“Đấm vào cái bao cát này đi, Marcus. Hãy đấm nó giống như cả cuộc đời anh phụ thuộc vào điều đó. Anh phải đấm như thể anh viết và viết như thể anh đấm bốc vậy: phải vận hết nội lực bởi vì mỗi trận đấu, cũng như là mỗi cuốn sách, đều có thể là trận cuối cùng hay cuốn sách cuối cùng.”
Mùa hè năm 2008 là mùa hè rất yên tĩnh ở Mỹ. Những trận đua tranh giành tấm vé tổng thống kết thúc vào cuối tháng Sáu, những người theo Đảng Dân chủ, theo thỏa ước Montana, đã chỉ định Barack Obama làm đại biểu, trong khi đó, những người theo Đảng Cộng hòa, ngay từ tháng Hai, đã bầu John McCain. Từ lúc đó mọi người chỉ còn tập trung huy động sức lực của từng đảng: những cuộc tái ngộ quan trọng đến tận cuối tháng 8 mới xảy ra; cùng những thỏa ước quốc gia của các đảng lớn trong lịch sử đất nước, họ sẽ chỉ định chính thức đại biểu của đảng mình vào Nhà trắng.
Tình hình yên tĩnh tương đối trước trận bão bầu cử kéo dài tới tận Ngày bầu cử mùng 4 tháng Mười một đã nhường cho vụ án Harry Quebert lên đứng vị trí số một trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng, gây ra sự náo loạn chưa từng có trong dư luận quần chúng. Có những người “thân Quebert”, và có những người theo phái “chống Quebert”; có những người nghĩ rằng Quebert trả tiền đặt cọc để được tự do chẳng qua là vì có thỏa thuận tài chính với cha Kellergan. Kể từ khi báo chí xuất bản mấy tờ giấy phác thảo của tôi, thì cuốn sách của tôi liên tục được mọi người nhắc tới; tất cả mọi người đều đồng loạt không nói về bất kì điều gì khác ngoài chuyện sẽ có một “Goldman mới xuất bản vào mùa thu này”. Mặc dù Elijah Stern không được nêu đích danh trên báo nhưng ông ta đã đâm đơn kiện vì bị bôi nhọ thanh danh nhằm ngăn cản việc xuất bản cuốn sách. Còn cha David Kellergan, ông có vẻ cũng muốn đâm đơn kiện và quyết liệt phản đối việc buộc tội ông đối xử tồi tệ với con gái. Giữa trận chiến hỗn loạn này, chỉ có hai người đặc biệt khoái trá: đó là Barnaski và Roth.
Roy Barnaski cho huy động toàn bộ đội ngũ luật sư riêng từ New York cho tới tận New Hampshire để dẹp hết mọi kiện tụng có nguy cơ khiến cho việc xuất bản sách bị ngừng trệ. Ông ta vô cùng hân hoan: không còn nghi ngờ gì nữa, chính ông ta là người chủ trò trong vụ ăn trộm bản thảo, giúp tăng ngoạn mục tiềm năng doanh số, đồng thời cho phép ông ta chiếm toàn bộ lãnh địa của báo giới và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Ông tự cho rằng chiến dịch của mình không tồi hơn cũng không tốt hơn các chiến dịch khác, thế giới sách đã chuyển từ lãnh địa nghệ thuật cao sang sang sự điên rồ của chủ nghĩa tư bản thế kỉ XXI; từ bây giờ sách viết ra là để được bán, mà để bán được sách thì cần phải làm cho mọi người bản luận về nó, mà để người ta bàn luận về nó thì cần phải chiếm một không gian cho nó. Nếu như chúng ta không dùng sức mạnh để chiếm lấy không gian đó, thì những người khác sẽ chiếm lĩnh nó. Hoặc là ăn, hoặc là bị ăn.
