Sự Thật Về Vụ Án Harry Quebert Hay Chuyện Nàng Nola

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
15
Trước Cơn Bão

❊ ❊ ❊

“Thầy thấy thế nào?

– Cũng không đến nỗi tệ. Nhưng tôi nghĩ, anh quá chú trọng ngôn từ.

– Ngôn từ? Nhưng lúc viết, thì ngôn từ rất quan trọng, không phải vậy ạ?

– Có và không. Nghĩa của từ quan trọng hơn là bản thân ngôn từ.

– Thầy muốn nói gì?

– Tức là, một từ là một từ, còn tất cả các từ là của chung mọi người. Anh chỉ cần mở từ điển ra, chọn lấy một từ. Chính lúc đó nó mới trở nên hấp dẫn: anh có đủ khả năng mang lại cho từ đó một ý nghĩa riêng không?

– Nghĩa là thế nào ạ?

* * *

– Cứ lấy bất kì một từ rồi đặt nó ở trong một cuốn sách của anh. Chọn một từ bất kì, ví dụ mòng biển. Thế là mỗi khi nói đến anh, người ta bảo: “À, anh biết đó, Goldman là tay nhà văn viết về mòng biển”. Rồi sau đó sẽ có lúc họ nhìn thấy bọn mòng biển, khi đó họ bỗng nhiên nghĩ đến anh. Họ ngắm nhìn những chú chim đang kêu chí choé và nói: “Không biết Goldman có nhìn thấy mấy con mòng biển này không”. Rồi sau đó mọi người đồng nhất mòng biển với Goldman. Mỗi khi nhìn thấy mòng biển, họ sẽ nghĩ đến cuốn sách của anh và toàn bộ công trình của anh. Họ không còn nhìn nhận những chú mòng biển theo cách như trước nữa. Chỉ vào lúc đó, anh mới biết rằng anh đã viết được một cái gì đó. Ngôn từ là cái thuộc về tất cả mọi người đến tận khi anh chứng minh được rằng anh có khả năng thuần hóa nó. Đó chính là cái để định nghĩa nhà văn. Anh sẽ thấy, Marcus ạ. một số người muốn thuyết phục anh tin rằng sách là mối liên hệ với các từ ngữ, nhưng sai, sách là mối liền hệ với con người”.

Thứ Hai ngày 7 tháng Bảy năm 2008, Boston, Massachusetts

Bốn ngày sau khi bắt giam Cảnh sát trưởng Pratt, tôi gặp Roy Barnaski trong triển lãm tư nhân ở khách sạn Plaza tại Boston để kí hợp đồng xuất bản có trị giá một triệu đô la cho cuốn sách tôi viết về vụ án Harry Quebert. Douglas cũng có mặt; anh ta lộ rõ về nhẹ nhõm khi thấy tình hình của tôi rốt cuộc có cái kết tốt đẹp.

– Tình thế hoàn toàn thay đổi, Barnaski nói. Goldman vĩ đại rốt cuộc cũng quay trở lại làm việc. Xin mọi người một tràng pháo tay!

Tôi im lặng, chỉ lẳng lặng rút tập giấy ra khỏi cặp và đưa cho ông ta. Barnaski nở nụ cười rạng rỡ:

– Ái chà, đây là 50 trang tuyệt hảo đầu tiên của cuốn sách

– Đúng vậy.

– Anh cho phép tôi mấy phút để ngó qua nhé.

– Xin cứ tự nhiên.

Douglas và tôi rời khỏi phòng để ông ta được yên tĩnh đọc. Chúng tôi đi xuống quầy bar của khách sạn gọi bia nâu sủi bọt.

– Mọi chuyện ổn chứ, Marc, Douglas hỏi tôi.

– Đều ổn cả. Bốn ngày gần đây như điên.

Anh ta lắc đầu, tán thêm:

– Toàn bộ câu chuyện này hoàn toàn điên rồ! Cuốn sách của cậu sẽ mang lại thành công mà cậu không tưởng tượng nổi đâu. Barnaski biết điều đó, chính vì vậy mà ông ta tặng cho cậu cả núi tiền. Nhưng một triệu đô chẳng thấm tháp gì so với số tiền ông ta thu được. Cậu phải biết: ở New York, ai cũng chỉ nói đến mỗi vụ này. Các xưởng phim bắt đầu bàn chuyện làm phim rồi, còn tất cả các nhà xuất bản đều muốn xuất bản sách về Quebert. Nhưng họ biết rằng người duy nhất thực sự có thể viết sách, đó là cậu. Cậu là người duy nhất quen biết Harry, cậu là người duy nhất biết Aurora từ bên trong. Barnaski muốn túm được cuốn truyện trước tất cả mọi người: ông ta bảo nếu chúng ta là những người đầu tiên xuất bản thì Nola Kellergan có thể trở thành một thương hiệu mà nhà xuất bản Schmid & Hanson sẽ đăng kí bản quyền.

– Riêng cậu nghĩ thế nào về chuyện này? Tôi hỏi.

– Tớ nghĩ làm nhà văn thật là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời. Một cách đẹp đẽ để có thể hơi hơi chống lại những điều tồi tệ mà người ta đang nói về Quebert. Bảo vệ ông ta chính là ước nguyện từ đầu của cậu, đúng không?

Tôi đồng tình. Tôi ngẩng lên nhìn trên đầu, phía cầu thang, nơi Barnaski đang ngồi khám phá một phần câu chuyện của tôi mà các sự kiện xảy ra trong những ngày gần đây đã làm cho nó dày thêm nhiều.

* * *

Ngày 3 tháng Bảy năm 2008, bốn ngày trước khi ký hợp đồng

Lúc đó là vài giờ trước khi bắt Cảnh sát trưởng Pratt. Tôi trở về Goose Cove từ nhà tù bang, nơi Harry vừa mới mất tất cả chỗ dựa tinh thần suýt nữa ném cả ghế vào mặt tôi sau khi nghe tôi kể về một bức tranh bán khỏa thân của Nola tại nhà Elijah Stern. Tôi đỗ xe phía trước nhà và khi xuống khỏi ô tô, tôi phát hiện ra ngay mẩu giấy kẹp giữa cửa ra vào: lại một bức thư nữa. Nhưng lần này, giọng điệu đã thay đổi:

Goldman, đây là lần cảnh báo cuối cùng.

