ông sai sót ở điểm nào? Gahalowood nhắc lại. Nói đi. Nói đi, nhân danh Chúa. Chuyện gì xảy ra với đứa bé gái này?
Pratt lảng nhìn ra chỗ khác. Ông ta đứng lên, đến trước cửa sổ để tránh cái nhìn của chúng tôi. Ông ta nhìn vợ một lúc, ở bên ngoài, bà Pratt đang dọn sạch những chiếc lá úa trên khóm nhài tây.
– Chuyện xảy ra ngay từ đầu tháng Tám, ông ta cất giọng rất khó nghe. Đầu tháng Tám năm 1975 chết tiệt. Một buổi chiều, các ông tin hay không thì tùy, cô bé tới tìm gặp tôi trong phòng làm việc ở trụ sở cảnh sát. Tôi nghe thấy tiếng gõ cửa và Nola Kellergan bước vào, không chờ tôi trả lời. Tôi đang ngồi trong phòng đọc tài liệu. Tôi rất ngạc nhiên. Tôi chào cô ấy và hỏi có chuyện gì xảy ra. Cô bé có vẻ rất kì lạ. Cô ấy không nói với tôi nữa lời, tự đóng cửa lại rồi xoay chìa khóa trái của từ bên trong, sau đó cô ấy nhìn tôi chằm chằm và tiến lại phía tôi. Tiến lại phía bàn làm việc, ở đó…
Pratt dừng lời. Rõ ràng ông ấy bị xúc động. Ông ấy không còn tìm ra từ để diễn đạt. Gahalowood không hề tỏ ra thương xót, hỏi giọng khô khan:
– Ở đó thế nào, Cảnh sát trưởng Pratt?
– Tùy ông có tin hay không, trung sĩ ạ. Cô ấy tiến lại bàn làm việc của tôi, chui xuống gậm bàn…Cô ấy…Cô ấy kéo khóa quần của tôi xuống, cầm lấy dương vật của tôi và cho nó vào trong miệng.
Tôi giật nảy mình:
– Chuyện này nghĩa là sao?
– Là sự thật. Cô ấy mút tôi và tôi cứ để cho cô ấy làm. Cô ấy bảo với tôi; “Hãy thư giãn đi, thưa sếp”. Và khi mọi việc xong xuôi, cô ấy vừa lau miệng vừa nói: “Bây giờ ông cũng là tội phạm”.
Chúng tôi choáng váng: đây là lí do tại sao cảnh sát trưởng Pratt không hỏi cung cả Stern lẫn Harry. Bởi vì ông ấy cũng vậy, cũng cùng tội danh như hai người kia, liên quan một cách trực tiếp vào vụ việc này.
Bấy giờ, như cảm thấy trút được gánh nặng vì đã thổ lộ hết những việc mình che giấu, ông ta khai rằng, sự việc đó còn tiếp diễn một lần nữa. Lần này là do ông ta ép buộc Nola. Một buổi đi tuần, ông ta gặp Nola đi bộ từ bãi biển về nhà. Lúc đó là ở gần Goose Cove. Cô ấy đeo bên người chiếc máy tính. Ông ta đề nghị được đưa cô bé về, nhưng nhẽ ra phải đi theo hướng Aurora, thì ông ta lại đi ngược trở lại vào rừng theo đường Side Creek. Ông ấy nói với chúng tôi:
– Vài tuần trước khi Nola mất tích, tôi đã ở Side Creek với cô ta. Tôi đỗ xe ở bìa rừng, ở đó, không bao giờ có người qua lại. Tôi nắm lấy tay cô ấy, bắt cô ấy chạm vào dương vật của tôi đang cương lên, và tôi đòi cô ấy làm cho tôi như cô ấy đã từng làm trong văn phòng. Tôi mở khóa quần, túm lấy gáy cô ta và bắt cô ấy phải mút… Tôi không biết mình đã bị cái gì sai khiến. Đã ba mươi năm nay điều đó ám ảnh tôi! Tôi không thể chịu đựng được nữa. Bắt tôi đi, trung sĩ. Tôi muốn bị thẩm vấn, muốn bị mang ra xét xử, tôi muốn được tha lỗi. Xin lỗi, Nola. Xin lỗi.