Trên bình diện công lý, không mấy nghi ngờ rằng bộ hồ sơ hình sự sắp sửa sụp đổ. Benjamin Roth đang trên đường trở thành luật sư xuất sắc của năm và tiến tới nổi tiếng trên cả nước. Anh ta chấp nhận mọi lời mời phỏng vấn. Toàn bộ thời gian của anh ta hiển nhiên chỉ đủ dành cho các các kênh truyền hình và đài tiếng nói của địa phương. Bất kể chỗ nào, miễn là có người nói về anh ta. “Anh có tưởng tượng được không, bây giờ tôi có thể đòi thù lao lên đến 1000 đô la một tiếng”, anh ta nói với tôi. “Mỗi khi xuất hiện trên một tờ báo nào đó, thì sau đó tôi lại cộng thêm mười đô tiền thù lao cho một giờ làm việc của tôi với khách hàng tiếp theo. Với cánh báo chí, điều anh nói chẳng mấy quan trọng, quan trọng là anh có mặt ở đó. Người ta nhớ đã thấy ảnh anh trong tờ New York Times, nhưng họ chẳng bao giờ nhớ anh kể chuyện gì ở đấy đâu”. Suốt cả cuộc đời sự nghiệp, Roth mong mỏi có một vụ án thế kỉ, và bây giờ anh ta đã có. Bây giờ, dưới chùm ánh sáng của những chiếc máy chiếu, anh ta phục vụ báo chí mọi điều họ muốn nghe: Cảnh sát trưởng Pratt, Elijah Stern, anh ta nói đi nói lại không biết chán rằng Nola là đứa con gái hư hỏng, chắc chắn ả là người giật dây, và rốt cuộc Harry là nạn nhân thực sự của vụ án. Để kích thích trí tò mò của cử tọa, thậm chí anh ta còn tưởng tượng thêm ra rồi bóng gió rằng cả nữa thành phố Aurora có quan hệ gần gũi với Nola, đến mức tôi phải gọi anh ta để kết thúc chuyện này.
– Anh phải dừng ngay những chuyện tào lao đồi trụy lại, Benjamin. Anh đang làm vấy bẩn tất cả mọi người.
– Thì chính vậy, Marcus, suy cho cùng, việc của tôi là gột rửa danh dự cho Harry hay nói cách khác phải chỉ ra danh dự đáng kinh tởm của những người khác. Nếu vụ án ra tòa, tôi sẽ phải mời Pratt ra làm chúng, phải triệu tập Stern, phải gọi tất cả các đấng nam nhi của Aurora ra trước vành móng ngựa để họ thú nhận công khai tội lỗi xác thịt của họ với cô bé Kellergan. Tôi phải chứng minh rằng Harry tội nghiệp rốt cuộc chỉ có chút lỗi lầm là để một đứa con gái trụy lạc lừa gạt, cũng giống như bao nhiêu người khác dính phải.
– Anh bịa chuyện gì vậy? Tôi hỏi giọng nghiêm trọng. Không bao giờ có chuyện như vậy.
– Thôi đi nào, bạn của tôi. Hãy gọi thẳng tên sự vật. Nola là con đĩ.
– Anh thật đáng xấu hổ, tôi trả lời.
– Đáng xấu hổ ư? Nhưng tôi chỉ nhắc lại những điều chính anh viết trong sách của anh đấy thôi, không phải vậy sao?
– Hoàn toàn không, và anh biết rõ điều đó! Nola không có gì tai tiếng, cũng không phải hạng người gây chuyện. Chuyện của cô ấy với Harry là chuyện tình yêu thực sự!
– Tình yêu, tình yêu, lúc nào cũng tình yêu! Tình yêu chẳng có nghĩa gì hết, anh Goldman ạ! Tình yêu là âm mưu thâm độc do cánh đàn ông nghĩ ra để không phải giặt quần áo!
Văn phòng công tố bị báo giới đưa ra phê phán. Tình hình này được thể hiện rõ ngay trong trụ sở cảnh sát hình sự cấp bang: có tin đồn, trong một cuộc họp ba bên, thống đốc bang đã thân chinh báo động cho cảnh sát phải giải quyết vụ việc trong thời hạn ngắn nhất. Kể từ khi được Sylla Mitchell tiết lộ thông tin, Gahalowood bắt đầu nhìn nhận diễn biến cuộc điều tra sáng sủa hơn; mọi chi tiết càng ngày càng nghiêng về hướng Luther, Gahalowood đang trông đợi rất nhiều vào kết quả phân tích nét chữ để khẳng định linh cảm của mình. Trong khi chờ đợi, ông ta cần phải tìm thêm thông tin, đặc biệt là những chuyến lượn lờ của Luther tại Aurora. Chính vì vậy, Chủ nhật ngày 20 tháng Bảy, chúng tôi cùng đi gặp Travis Dawn để hỏi thêm ông ta về chuyện này.
Vì tôi vẫn còn ngần ngại chưa muốn quay trở lại Aurora, cho nên Travis chấp nhận đến gặp chúng tôi ở một quán ăn dọc đường gần Montburry. Tôi chuẩn bị tinh thần sẽ bị tiếp đón lạnh lùng vì những điều tôi viết về Jenny, nhưng ông ta tỏ ra rất tử tế với tôi.