Tôi chẳng để tâm: lần đầu tiên hay là lần cuối cùng, thì có thay đổi được gì? Tôi vứt mẩu giấy vào thùng rác trong bếp và bật vô tuyến. Các kênh truyền hình chỉ thông tin mỗi việc Cảnh sát trưởng Pratt bị bắt: một số người thậm chí còn đặt nghi vấn về những cuộc điều tra do chính ông ta phụ trách vào thời đó, đồng thời nghi ngờ rằng vị cựu đội trưởng đội cảnh sát này đã cố tình lãng quên vụ án Nola.

Ngày dần tàn, đêm xuống hứa hẹn một vẻ đẹp dịu dàng; đáng lẽ trong buổi tối mùa hè như thế này, phải cùng bạn bè thả sức uống bia và nhậu những tảng đùi cừu to trên giàn nướng. Tôi không có bạn bè, nhưng tôi nghĩ mình có thịt bò và bia. Tôi vào bếp, mở tủ lạnh nhưng trong đó trống rỗng: tôi đã quên không đi chợ. Chính tôi đã quên bản thân tôi. Tôi nhận ra mình cũng có cái tủ lạnh của Harry: cái tủ lạnh của người đàn ông cô độc. Tôi gọi điện thoại đặt một chiếc bánh pizza. Khi người giao hàng tới, tôi mang chiếc bánh ra ngoài hiên ngồi ăn. Ít nhất thì tôi cũng đã có một mái hiên và một bãi biển trước mặt: tôi chỉ còn thiếu mỗi lò nướng thịt, bạn bè và cô bạn gái để buổi tối trở thành hoàn hảo. Chính lúc đó, tôi nhận được cú điện thoại của một trong số vài người bạn hiếm hoi nhưng từ lâu không có tin tức gì: Douglas.

– Marc, có gì mới không?

– Có gì mới không à? Đã hai tuần tôi không nhận được tin tức gì của ông! Ông biến đi đằng nào thế? Ông là đại diện cho tôi, có phải thế không đồ cứt đái?

– Tớ biết rồi, Marc. Tớ rất tiếc. Tình hình bây giờ khó quá đi. Ý tớ muốn nói giữa cậu và tớ. Nhưng nếu cậu vẫn muốn tớ làm đại diện cho cậu, thì tớ rất vinh hạnh tiếp tục hợp tác.

– Thì tất nhiên rồi. Mình chỉ có một điều kiện: cậu tiếp tục đến nhà mình để cùng xem giải vô địch bóng rổ.

Anh ta cười.

– Được đấy. Cậu lo vấn đề bia còn tớ sẽ lo món ngô nấu pho mát.

– Barnaski đưa cho mình một hợp đồng béo bở, tôi nói.

– Tớ biết rồi. Ông ta đã nói với tớ. Thế cậu chấp nhận chứ?

– Chắc là chấp nhận thôi.

– Barnaski rất phấn khích. Ông ta muốn gặp cậu càng sớm càng tốt.

– Gặp tớ làm gì?

– Để ký hợp đồng.

– Đã ký rồi cơ á?

– Ừ. Tớ nghĩ ông ta muốn yên tâm là cậu nhanh chóng bắt tay vào việc. Kì hạn sẽ rất ngắn nên cần phải viết nhanh. Ông ta hoàn toàn bị chiến dịch bầu cử tổng thống ám ảnh. Cậu thấy sẵn sàng chưa?

– Sẽ ổn thôi. Mình bắt đầu viết rồi. Nhưng mình còn chưa biết nên làm thế nào, có nên kể hết những điều mình biết hay không. Có kể việc Harry định bỏ trốn với đứa con nít đó? Doug à, câu chuyện này đúng hoàn toàn như mê sảng. Mình nghĩ cậu còn chưa ý thức hết được chuyện này.

– Sự thật thôi Marc ạ. Cậu cứ đơn giản kể hết sự thật về Nola Kellergan.

– Thế nếu sự thật có hại cho Harry thì sao?

– Nói lên sự thật là trách nhiệm của cậu với tư cách là một nhà văn. Ngay cả khi sự thật có khó khăn đến mấy. Đấy là lời khuyên của tớ với tư cách là một người bạn.

– Thế còn lời khuyên của cậu với tư cách là đại diện?

– Lưu ý đặc biệt để bảo vệ cho cái thân cậu: tránh kết thúc mọi chuyện bằng kiện tụng vì ở bang New Hampshire này, số lượng các vụ án bằng số dân đấy. Ví dụ như cậu nói với tớ là cô bé này bị bố mẹ đánh đập phải không?

– Đúng rồi, bị mẹ đánh đòn.

– Thế thì cậu chỉ nên viết rằng Nola là một bé gái bất hạnh, bị đối xử không tốt. Chỉ cần viết thế, mọi người sẽ hiểu chính bố mẹ cô bé là những người chịu trách nhiệm về các hành vi đối xử tàn bạo này, nhưng điều này không được viết ra cụ thể như vậy, sẽ chẳng có ai kiện cậu được.

– Nhưng người mẹ đóng vai trò quan trọng trong chuyện này.

– Lời khuyên với tư cách là người đại diện nhé Marc: cậu cần phải có bằng chứng chắc như bê tông khi kết tội người khác, nếu không thì cậu chỉ có suốt đời đi hầu tòa. Mà tớ nghĩ mấy tháng gần đây, cậu đã bị cứt ngập đầu rồi. Phải tìm được nhân chứng đáng tin cậy để khẳng định giúp cậu rằng người mẹ là kẻ vô giáo dục nhất, thường xuyên đánh đập con gái, nếu không cậu chỉ nên dừng lại ở chỗ bé gái bất hạnh và bị đối xử tàn tệ. Như vậy chúng ta cũng tránh được việc bị luật sư bắt ngừng bán cuốn sách lại vì lí do bôi nhọ. Trái lại, về phía Cảnh sát trưởng Pratt, tất cả mọi người đều đã biết việc ông ta làm, nên cậu có thể đi thẳng vào những chi tiết kinh tởm nhất. Như vậy sách sẽ bán chạy hơn.

Barnaski đề nghị gặp chúng tôi vào thứ Hai ngày 7 tháng Bảy tại Boston, một nơi tiện nhất cách New York một giờ bay và cách Aurora hai giờ ô tô. Tôi đã chấp nhận lời đề nghị. Như vậy, tôi có bốn ngày vắt chân lên cổ mà viết để có vài chương đưa cho ông ta.