Khi bà Amy nhìn thấy chồng mình bước ra khỏi nhà với còng số tám trên tay, bà thét lên khiến những nhà hàng xóm bên cạnh bị kích động. Họ tò mò chạy ra sân xem điều gì xảy ra. Tôi nghe thấy một phụ nữ gọi chồng mình: “Cảnh sát bắt Gareth Pratt!”
Gahalowood áp giải Pratt lên ô tô và khởi động máy chạy thẳng về trụ sở cảnh sát bang Concord, còi hụ rú inh ỏi. Tôi ngồi lại trên sân cỏ nhà Pratt: bà Amy khóc nức nở, quỳ thụp xuống bên cạnh những khóm nhài tây, và rất nhanh, cả nữa thành phố Aurora đến tụ tập trước ngôi nhà ở Mountain Drive.
Bất ngờ trước sự thật vừa hay biết, mãi lâu sau, tôi mới bình tĩnh ngồi xuống một thùng cứu hỏa, gọi điện cho Roth để thông báo tình hình. Tôi không đủ dùng cảm để đối mặt với Harry: tôi không muốn là người báo cho Harry biết tin này. Trong vài giờ nữa, truyền hình sẽ làm việc đó. Các kênh thông tin tường thuật lại toàn bộ sự việc và cuộc chiến của các phương tiện truyền thông bắt đầu: Gareth Pratt, cựu cảnh sát trưởng Aurora vừa thú nhận đã có những hành vi tình dục với Nola Kellergan và trở thành đối tượng nghi vấn quan trọng trong vụ án này. Đầu giờ chiều, Harry gọi điện cho tôi từ trong nhà tù, ông khóc. Ông yêu cầu tôi đến. Ông không thể tin nổi tất cả những chuyện này là sự thật.
Trong phòng thăm tù nhân, tôi kể lại cho ông nghe chuyện mới xảy ra với Cảnh sát trưởng Pratt. Ông bị kích động mạnh mẽ, nước mắt không ngừng tuôn rơi. Rốt cuộc tôi nói với Harry:
– Đó chưa phải là tất cả… Em nghĩ đã đến lúc thầy phải biết rằng…
– Biết cái gì? Anh làm tôi sợ, Marcus ạ.
– Hôm trước em đã nói với thầy về Stern chưa nhỉ? Bởi vì em đã tới nhà ông ta.
– Thế thì sao?
– Em tìm thấy một bức tranh của Nola ở đó.
– Một bức tranh? Thế nghĩa là như thế nào, một bức tranh?
– Stern có một bức tranh vẽ Nola khỏa thân ở nhà ông ta.
Tôi chìa ra cho Harry xem bức ảnh chụp tôi mang theo.
– Đúng là cô ấy! Harry gào lên. Chính là Nola! Chính là Nola. Như vậy nghĩa là thế nào? Chuyện vớ vẩn này nghĩa là gì thế?
Lính gác nhắc ông giữ trật tự.
– Harry, tôi nói, cố gắng bình tĩnh nào.
– Nhưng tại sao Stern lại xuất hiện trong vụ việc này và đóng vai trò gì ở đây?
– Em không biết… Vậy Nola chưa bao giờ nói với thầy về ông ta ư?
– Chưa bao giờ! Chưa bao giờ!
– Harry, từ những gì mà em biết, thì Nola có quan hệ với Elijah Stern. Trong cùng mùa hè năm 1975.
– Cái gì? Cái gì vậy? Điều này có nghĩa là gì hả Marcus?
– Em nghĩ rằng…Tức là, theo như em hiểu thì… Harry, thầy phải chuẩn bị tinh thần rằng thầy có thể không phải là người đàn ông duy nhất trong đời Nola.
Ông như hóa điên. Ông đứng bật dậy, ném mạnh chiếc ghế vào tường và hét lên:
– Không thể như thể được! Không thể như thế được! Tôi mới là người cô ấy yêu! Anh nghe chứ? Chính tôi mới là người yêu của cô ấy!
Lính gác vội vàng tiến về Harry, túm chặt lấy ông và giải đi. Tôi còn nghe thấy ông hét lên: “Tại sao anh lại làm như thế Marcus? Tại sao anh phá hỏng mọi chuyện? Các anh là đồ đáng nguyền rủa, anh, Pratt và Stern!”
Chính sau vụ việc này tôi bắt đầu viết về Nola Kellergan, mười lăm tuổi, đã làm điên đảo cả thành phố nhỏ ở miền quê nước Mỹ.