– Tôi rất lấy làm tiếc về những thông tin rò rỉ ra bên ngoài, tôi nói với Travis. Mấy trang giấy đó của tôi chỉ là những ghi chép cá nhân, nhẽ ra chúng không được xuất bản cho mọi người đọc.
– Tôi không thể trách cậu về việc đó được, Marc ạ.
– Ông cũng có thể.
– Cậu chỉ kể sự thật thôi. Tôi biết đúng là Jenny có thích Quebert… Tôi thấy rõ hồi đó, cô ấy nhìn anh ta như thế nào…Trái lại, tôi nghĩ điều tra của anh đang đi đúng hướng, Marcus ạ Ít ra, đó chính là bằng chứng. Vậy cuộc điều tra có gì mới không?
Gahalowood trả lời:
– Có, mới ở chỗ chúng tôi đang có những nghi vấn rất nghiêm túc về Luther Caleb.
– Luther Caleb - Tên khùng đó à? Thế chuyện vẽ tranh ấy là có thật à?
– Vâng. Rõ là cô bé này thường xuyên tới nhà Stern. Anh có biết chuyện giữa Cảnh sát trưởng Pratt và Nola không?
– Chuyện bậy bạ đó à? Không! Khi tôi biết chuyện, tôi không dám tin. Anh biết đấy, có thể là ông ta đã sa ngã, nhưng lúc nào ông cũng là người cảnh sát gương mẫu. Tôi tin công việc điều tra cùng những nghiên cứu của ông ấy, ngay cả trên báo chí cũng viết như thế.
– Thế còn các nghi ngờ về Stern và Quebert, anh nghĩ thế nào?
– Các anh cứ đa nghi, chứ tôi thấy bà Tamara Quinn hồi đó tuy là có trình báo cảnh sát về Quebert, nhưng phải xác định rõ là bà ấy luôn tỏ ra biết hết mọi chuyện nhưng thực ra lại chẳng biết gì cả. Bà ấy không hề có bất kì bằng chứng gì về những điều bà ấy kể. Bà ấy cứ nói đi nói lại là có bằng chứng cụ thể, nhưng mà lại đánh mất mà không hiểu vì sao. Không có gì đáng tin cậy cả. Thưa trung sĩ, chính anh là người biết phải hết sức cẩn trọng với những lời buộc tội không có căn cứ. Chi tiết duy nhất chống lại Quebert đó là chiếc xe Chevrolet Monte Carlo màu đen. Nhưng riêng điều này thì còn lâu mới đủ chứng cứ để buộc tội.
– Một bạn gái của Nola khẳng định với chúng tôi rằng cô ấy đã khai với Pratt về chuyện xảy ra ở nhà Stern.
– Pratt chưa bao giờ nói với tôi chuyện đó.
– Nếu thế thì thật khó mà không nghĩ ông ta điều tra quấy quá? Gahalowood đặt vấn đề.
– Đừng bắt tôi nói những điều tôi không nói, thưa trung sĩ.
– Thế còn Luther Caleb? Anh có thế nói đôi lời về anh ta chứ?
– Luther là một tay nực cười. Hắn quấy rối phụ nữ. Thậm chí hắn khiến Jenny phải đâm đơn kiện vì đã tỏ ra hung hãn với cô ấy.
– Anh chưa từng nghi ngờ hắn à?
– Không thực sự. Chúng tôi cũng có đưa tên anh ta ra, rồi kiểm tra anh ta đi loại xe nào. Tôi còn nhớ anh ta lái chiếc Mustang xanh lơ. Dù sao đi chăng nữa, ít có khả năng anh ta là nhân vật chúng ta tìm kiếm.
– Tại sao?
– Trước khi Nola biến mất ít lâu, tôi chắc chắn anh ta không bao giờ quay trở lại Aurora nữa.
– Nghĩa là sao?
Travis bất chợt tỏ vẻ không thoải mái.
– Chúng tôi cho rằng…Nghĩa là… Tôi thấy anh ta ở tiệm Clark’s, lúc đó là vào giữa tháng Tám, sau khi tôi thuyết phục được Jenny kiện anh ta…Vì anh ta gây gổ với cô ấy, làm cho cô ấy bầm tím cả tay. Dù sao thì chuyện đó cũng nghiêm trọng. Khi thấy tôi đi đến, anh ta chạy trốn. Tôi rượt đuổi theo và bắt được anh ta, tôi bắt được anh ta trên đường 1. Và ở …Tôi… Anh biết đấy, Aurora là một thành phố yên bình, tôi không muốn anh ta lảng vảng ở đó
– Anh đã làm gì anh ta?