– Cứ gọi điện cho tớ khi cậu cần bất cứ điều gì, Douglas còn nói thêm trước khi dập điện thoại.

– Được, cảm ơn cậu, Douglas, đợi đã…

– Ừ, gì cơ?

– Cậu sẽ làm cả mojito[1]nữa chứ, cậu nhớ chứ?

Tôi nghe thấy cậu ta cười.

– Nhớ chứ, nhớ chứ.

– Hồi đó thật tuyệt, phải không?

– Lúc nào cũng tuyệt mà, Marc. Cuộc sống của chúng ta lúc nào cũng tuyệt mà, ngay cả khi có đôi lúc khó khăn.

* * *

Ngày 1 tháng Mười hai năm 2006, thành phố New York

– Doug, cậu có thể làm thêm mojito nữa không?

Đằng sau bàn bếp, Douglas đeo tạp đề để lộ cơ thể trần giống hệt đàn bà, rú lên một tiếng như sói gầm, chộp ngay lấy chai rượu rhum và đổ hết vào trong chiếc hộp trộn đầy đá.

Lúc đó là ba tháng sau khi cuốn sách đầu tiên của tôi xuất bản; sự nghiệp của tôi đang trên đỉnh cao vinh quang. Đây là lần thứ năm trong vòng ba tuần, kể từ khi tôi chuyển đến ở trong căn hộ của khu Village, tôi tổ chức tiệc tùng tại nhà. Cả tá người đang ngồi trong phòng khách tôi còn không biết đến một phần tư trong số họ. Nhưng tôi vô cùng thích thú. Douglas lo tưới các vị khách mời bằng mojito còn tôi thì chịu trách nhiệm làm món white russian, đó là món cocktail duy nhất mà tôi cho là đáng uống.

– Buổi tối thật tuyệt vời, Douglas nói với tôi. Có phải ông gác cổng đang nhảy trong phòng khách nhà cậu không đấy?

– Đúng, mình mời ông ấy đấy.

– Có cả Lydia Gloor nửa kìa, mẹ kiếp! Cậu có nhận ra không? Lydia Gloor trong căn hộ của cậu kìa!

– Lydia Gloor là ai thế?

– Mẹ kiếp, Marc, cậu phải biết chứ! Diễn viên nổi nhất bây giờ mà. Cô ta đóng trong bộ phim truyền hình nhiều tập mà bây giờ ai cũng xem…Ờ thì hình như chỉ trừ có cậu. Cậu làm thế nào mà mời được cô ta tới đây?

– Tớ chẳng biết. Mọi người tới bấm chuông và tớ chỉ có việc mở cửa thôi. Mi casa es tu casa![2]

Tôi quay lại phòng khách cùng với với khay thức ăn khai vị và những chiếc hộp trộn cocktail. Tôi thấy tuyết đang rơi bên ngoài cửa sổ, bất chợt tôi muốn ra ngoài hít thở không khí tự do. Tôi mặc mỗi sơ mi và ra ngoài ban công đứng; trời lạnh cóng. Tôi chiêm ngưỡng New York quá rộng lớn trước mặt, hàng triệu những ánh điện sáng ngút tầm mắt. Tôi hét lên bằng tất cả sức lực: “Tôi là Marcus Goldman!” Đúng lúc đó, tôi nghe thấy giọng nói phía sau : một cô gái tóc vàng trạc tuổi tôi xuất hiện: Marcus Goldman, điện thoại của anh đổ chuông, cô nói với tôi. Gương mặt của cô ấy không phải là không quen.

– Tôi gặp cô ở đâu đấy rồi phải không? Tôi hỏi cô ta.

– Chắc hẳn là ở trên vô tuyến.

– Ra cô là Lydia Gloor

– Đúng rồi.

– Ôi, tôi xin lỗi.

Tôi nói cô ấy đợi tôi trên ban công, còn mình thì vội vàng trả lời điện thoại.

– A lôi

– Marcus à, Harry đây.

– Harry, thật vui khi được nghe giọng thầy! Thầy có khỏe không ạ?

– Không tôi… Thầy chỉ muốn gọi chào anh một câu thôi. Thầy nghe có rất nhiều tiếng ầm phía sau anh…Anh đang đông khách à…Có thể thầy gọi không đúng lúc

– Em đang tổ chức một buổi tiệc nhỏ. Tại căn hộ mới của em.

– Anh không ở Montclair nữa ư?

– Vâng, em mua một căn hộ mới tại khu Village. Từ bây giờ em sống ở New York! Thầy dứt khoát phải đến đây xem, nhà em có góc nhìn rộng lớn tới nghẹt thở.

– Tôi chắc vậy! Tóm lại là có vẻ anh đang rất vui thú, thầy mừng cho anh. Chắc anh phải có nhiều bạn lắm…

– Hàng tấn thầy ạ! Không phải chỉ có vậy thôi đâu: thầy biết không, có cả một cô diễn viên đẹp dã man đang đợi em trên ban công. Ha ha, em thật không thể tin được! Cuộc đời quá đẹp, thầy Harry. Cực kỳ đẹp! Thế còn thầy, thầy làm gì tối nay?

– Thầy … Thầy cũng tổ chức một bữa liên hoan nho nhỏ. Mấy người bạn, thịt nướng và bia. Còn đòi hỏi gì hơn nữa? Ở đây cũng rất vui, chỉ còn thiếu có mỗi anh thôi. Ồ, có người đang bấm chuông Marcus ạ. Chắc mấy khách mời khác nữa đến. Tôi phải cúp máy để ra mở cửa đây. Không biết trong nhà tôi có đủ chỗ ngồi không, nhưng mà có Chúa biết ngôi nhà này quá rộng!

– Chúc thầy một buổi tối thật đẹp, Harry. Chúc thầy vui vẻ. Em sẽ gọi lại cho thầy ạ.

Tôi quay ra ngoài ban công: chính từ buổi tối hôm đó, tôi bắt đầu đi lại với Lydia Gloor, người mà mẹ tôi sau này lúc nào cũng gọi là “diễn viên truyền hình”.

Tại Goose Cove, Harry ra mở cửa: đó là người giao bánh pizza. Ông nhận bánh rồi ngồi phía trước màn hình vô tuyến, vừa xem tivi vừa ăn tối.

Như đã hứa, tôi gọi lại cho Harry sau buổi tối liên hoan hôm đó…Nhưng cộng thêm một năm sau đó. Đó là vào tháng Hai năm 2008.