– Tôi tẩn cho anh ta một trận ra trò. Tôi cảm thấy xấu hổ về chuyện này. Và…
– Và gì, Cảnh sát trưởng Dawn?
– Tôi đập dùi cui vào bộ phận sinh dục của anh ta. Tôi tương cho anh ta một trận ra trò. Khi anh ta đau quá gập đôi người úp mặt xuống đất, tôi dựng anh ta dậy, rút súng lục ra, tôi lên đạn và chọc nòng súng vào giữa hai cặp bìu của anh ta. Tôi bảo tôi không muốn nhìn thấy anh ta lần nữa trong đời. Anh ta rên rỉ, mếu máo rằng anh ta sẽ không quay trở lại nữa, và van vỉ xin tôi thả cho đi. Tôi biết hành động của mình không đúng đắn cho lắm nhưng tôi muốn chắc chắn rằng không ai còn nhìn thấy anh ta ở Aurora nữa.
– Và anh nghĩ Luther vâng lời anh à?
– Hẳn nhiên rồi.
– Vậy có nghĩa là anh là người cuối cùng nhìn thấy Luther ở Aurora?
– Vâng. Tôi chuyển lệnh cho các đồng nghiệp, báo cho họ cả loại xe anh ta lái. Luther không xuất hiện thêm lần nào nữa. Một tháng sau đó, có tin anh ta chết ở Massachusetts.
– Tai nạn như thế nào?
– Tôi nghĩ anh ta gặp nạn ở đoạn đường vòng. Tôi không biết gì hơn. Nói thật là, tôi không quan tâm đến chuyện đó lắm. Lúc đó chúng tôi có nhiều chuyện quan trọng hơn phải làm.
Khi ra khỏi quán cơm, Gahalowood nói với tôi:
– Tôi cho rằng chiếc xe là chìa khóa của vấn đề. Phải biết ai lái chiếc Chevrolet Monte Carlo đen. Hoặc chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi thế này: Liệu Luther Caleb có khả năng đã ngồi vào buồng lái của một chiếc xe Chevrolet Monte Carlo đen vào ngày 30 tháng Tám năm 1975 hay không.
Ngày hôm sau, tôi trở lại Goose Cove lần đầu tiên kể từ khi xảy ra hỏa hoạn. Mặc dù có biển báo của cảnh sát căng trước sân cấm vào trong ngôi nhà, nhưng tôi vẫn đi vào. Tất cả đều hỏng hết. Trong bếp, tôi nhìn thấy chiếc hộp KỈ NIỆM ROCKLAND, MAINE vẫn còn nguyên vẹn. Tôi đổ hết bánh mì khô ra và nhặt nhạnh bỏ vào đó vài đồ vật còn nguyên vẹn sót lại trong các phòng. Trong phòng khách, tôi phát hiện ra một cuốn album nhỏ, thần kì thế nào mà lại không hề bị cháy. Tôi mang cuốn album ra ngoài, ngồi dưới gốc cây sồi to đối diện ngôi nhà để xem. Đúng lúc đó, Erne Pinkas tới. Ông nói với tôi:
– Tôi thấy ô tô của cậu đỗ trên đường nhỏ rẽ vào đây.
Ông đến ngồi cạnh tôi.
– Ảnh của Harry à? Ông hỏi tôi và chỉ vào cuốn album.
– Vâng, cháu mới tìm được trong nhà.
Im lặng hồi lâu. Tôi lật từng trang. Những tấm ảnh hẳn là được chụp từ đầu những năm 1980. Trong nhiều tấm ảnh, có một con chó lông vàng.
– Con chó này của ai vậy? Tôi hỏi.
– Của Harry.
– Cháu không biết là ông ấy từng nuôi chó.
– Nó tên là Storm. Hẳn nó phải sống được mười hai hay mười ba năm.
Storm, tôi cũng từng nghe cái tên này, nhưng tôi không thể nhớ nghe ở đâu nữa.
– Marcus này, bác Pinkas nói. Hôm trước, tôi không muốn tỏ ra độc ác với cậu. Tôi rất tiếc nếu làm cậu tổn thương.
– Không có gì ạ.
– Có, có chữ. Tôi không biết là cậu bị đe dọa. Lí do là vì cuốn sách à?
– Rất có thể.
– Nhưng ai làm chuyện đó chứ? Ông chỉ tay về phía ngôi nhà bị cháy, hỏi.