– A lô?

– Thầy Harry, Marcus đây ạ.

– Ồ, Marcus đấy à! Anh Marcus gọi điện cho thầy đấy ư? Không thể tin được. Từ khi anh trở thành sao thì anh chả tin tức gì cho tôi cả. Cách đây một tháng, tôi đã cố gắng gọi điện cho anh, nhưng chỉ gặp thư kí của anh nói rằng, anh không muốn gặp ai cả.

Tôi trả lời ngay lập tức:

– Mọi chuyện tồi tệ lắm thầy Harry ơi. Em nghĩ em không còn là nhà văn nữa.

Ông lấy lại ngay giọng nghiêm túc:

– Có chuyện gì vậy hả Marcus?

– Em không biết viết gì, đời em xong rồi thầy ơi. Toàn những trang trắng. Nhiều tháng rồi thầy ạ. Đến cả một năm trời rồi ạ.

Ông phá lên cười trấn an tôi, thật nồng hậu.

– Tinh thần tắc tị hả Marcus, người ta gọi vấn đề này như vậy đó. Những trang trắng cũng ngu xuẩn như hiện tượng bất lực tạm thời về tình dục: đó là nỗi sợ của thiên tài, nỗi sợ đó làm chân giữa của anh mềm oặt ra như bún trong khi anh định chơi trò bắn pháo với cô nàng thần tượng anh và định mang đến cho cô nàng một cơn khoái cảm phải đo bằng độ Richter. Đừng lo lắng gì về tài năng Marcus ạ, hãy tự bằng lòng với việc xếp các con chữ lại cùng nhau. Lúc đó tài năng sẽ lại tự xuất hiện.

– Thầy nghĩ vậy ạ?

– Hẳn nhiên rồi. Nhưng anh cần phải bỏ bớt những đêm hội hè đình đám. Viết lách là chuyện nghiêm túc. Tôi đã chỉ bảo anh điều đó từ lâu.

– Em luôn nỗ lực làm việc mà. Em chỉ có làm việc và làm việc. Dù vậy, em vẫn chẳng làm được gì.

– Vậy thì chắc có lẽ anh chưa có một môi trường thuận lợi. New York đẹp đấy, nhưng lại quá ồn ào. Sao anh không đến chỗ tôi, ở nhà tôi, như cái thời anh còn là sinh viên của tôi ấy?

* * *

Ngày 4 đến ngày 6 tháng Bảy năm 2008.

Trong suốt mấy ngày trước cuộc hẹn với Barnaski ở Boston, cuộc điều tra của tôi tiến triển vô cùng ngoạn mục.

Mới đầu, Cảnh sát trưởng Pratt bị buộc tội vì có hành vi tình dục với bé gái vị thành niên dưới mười sáu tuổi, đã được thả ra ngay ngày hôm sau. Hiện ông ta đang ở tạm trong nhà nghỉ ở Montburry; trong khi đó bà Amy đã bỏ thành phố đến sống với chị gái ở bang khác. Theo đội cảnh sát hình sự, không chỉ có bà Tamara Quinn đã cho Pratt xem tờ giấy viết tay về Nola mà bà tìm thấy tại nhà Harry, mà cả Nancy Hattaway cũng thông báo với ông ta những điều cô biết về Elijah Stern. Lí do khiến Pratt cố tình lờ đi hai hướng điều tra này vì ông ta lo sợ chính Nola đã kể chuyện giữa cô bé và ông ta với hai người đàn ông này. Ông ta không muốn gặp rủi ro khi phải hỏi cung họ. Tuy nhiên, ông ta thề không hề dính líu đến cái chết của Nola và Deborah Cooper, rằng ông ta đã chỉ đạo cuộc điều tra theo đúng cách.

Trên cơ sở những tuyên bố này, Gahalowood đã thuyết phục được Văn phòng công tố kí lệnh khám nhà của Elijah Stern. Việc này được thực hiện vào sáng thứ Sáu ngày 4 tháng Bảy, đúng vào Ngày Quốc khánh. Bức tranh Nola được tìm thấy trong xưởng và bị tịch thu. Elijah Stern bị giải về trụ sở cảnh sát để hỏi cung, nhưng ông ta không bị buộc tội gì…Tuy nhiên, những tin tức nóng hổi này lại làm tăng thêm sự tò mò trong dư luận quần chúng: sau vụ bắt giam nhà văn nổi tiếng Harry Quebert và cựu Cảnh sát trưởng Gareth Pratt, người đàn ông giàu và uy lực nhất bang New Hampshire cũng có dính líu đến cái chết của cô bé Kellergan.

Gahalowood kể cho tôi bản hỏi cung Stern một cách chi tiết. “Một tay hết sức đặc biệt”, Gahalowood nói: “Ông ta giữ bình tĩnh tuyệt đối thậm chí ông ta ra lệnh cho cả đội ngũ các luật sư của ông ta đứng đợi ở bên ngoài phòng. Sự hiện diện của ông ta, ánh mắt xanh ngắt màu kim loại của ông ta khiến tôi gần như cảm thấy lúng túng. Chúa mới biết tại sao tôi lại bị nao núng như thế. Tôi chỉ cho ông ta bức tranh và ông ấy khẳng định luôn rằng đó chính là Nola”.

– Tại sao ông lại có bức tranh này ở nhà? Gahalowood hỏi.

– Stern trả lời cứ như thể đây là việc hết sức hiển nhiên.

– Bởi vì nó thuộc sở hữu của tôi. Trong bang này có luật cấm treo tranh trên tường à?

– Không phải, nhưng bức tranh vẽ một bé gái bị giết.

– Thế nếu tôi có một bức tranh của John Lennon, ông ta cũng chết vì bị ám sát thì cũng nghiêm trọng à?

– Hãy hiểu rõ ý tôi, ông Stern, bức tranh này ở đâu ra?

– Một trong những người làm công của tôi đã vẽ vào thời đó. Anh ta là Luther Caleb.

– Tại sao anh ta lại vẽ bức tranh này?

– Tại vì anh ta thích vẽ.

– Bức tranh này được vẽ khi nào?

– Mùa hè năm 1975. Vào khoảng tháng Bảy, Tám gì đó, nếu tôi nhớ không nhầm.

– Ngay trước khi cô bé mất tích.

– Đúng vậy.

– Anh ta đã vẽ thế nào?

– Chắc là vẽ bằng bút vẽ.