– Không ai biết gì. Cảnh sát nói rằng kẻ đốt nhà đã sử dụng chất kích cháy như xăng chẳng hạn. Họ phát hiện ra một bi đông rỗng ngoài bãi biển, nhưng họ không nhận ra các dấu vân tay trên đó.
– Cậu bị đe dọa như vậy mà vẫn cứ tới ở đây à?
– Vâng.
– Tại sao?
– Vì lí do gì mà cháu phải bỏ đi nhỉ? Sợ hãi ư? Cần phải biết coi thường nỗi sợ hãi.
Pinkas nói rằng tôi là người có cá tính, chính ông cũng rất muốn có tính cách mạnh mẽ như vậy trong cuộc đời. Vợ ông lúc nào cũng tin tưởng ở ông. Bà ấy chết trước đó mấy năm do một cái hạch. Trên giường bệnh, bà còn nói với ông, cứ như thể ông là thanh niên trai trẻ còn tràn đầy tương lai ở phía trước: “Ernie, ông sẽ làm được điều gì đó thật lớn trong đời. Hãy tin tưởng vào bản thân. Tôi già quá rồi. Cuộc sống ở phía sau tôi rồi. Không bao giờ là quá muộn cả, Ernie ạ. Hễ khi nào còn chưa chết, thì cuộc sống vẫn còn ở phía trước”. Nhưng kể từ khi vợ ông qua đời, thì Ernie chỉ có một thành công là xin được việc làm trong siêu thị ở Montburry để trả nợ chi phí các buổi truyền hóa chất và gìn giữ tấm bia trên mộ của vợ.
– Tôi thu gom và sắp xếp các xe đẩy hàng, Marcus ạ. Tôi đi khắp bãi đậu xe, tìm các xe đẩy đơn lẻ bị bỏ rơi, gom chúng lại với nhau, xếp vào hàng với các bạn của chúng vào đúng vị trí cho các khách hàng sau. Những chiếc xe đẩy không bao giờ cô độc. Hay nói chính xác là không bao giờ cô độc lâu. Bởi vì trong tất cả các siêu thị trên thế giới, luôn luôn có một gã Ernie đến tìm và dẫn chúng quay trở lại với gia đình của chúng. Nhưng rồi ai là người sẽ đến nhà Ernie để mang ông ta trở về với gia đình của ông ta nhỉ? Tại sao người ta lại làm như vậy với các xe đẩy trong siêu thị mà không làm như vậy với con người?
– Bác có lí đấy. Vậy cháu có thể làm được gì cho bác?
– Tôi muốn xuất hiện ở phần cảm ơn trong cuốn sách của cậu. Tôi muốn có tên trong phần cảm ơn ở trang cuối cùng, như các nhà văn vẫn hay làm thế. Tôi muốn tên tôi ở trên cùng, được nhắc đến đầu tiên. Được viết hoa. Bởi vì tôi có giúp cậu một chút trong việc tìm kiếm thông tin. Cậu nghĩ như vậy có được không? Vợ tôi sẽ rất tự hào. Người chồng bé nhỏ của bà ấy có đóng góp cho thành công vĩ đại của Marcus Goldman, ngôi sao lớn mới của nền văn học.
– Bác cứ tin tưởng ở cháu, tôi nói.
– Tôi sẽ đọc cho bà ấy nghe cuốn sách của cậu, Marc ạ. Hằng ngày tôi sẽ đến ngồi bên cạnh bà ấy, đọc cho bà ấy nghe truyện của cậu.
– Cuốn sách của chúng ta, bác Erne ạ. Cuốn sách của chúng ta.
Bất chợt chúng tôi nghe thấy những bước chân ở phía sau: Jenny tới.
– Tôi nhìn thấy xe của cậu đậu ở lối vào trên đường, Marcus ạ, cô nói với tôi. Bác Erne và tôi nhìn nhau mỉm cười. Tôi đứng lên, Jenny ôm tôi như thể một người mẹ ôm con. Sau đó, cô nhìn ngôi nhà và bắt đầu khóc.
Hôm đó, trên đường đến Concord, tôi đi qua nhà nghỉ Sea Side gặp Harry. Ông đang cởi trần, lê lết trước cửa phòng số 8. Ông đang luyện các động tác đấm bốc. Ông không còn như trước nữa. Khi thấy tôi, ông nói:
– Chúng ta đi đấm bốc đi, Marcus.
– Em đến đây để nói chuyện.
– Thì vừa đấm bốc vừa nói chuyện.
Tôi chìa ra cho ông chiếc hộp KỈ NIỆM ROCKLAND, MAINE mà tôi tìm thấy trong đống đổ nát của ngôi nhà.
– Em mang tới cho thầy cái này, tôi nói. Em mới rẽ qua Goose Cove. Căn nhà còn đầy đồ đạc… Tại sao thầy không đến mà lấy?
– Thế anh muốn tôi đến lấy cái gì?
– Các kỉ vật.
Ông nhếch mép.
– Kỉ vật chỉ có làm buồn thôi, Marcus Nhìn thấy chiếc hộp này cũng đủ làm tôi muốn khóc!
Ông cầm chiếc hộp giữa hai tay, ghì chặt vào người.
– Khi Nola biến mất, ông kể với tôi, tôi không tham gia tìm kiếm. Anh có biết là tôi làm gì không?
– Không
– Tôi đợi nàng, Marcus ạ. Tôi đợi nàng. Đi tìm, có nghĩa là coi như nàng không còn nữa. Nhưng tôi đợi, tôi tin nàng sẽ quay trở lại. Tôi hoàn toàn chắc chắn, một hôm nào đó, nàng sẽ quay trở lại. Và ngày hôm đó , tôi muốn nàng phải tự hào về tôi. Tôi đã chuẩn bị đón nàng suốt ba mươi ba năm. Ba mươi ba năm! Hằng ngày, tôi vẫn mua sôcôla và hoa tươi cho nàng. Tôi biết Nola là người duy nhất mà tôi yêu mãi mãi, và tình yêu, Marcus ạ, nó chỉ đến có một lần trong đời! Nếu như anh không tin tôi, thì có nghĩa là anh chưa từng yêu bao giờ. Buổi tối, tôi ngồi trên tràng kỉ ngóng chờ bóng nàng tới, tự nhủ rằng, nàng sẽ bất ngờ xuất hiện như mọi khi. Khi đi hội thảo trên toàn quốc, tôi vẫn để tin nhắn trên cửa: Dự hội thảo ở Seattle. Trở về vào thứ Ba tới. Biết đâu nàng quay trở về lúc tôi vắng mặt. Tôi không bao giờ khóa cửa. Không bao giờ! Tôi không bao giờ khóa cửa suốt ba mươi ba năm. Mọi người nói tôi điên, một hôm nào đó khi trở về, nhà tôi sẽ trống rỗng vì kẻ trộm khuân hết, nhưng ở Aurora, New Hampshire, không ai lấy trộm của ai cái gì bao giờ. Anh có hiểu tại sao tôi đã sống lang thang nhiều năm trên đường, chấp nhận tất cả các cuộc hội thảo mà người ta đề nghị tôi làm không? Bởi vì tôi tự nhủ, có thể tôi sẽ gặp nàng. Tôi đã đi khắp chiều dài sang chiều rộng của đất nước, từ những đô thị lớn sầm uất hay tỉnh lị bé nhỏ, kiểm tra tất cả các tờ báo địa phương để chắc họ có quảng cáo về hội thảo của tôi, đôi khi tôi tự bỏ tiền túi ra để quảng cáo, tất cả những điều đó để làm gì? Để vì nàng, để chúng tôi có thể tìm thấy nhau. Trong suốt các cuộc hội thảo của tôi, tôi nhìn rõ vào từng khuôn mặt trong đám cử tọa, tôi kiếm tìm những gương mặt tóc vàng ở độ tuổi nàng, tôi tìm những người giống nàng. Mỗi lần, tôi lại thầm nghĩ: có thể nàng có mặt. Sau mỗi buổi hội thảo, tôi đáp lại mọi đề nghị gặp mặt, tôi nghĩ có thể nàng sẽ tới gặp tôi. Trong suốt nhiều năm, tôi rình bóng hình nàng trong đám công chúng, mới đầu tôi chỉ lưu ý đến những cô gái ở tuổi mười lăm, rồi mười sáu, rồi hai mươi, sau đó là hai lăm! Marcus ạ, nếu như tôi ở lại Aurora, thì chỉ bởi vì tôi muốn đợi Nola. Còn bây giờ, vậy là một tháng rưỡi kể từ khi người ta tìm thấy xác của nàng. Chôn vùi trong vườn của tôi! Tôi đợi nàng chừng ấy năm, thế mà nàng ở ngay đó, ngay bên cạnh! Đúng chỗ mà tôi luôn luôn muốn trồng cẩm tú cầu cho nàng! Kể từ khi người ta tìm ra nàng, tim tôi muốn vỡ tung, Marcus ạ! Bởi vì tôi đã mất tình yêu của đời mình, bởi vì nếu như tôi không hẹn nàng đến cái nhà nghỉ đáng nguyền rủa ấy, có thể nàng vẫn còn sống! Vậy thì đừng mang những kỉ vật đến đây, chúng làm tim tôi tan nát. Hãy thôi đi, xin anh, hãy thôi đi.