– Ông đứng giả vờ ngây ngô như thế. Tại sao anh ta biết Nola?

– Tất cả mọi người đều biết Nola ở Aurora. Anh ta lấy cảm hứng từ cô ấy mà vẽ nên bức tranh này.

– Thế ông không thấy bối rối khi trong nhà mình treo bức tranh của một bé gái bị mất tích à?

– Không. Đây là bức tranh đẹp. Người ta gọi đó là “nghệ thuật”. Nghệ thuật đích thực thì làm nhiều người khó chịu. Còn nghệ thuật do đồng thuận chỉ là kết quả của sự thoái hóa của một thế giới thối nát chỉ đúng về mặt chính sách.

– Ông có ý thức rằng sở hữu một tác phẩm hội họa, vẽ bé gái mới có mười lăm tuổi khỏa thân có thể khiến ông gặp phiền phức không, thưa ông Stern?

– Khỏa thân ư? Chẳng ai nhìn thấy bầu ngực cũng như các bộ phận sinh dục khác của cô ta.

– Nhưng rõ ràng là cô ấy khỏa thân.

– Anh có sẵn sàng bảo vệ quan điểm của mình trước tòa án không, trung sĩ? Bởi vì anh sẽ bị thua, và anh cũng như tôi, biết rõ điều đó.

– Tôi chỉ đơn giản muốn biết tại sao Luther Caleb lại vẽ Nola Kellergan?

– Tôi đã nói với ông rồi: anh ta rất thích vẽ.

– Ông có biết Nola Kellergan không?

– Chút ít, cũng như tất cả những người khác ở Aurora.

– Chỉ chút ít thôi ư?

– Chỉ chút ít thôi.

– Ông nói đối, ông Stern. Tôi có nhân chứng khẳng định rằng ông có quan hệ với cô ấy. Ông buộc cô ta tới nhà ông.

Stern phá lên cười:

– Anh có bằng chứng về những gì anh vừa nói không đấy? Tôi nghi ngờ điều đó vì nó không đúng. Tôi chưa bao giờ chạm vào bé gái này. Hãy nghe đây, trung sĩ, tôi cảm thấy ái ngại cho anh: cuộc điều tra của anh rõ ràng là đang dẫm chân tại chỗ. Còn anh thật sự không biết cách đặt câu hỏi. Vậy để tôi giúp anh nhé: chính Nola Kellergan đã tới gặp tôi. Một hôm cô ấy tới tận nhà tôi, cô ấy bảo cô ấy cần tiền. Cô ấy chấp nhận làm mẫu để vẽ tranh.

– Ông trả tiền cho cô ấy để cô ấy ngồi làm mẫu à?

– Đúng vậy. Luther có năng khiếu hội họa. Một tài năng bẩm sinh. Anh ta vẽ cho tôi rất nhiều tranh đẹp, những khung cảnh ở bang New Hampshire, cảnh cuộc sống hàng ngày của đất nước Mỹ tươi đẹp của chúng ta. Tôi vô cùng cảm động. Đối với tôi, Luther có thể trở thành danh họa lớn của thế kỉ. Tôi nghĩ rằng anh ta có thể làm được điều gì đó lớn lao khi vẽ chân dung của cô gái tuyệt vời này. Bằng chứng là, nếu tôi bán bức tranh này bây giờ, cùng với bao chuyện rác rưởi đang xảy ra xung quanh vụ việc, hẳn là tôi phải kiếm được một vài triệu đô. Anh có biết có nhiều họa sĩ đương đại có khả năng vẽ được những bức tranh giá hai triệu đô hay không?

Stern đã giải thích xong, ông ta tuyên bố đã mất quá nhiều thời gian, việc thu âm ông ấy bây giờ phải chấm dứt. Nói rồi ông ta bỏ đi, cả đoàn luật sư đi theo sau, để lại Gahalowood không còn biết nói câu gì mà lại có thêm một ẩn số nữa cho cuộc điều tra.

– Anh có hiểu thêm ra điều gì không, nhà văn? Gahalowood hỏi tôi sau khi kể xong cuộc hỏi cung Stern. Một hôm, có đứa bé gái mười lăm tuổi tới tận nhà Stern đòi làm mẫu vẽ để kiếm tiền. Anh có tin điều đó không?

– Thật là phi lí. Tại sao cô ta lại cần tiền nhỉ? Để bỏ trốn à?

– Có thể. Thế nhưng cô ta thậm chí không thèm mang theo cả tiền tiết kiệm. Trong phòng riêng của Nola, còn nguyên hộp bánh quy đựng 120 đô tiền tiết kiệm.

– Thế anh làm gì với bức tranh rồi? Tôi hỏi.

– Hiện tại chúng tôi cho vào kho lưu trữ. Đó là một vật chứng.

– Vật chứng để làm gì nếu như Stern không bị buộc tội gì?

– Vật chứng buộc tội Caleb.

– Vậy anh thực sự nghi ngờ hắn à?

– Tôi không biết, nhà văn ạ. Stern liên quan tới bức vẽ, còn Pratt lại liên quan tới hành vi tình dục, nhưng họ có động cơ nào để giết hại Nola kia chứ?

– Sợ cô ta nói ra chuyện? Tôi gợi ý. Có thể cô ấy đe dọa kể hết mọi chuyện, và trong một giây phút lo sợ, một trong hai kẻ đó đã đánh cô ấy đến chết trước khi chôn cô ấy trong rừng.

– Thế thì tại sao lại viết mấy chữ đó trên tập bản thảo? Vĩnh biệt Nola yêu quý, đó là lời của một người yêu cô ấy. Người duy nhất yêu Nola là Quebert. Phải chăng Quebert, khi biết chuyện về Pratt và Stern, thì bùng nổ giận dữ đến mức giết chết Nola? Câu chuyện này rất có thể là một vụ án mạng vì tình. Hơn nữa, đó chính là giả thuyết của anh còn gì.

– Harry phạm pháp rồi gây án mạng vì tình? Không, không thể như thế được. Thế khi nào thì có kết quả phân tích chữ viết chết tiệt kia?

– Nhanh thôi. Chỉ là ngày một, ngày hai, tôi nghĩ vậy, Marcus ạ, tôi phải nói với anh rằng: văn phòng công tố sẽ đưa ra một thỏa thuận cho Quebert, chúng tôi thôi không kết án tử hình ông ta nữa mà sẽ bào chữa cho ông ta được kết tội giết người vì tình. Hai mươi năm tù giam. Nếu ông ta cư xử tốt thì chỉ còn mười lăm năm. Không còn án tử hình nữa.