Ông đi lại phía cầu thang.
– Thầy đi đâu thế Harry?
– Đấm bốc. Tôi chỉ còn mỗi việc đó thôi, đấm bốc.
Ông tiến xuống dưới bãi đỗ xe và bắt đầu tung ra những cú đấm hung hãn như sắp đánh nhau dưới ánh mắt lo lắng của khách hàng trong quán ăn bên cạnh. Tôi đến gần và đứng trước ông ở thế phòng thủ. Ông cố gắng tấn công liên tục, nhưng ngay cả khi đấm bốc, cũng không còn như trước nữa.
– Thực ra, anh tới đây làm gì?
Ông hỏi tôi giữa hai đợt tấn công phía bên phải.
– Làm gì ư? Thì để gặp thầy.
– Tại sao anh lại muốn gặp tôi đến thế? - Thì bởi vì chúng ta là bạn của nhau!
– Đúng là ở chỗ này đấy Marcus ạ, đúng chỗ này anh chẳng hiểu gì cả chúng ta không thể là bạn nhau được nữa.
– Thầy đang nói gì thế hả Harry?
– Nói sự thật. Tôi yêu anh như con trai tôi. Và sẽ còn yêu mãi mãi, Nhưng chúng ta không còn có thể là bạn được nữa.
– Tại sao? Tại vì ngôi nhà bị cháy ư? Em sẽ trả tiền, em đã bảo thầy rồi! Em sẽ trả tiền!
– Anh vẫn chưa hiểu tôi, Marcus ạ. Không phải vì ngôi nhà.
– Tôi nới lỏng thế phòng thủ giây lát, ông liền đấm thục mạng liên tục thẳng vào phía trên vai phải của tôi.
– Phải giữ chắc thế phòng thủ, Marcus! Nếu đấm vào đầu thì chắc anh ngất xỉu rồi đấy!
– Nhưng em bất cần! Em muốn biết! Em muốn hiểu trò chơi bí ẩn của thầy có nghĩa là gì.
– Không phải là trò chơi. Khi hiểu ra, anh sẽ giải quyết được tất cả câu chuyện này.
Tôi dừng hẳn lại.
– Chúa ơi, thầy đang nói gì vậy? Thầy giấu em điều gì đúng không? Thầy không nói với em toàn bộ sự thật ư?
– Tôi đã nói hết với anh rồi, Marcus ạ, sự thật nằm trong tay anh.
– Em không hiểu.
– Tôi biết. Nhưng khi anh hiểu hết, thì mọi chuyện sẽ khác. Anh sẽ trải qua một thời kì khó khăn trong cuộc sống của mình.
Tôi ngồi thụp xuống dưới nền sân xi măng, lạc lối. Ông bắt đầu hét lên rằng không phải lúc để ngồi.
– Đứng lên đi, đứng lên đi! Ông hét lên. Chúng ta đang chơi một loại hình nghệ thuật cao quý là đấm bốc!
Nhưng tôi cảm thấy chẳng còn hứng thú gì với loại hình nghệ thuật cao quý đó cả.
– Đối với em, đấm bốc chỉ có ý nghĩa nếu là vì thầy, Harry! Thầy có nhớ cuộc thi vô địch đấm bốc năm 2002 chứ?
– Tất nhiên là tôi nhớ. Làm thế nào mà quên được.
– Thế tại sao chúng ta lại không còn là bạn của nhau nữa?
– Tại vì những cuốn sách. Những cuốn sách đã liên kết chúng ta với nhau và bây giờ chúng lại chia rẽ chúng ta. Điều này đã được viết ra rồi.
– Đã được viết ra? Thế nghĩa là thế nào?
– Tất cả đều ở trong những cuốn sách… Marcus ạ, ngay khi tôi gặp anh, tôi đã biết rằng thời điểm này sẽ tới.
– Nhưng thời điểm này là lúc nào?
– Tại cuốn sách mà anh đang viết.
– Cuốn sách đó ư? Nhưng nếu thầy muốn, em sẽ từ bỏ ngay! Thầy có muốn chúng ta sẽ hủy bỏ tất cả không? Thế thì được, thế thì hủy! Không còn sách nữa! Không còn gì hết!
– Đáng tiếc là điều đó chẳng giúp được gì. Nếu như không phải tại cuốn đó, thì lại tại cuốn khác.
– Harry, thầy đang kể chuyện gì vậy? Em không hiểu gì hết.
– Anh phải tiếp tục viết cuốn sách này, nó sẽ là một tuyệt tác, Marcus ạ. Tôi rất hạnh phúc về điều đó, nhất là anh đừng coi thường nó. Nhưng chúng ta đang tiến tới thời điểm chia li. Một nhà văn ra đi, một nhà văn khác sinh ra. Anh sẽ là người thay thế, Marcus ạ. Anh sẽ trở thành một nhà văn lớn. Anh bán được bản quyền với giá một triệu đô la! Một triệu đô la! Anh sẽ trở thành người có thế lực, Marcus ạ. Tôi luôn luôn biết điều đó.
– Nhưng, nhân danh Chúa, thầy muốn nói gì với em vậy?
– Marcus, chìa khóa nằm giữa những cuốn sách. Nó ở ngay trước mắt anh. Hãy nhìn đi! Nhìn cho rõ đi! Anh có thấy chúng ta đang ở đâu không?
– Chúng ta đang trong bãi đỗ xe của một nhà nghỉ!
– Không! Không! Marcus ạ. Chúng ta đang ở nguồn gốc của cái xấu xa! Đã hơn ba mươi năm nay tôi sợ giây phút này.
* * *
Phòng đấm bốc trong khu ký túc xá đại học Burrows, Tháng Hai năm 2002
– Anh nhắm các cú đấm không chính xác, Marcus ạ. Anh đấm rất mạnh, nhưng lúc nào cũng để đốt ngón tay cái cao quá, nó sẽ bị cọ sát khi đấm.
– Đeo găng vào thì em không cảm thấy gì nữa.
– Anh phải biết cách đấm tay trần không găng. Găng chỉ để tránh giết chết đối thủ mà thôi. Anh sẽ cảm thấy đau nếu đấm vào một cái gì khác chứ không phải cái túi này.
– Harry… Theo thầy thì tại sao lúc nào em cũng đi đấm bốc một mình?
– Hãy tự hỏi bản thân mình, Marcus.
– Em cho là tại vì em sợ, em sợ thua cuộc.
– Nhưng khi anh tới phòng tập ở Lowell theo lời khuyên của tôi, khi bị cái gã khổng lồ da đen đánh cho tơi tả, thì anh cảm thấy điều gì?
– Tự hào. Sau khi bị hạ gục, em cảm thấy rất tự hào. Ngày hôm sau khi nhìn những chỗ thâm tím trên cơ thể mình, em thấy yêu chúng thế: em đã bị vượt mặt và em dám chấp nhận điều đó! Em đã dám tự đấu tranh với bản thân mình!
– Vậy anh tự cho rằng đã chiến thắng.
– Vâng, suy cho cùng thì là như vậy. Ngay cả khi về mặt kĩ thuật mà nói, em bị thua, nhưng hôm đó em vẫn có cảm giác là đã chiến thắng.
– Câu trả lời chính ở chỗ đó: Thắng hay thua không quan trọng, Marcus ạ. Điều quan trọng là chặng đường anh trải qua giữa tiếng cồng của vòng đầu tiên và tiếng cồng của vòng sau cuối. Suy cho cùng, kết quả của trận đấu chỉ là một thông tin đưa ra cho công chúng. Ai có quyền nói anh bị thua, nếu như chính anh nghĩ anh thắng? Cuộc sống giống như cuộc thi chạy, Marcus ạ: lúc nào cũng có người chạy nhanh hơn và người chạy chậm hơn anh. Rốt cuộc, điều đáng giá nhất chính là sức mạnh mà anh bỏ ra để vượt qua chặng đường của mình.
– Harry, em thấy tờ áp phích này trong phòng học…
– Ừ, tờ quảng cáo giải vô địch đấm bốc liên trường… .
– Vâng… tất cả các trường đại học lớn đều tham gia… Harvard, Yale… Em… Em muốn tham gia.
– Vậy thì tôi sẽ giúp anh…
– Thật chứ ạ?
– Tất nhiên rồi. Anh có thể luôn tin tưởng ở tôi, Marcus ạ. Đừng bao giờ quên điều đó. Anh và tôi là đồng đội. Suốt đời.