– Một sự thỏa thuận á? Tại sao lại phải thỏa thuận? Harry không phạm bất kì tội gì hết.

Tôi có cảm giác chúng tôi đã bỏ qua một điều gì đó, một chi tiết quan trọng có thể giải thích mọi việc. Tôi nghiên cứu lại thời gian trước khi Nola mất tích, nhưng không có sự kiện lớn nào cần phải lưu ý trong suốt tháng Tám năm 1975 ở Aurora, cho tới tận buổi tối ngày 30 tháng 8 định mệnh đó. Nói thật là, khi nói chuyện với Jenny Dawn, Tamara Quinn và một số người dân trong thành phố, tôi có cảm nhận ba tuần cuối cùng của Nola Kellergan trước khi cô ta mất tích là quãng thời gian hạnh phúc. Harry kể cho tôi nghe về các trận dìm đầu xuống nước lạnh, Pratt kể cho tôi nghe ông ta đã ép cô ấy phải mút dương vật như thế nào, còn Nancy thì kể cho tôi nghe về những cuộc hẹn điên rồ với Luther Caleb nhưng những lời tuyên bố của Jenny và của Tamara thì lại hoàn toàn khác: theo như họ kể không có gì cho phép nghĩ rằng Nola bị đánh đập hay đang trải qua một cuộc sống bất hạnh. Bà Tamara thậm chí còn nói, chính bà ta còn đề nghị cô ấy tiếp tục phục vụ tại tiệm Clark’s bắt đầu từ ngày khai giảng năm học mới và Nola đã chấp nhận. Tôi khá ngạc nhiên khi bản thân tôi đã yêu cầu bà ta khẳng định điều này hai lần. Vậy thì tại sao Nola lại muốn tiếp tục nhận làm công việc phục vụ tại tiệm Clark’s khi cô ấy dự tính bỏ trốn? Robert Quinn cho tôi biết đôi khi ông ta gặp cô bé mang theo người một chiếc máy chữ, nhưng dáng vẻ rất thoải mái, lại còn vui vẻ hát. Có thể nói Aurora vào tháng Tám năm 1975 giống thiên đường trên mặt đất. Cũng đã có lúc tôi nghi ngờ tự hỏi không biết có đúng thật Nola thực sự có ý định rời bỏ thành phố này hay không. Sau đó, nghi ngờ kinh khủng xâm chiếm tôi: điều gì đảm bảo rằng Harry kể cho tôi nghe sự thực? Làm thế nào mà biết được rằng Nola có thực sự yêu cầu Harry bỏ trốn cùng hay không? Không biết đó có phải là một mánh lới để che đậy tội ác giết người của Harry hay không? Không biết liệu Gahalowood có lý ngay từ đầu?

Tôi gặp lại Harry vào buổi chiều ngày mồng 5 tháng Bảy, tại nhà tù. Bộ mặt ông nom thật gớm ghiếc, nước da tái xám. Những nếp nhăn mà tôi chưa bao giờ thấy xuất hiện trên trán.

– Ngài chưởng lý muốn đề nghị thầy một thỏa thuận, tôi nói.

– Tôi biết rồi, Roth nói với tôi rồi, án mạng vì tình. Tôi có thể ra khỏi tù sau 15 năm.

Theo giọng nói của ông, thì tôi hiểu rằng ông đã sẵn sàng đối mặt với bản án này.

– Thầy sẽ không chấp nhận đề nghị này đấy chứ, tôi nói.

– Tôi không biết được, Marcus ạ. Nhưng đó là biện pháp để tránh án tử hình.

– Tránh án tử hình ư?

– Điều này nghĩa là gì? Nghĩa là chính thầy là thủ phạm à?

– Không! Nhưng tất cả đều buộc tội tôi! Tôi hoàn toàn không có ý muốn dấn thân vào một trận đấu mà những vị công tố viên đã buộc tội tôi rồi. Mười lăm năm tù, thế vẫn tốt hơn gấp vạn lần tù chung thân hay án tử hình.

– Harry, em hỏi thầy câu hỏi này lần cuối cùng: có phải thấy giết Nola không?

– Tất nhiên là không, mẹ kiếp! Tôi còn phải nói với anh bao nhiêu lần nữa?

– Thế thì chúng ta sẽ chứng minh điều đó!

Tôi rút máy ghi âm ra đặt lên trên bàn.

– Hãy thương cho cái thân tôi, Marcus. Đừng có dùng cái máy này nữa.

– Nhưng phải hiểu được điều gì đã xảy ra chứ.

– Anh làm ơn đi, tôi không muốn anh ghi âm tôi thêm nữa.

– Thôi được rồi, vậy em ghi ra giấy.

Tôi rút sổ và bút ra.

– Em muốn chúng ta tiếp tục nói về việc bỏ trốn ngày 30 tháng Tám năm 1975. Nếu như em hiểu đúng thì vào lúc Nola và thầy quyết định bỏ đi, cuốn sách của thấy gần như hoàn thành…

– Tôi hoàn thành trước hôm khởi hành vài ngày. Tôi viết nhanh, rất nhanh. Tình trạng tôi lúc đó như lên đồng vậy. Tất cả đều đặc biệt: Nola lúc nào cũng ở bên cạnh, đọc, chữa và đánh máy. Có thể anh cho tôi là người yếu đuối, nhưng mọi thứ thật kì diệu. Cuốn sách hoàn thành vào ngày 27 tháng Tám. Tôi nhớ bởi vì hôm đó chính là ngày cuối cùng tôi gặp Nola. Chúng tôi thỏa thuận với nhau là tôi rời khỏi thành phố hai hoặc ba ngày trước, để tránh mọi ngờ vực. Vậy nên ngày 27 tháng Tám là ngày cuối cùng chúng tôi ở bên nhau. Tôi viết xong cuốn sách trong vòng một tháng. Thật điên rồ. Thật sự, tôi vô cùng tự hào về bản thân. Tôi còn nhớ hai tập bản thảo chễm chệ trên bàn ngoài hiên: một bản gốc viết tay và một bản đánh máy do chính Nola thực hiện. Chúng tôi ngồi với nhau trên bãi biển một lúc, đây cũng chính là nơi chúng tôi gặp nhau ba tháng trước. Rồi chúng tôi cùng nhau đi bộ rất lâu. Nola cầm tay tôi và bảo: “Gặp được anh làm đời em hoàn toàn thay đổi, Harry ạ. Anh thấy không, chúng mình thật hạnh phúc biết bao khi ở bên nhau”. Chúng tôi vẫn tiếp tục dạo bước trên bờ biển. Kế hoạch đã hoàn thành: tôi phải rời Aurora vào sáng hôm sau, phải đi qua tiệm Clark’s cho mọi người nhìn thấy và biết tôi sẽ đi vắng vài tuần do có việc khẩn cấp ở Boston. Sau đó, tôi sẽ phải ở lại Boston hai ngày, giữ cẩn thận hóa đơn khách sạn để làm bằng chứng nếu sau này cảnh sát có hỏi. Sau đó, ngày 30 tháng Tám, tôi sẽ đến trọ ở nhà nghỉ Sea Side trên đường 1, theo lời dặn của Nola tôi sẽ nhận phòng số 8, bởi vì nàng thích số 8. Tôi hỏi Nola làm thế nào nàng đến được nhà nghỉ, vì dù sao nó cũng cách Aurora vài dặm. Nàng bảo tôi không cần lo lắng, nàng đi bộ rất nhanh và lại còn biết đường đi tắt qua bãi biển. Nàng sẽ đến thẳng phòng số 8 gặp tôi khi trời gần tối, khoảng 19 giờ. Chúng tôi sẽ lên đường sang Canada ngay lập tức. Chúng tôi sẽ tìm chỗ trú ẩn, thuê một căn hộ nhỏ. Vài ngày sau đó, tôi sẽ phải quay trở về Aurora, làm ra vẻ không có chuyện gì. Chắc chắn lúc đó cảnh sát sẽ tìm Nola, tôi phải giữ bình tĩnh: nếu người ta hỏi cung tôi, tôi sẽ phải trả lời là tôi vừa đi Boston, bằng chứng là hóa đơn khách sạn. Sau đó, tôi sẽ phải ở lại Aurora một tuần để tránh bị nghi ngờ. Lúc đó, Nola chỉ việc yên tâm chờ tôi trong căn hộ chúng tôi thuê. Sau đó, tôi sẽ trả ngôi nhà ở Goose Cove và rời bỏ Aurora mãi mãi với lí do cuốn sách của tôi đã hoàn thành nên tôi phải đi lo xuất bản. Thế là tôi sẽ quay trở lại với Nola. Tôi sẽ gửi bản thảo qua đường bưu điện tới các nhà xuất bản ở New York, rồi có thể sau đó phải đi lại từ Canada tới New York nếu cần để đảm bảo việc xuất bản sách.

– Thế còn Nola, cô ấy sẽ làm gì?

– Chúng tôi sẽ lo giấy tờ giả cho Nola để cô ấy có thể học nốt cấp ba rồi đại học. Chúng tôi sẽ đợi cho tới khi Nola mười tám tuổi thì sẽ chính thức trở thành phu nhân Harry Quebert.

– Giấy tờ giả mạo ư? Thật là hoàn toàn điên rồ!

– Tôi biết. Đó là điều hoàn toàn điên rồ. Hoàn toàn điên rồ!

– Thế chuyện gì xảy ra tiếp theo?

– Hôm đó, ngày 27 tháng Tám, trên bãi biển, chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại kế hoạch đó nhiều lần, rồi chúng tôi quay vào nhà, ngồi trên chiếc tràng kỉ cũ trong phòng khách, nó cũng chưa cũ lắm nhưng nó quá gắn bó và thân thuộc với tôi. Ở đó chúng tôi nói chuyện bên nhau lần cuối. Vậy đó, Marcus, những lời nói cuối cùng của nàng, tôi sẽ không bao giờ quên. Nàng nói: “Chúng ta sẽ vô cùng hạnh phúc, Harry ạ. Em sẽ là vợ của anh. Anh sẽ là nhà văn lớn. Là giáo viên đại học. Em vẫn luôn luôn mơ ước cưới một giáo viên đại học. Ở bên anh, em sẽ là người phụ nữ hạnh phúc nhất. Chúng ta sẽ nuôi một con chó lớn có bộ lông màu mặt trời, một loại chó labrador và gọi nó là Storm. Anh đợi em nhé, chỉ đợi chút xíu thôi”. Và tôi trả lời nàng rằng: “Tôi sẵn sàng đợi em suốt cuộc đời nếu cần, Nola ạ”. Đó là những lời cuối cùng của nàng. Sau đó, tôi thiếp ngủ. Khi tôi thức dậy thì mặt trời đã lặn và Nola đã đi về. Trên biển, vẫn còn luồng ánh sáng màu hồng làm biển vô cùng rạng rỡ, những đàn chim mòng biển kêu ran. Những con chim mòng biển thẩn thỉu thế mà Nola yêu đến thế. Trên bàn ngoài hiên, chỉ còn lại một bộ bản thảo: tập bản thảo mà tôi có, đó là bản gốc. Trong hộp bên cạnh có dòng tin nhắn mà tôi đã thuộc lòng : Xin anh đừng lo lắng, Harry, đừng lo lắng vì em, em sẽ tự tìm cách đến gặp anh ở đấy. Hãy đợi em ở phòng số 8, em rất thích con số này, nó là số em thích nhất. Hãy đợi em trong phòng lúc 19 giờ. Sau đó chúng ta sẽ ra đi cùng nhau, sẽ bên nhau mãi mãi. Tôi không đi tìm tập bản thảo kia: tôi hiểu là nàng cầm để đọc lại. Hoặc có thể để chắc chắn rằng tôi sẽ tới chỗ hẹn ngày 30. Nàng mang bộ bản thảo chết tiệt đó đi, Marcus ạ, như đôi khi nàng vẫn làm. Còn tôi, ngày hôm sau, tôi rời thành phố đúng như dự kiến. Tôi cố tình ghé qua tiệm Clark’s uống một cốc cà phê, để gặp mọi người và cho họ biết tôi sẽ đi vắng. Như mọi buổi sáng khác, lúc đó có Jenny, tôi nói với cô ấy rằng tôi có việc phải làm ở Boston, cuốn sách của tôi đã gần xong và tôi có mấy cuộc hẹn quan trọng. Và thế là tôi đi. Tôi đi không mảy may nghi ngờ rằng không bao giờ gặp lại Nola.

Tôi đặt bút xuống. Harry khóc.

* * *

Ngày 7 tháng Bảy năm 2008.

Tại Boston, trong phòng khách của khách sạn Plaza, sau nửa tiếng đồng hồ Barnaski đọc lướt qua năm mươi trang bản thảo mà tôi mang tới, ông ta gọi chúng tôi vào.

– Anh thấy thế nào? Vừa bước vào phòng, tôi vừa hỏi ông ta.

– Mắt ông ta sáng hấp háy:

– Chỉ đơn giản là rất tuyệt, anh Goldman ạ! Tuyệt vời! Tôi biết, anh là thằng đàn ông biết thời!

– Xin lưu ý đây mới chỉ là những ghi chép của tôi. Trong đó có những việc không được phép xuất bản.

– Tất nhiên rồi, anh Goldman. Tất nhiên rồi. Dù sao đi chăng nữa, chúng ta sẽ phải trải qua những thử thách cuối cùng.

Ông ta gọi một chai rượu champagne, đặt bản hợp đồng lên bàn và tóm tắt nội dung chính: Cuối tháng Tám bàn giao bản thảo. Các dự án quảng cáo đã được làm xong. Sau hai tuần, đọc lại và trình bày. Tháng Chín, in. Dự kiến xuất bản muộn nhất vào tuần cuối tháng Chín. Thật là một kế hoạch hoàn hảo! Hip hip hip! Hoan hô!

– Thế nếu cuộc điều tra lúc đó chưa hoàn thành? Tôi hỏi. Tôi phải kết thúc cuốn sách như thế nào đây?

Barnaski chuẩn bị sẵn câu trả lời từ lâu, kể cả bộ phận pháp lý của công ty cũng đã duyệt:

– Nếu cuộc điều tra đã kết thúc, thì đó sẽ là cuốn truyện tường thuật chính xác. Nếu nó chưa kết thúc, thì chúng ta sẽ bỏ ngỏ chủ đề hoặc là anh tự nghĩ ra kết thúc, khi đó nó sẽ là tiểu thuyết. Về mặt pháp lí không có gì là sai trái, còn đối với độc giả thì điều đó cũng không có gì khác. Hơn nữa, nếu cuộc điều tra chưa kết thúc thì càng tốt: chúng ta có thể viết tiếp tập hai. Thật quá béo bở!

Ông ta nhìn tôi với vẻ thông hiểu; nhân viên phục vụ mang rượu tới, ông ta đề nghị tự tay mình mở. Tôi kí hợp đồng. Ông ta mở nắp, rượu phụt mạnh, bắn ra khắp nơi. Ông ta rót đầy hai cốc, một cho Douglas và một cho tôi. Tôi hỏi:

– Ông không uống à?

Ông ta lau hai tay vào gối, tỏ thái độ không thích.

– Tôi không thích cái này. Champagne đúng là chỉ để diễn. Chỉ để diễn thôi, anh Goldman a, còn lợi ích lại nằm ở sản phẩm cuối cùng!

Nói rồi, ông ta ra ngoài gọi điện thoại cho Warner Bross bàn về tiền bản quyền chuyển thành phim.

Cùng buổi chiều hôm đó , trên đường trở về Aurora, tôi nhận được cuộc điện thoại của Roth: anh ta thật đang vô cùng rối loạn.

– Có kết quả rồi, anh Goldman ạ!

– Kết quả gì vậy?

– Phân tích chữ viết! Không phải là nét chữ của Harry! Không phải ông ta viết dòng chữ đó trên tập bản thảo!

Tôi hét lên vì vui sướng.

– Cụ thể điều đó có nghĩa như thế nào? Tôi hỏi.

– Tôi cũng chưa biết thế nào. Nhưng nếu đó không phải là chữ viết của ông ấy, tức là ông ta không có tập bản thảo trong tay lúc Nola bị giết. Hay nói cách khác, tập bản thảo là bằng chứng chính để buộc tội. Thẩm phán vừa mới ấn định một cuộc hợp mới vào thứ Năm ngày 10 tháng Bảy này, lúc 11 giờ để đánh giá nhanh tình hình. Triệu tập khẩn như vậy chắc chắn là tin tốt cho Harry!

Tôi cảm thấy vô cùng phấn khích: Harry sẽ nhanh chóng được tự do. Vậy là Harry luôn nói thật, ông hoàn toàn vô tội. Tôi sốt ruột chờ đợi đến ngày thứ Năm. Nhưng vào ngày hôm trước của phiên họp đó, thứ Tư ngày 9 tháng Bảy, thảm họa đã xảy ra. Hôm đó, vào lúc 17 giờ, tôi ở Goose Cove, trong phòng làm việc của Harry, đang đọc lại các ghi chép về Nola thì nhận được điện thoại của Barnaski gọi vào di động giọng ông ta run rẩy.

– Marcus, tôi có tin khủng khiếp, ông ta nói ngay.

– Chuyện gì xảy ra vậy?

– Tôi bị mất trộm…

– Mất trộm, thế nghĩa là thế nào?

– Tập giấy của anh… Tập giấy mà anh mang tới Boston cho tôi.

– Cái gì? Tại sao lại như vậy được?

– Tôi để nó trong ngăn kéo bàn làm việc. Sáng hôm qua, tôi không thấy nó nữa… Mới đầu, tôi còn nghĩ là Marisa dọn dẹp và cất vào két, đôi khi cô ấy hay làm thế. Nhưng khi tôi hỏi thì cô ấy nói là không hề động đến. Hôm qua, tôi tìm suốt cả ngày mà không thấy.

Tim tôi đập thình thịch. Tôi cảm thấy một trận bão sắp nổ ra.

– Nhưng sao ông nghĩ chúng bị ăn cắp? tôi hỏi.

Im lặng kéo dài, rồi ông ta trả lời:

– Tôi nhận được điện thoại suốt chiều hôm nay từ các tờ báo Globe, USA to day, New York Times… Ai đó đã mang đống giấy của anh tới tất cả các tờ báo quốc gia, họ phát hành ngay lập tức. Marcus à, rất có khả năng là ngày mai, toàn bộ đất nước này sẽ biết hết nội dung cuốn sách của anh.

❀ ❀ ❀

[1] Một loại đồ uống của Cuba có cồn gồm: rượu rum, đá xay, đường…

[2] Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa: Nhà của tôi cũng là nhà của bạn.

tác: The Truth About the Harry Quebert Affair ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Phụ Nữ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.