Sự Thật Về Vụ Án Harry Quebert Hay Chuyện Nàng Nola

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
29
Liệu Người Ta Có Phải Lòng Một Bé Gái Mười Lăm Tuổi?

❊ ❊ ❊

“Marcus, tôi muốn dạy anh cách viết, không phải để anh biết cách viết, mà là để anh trở thành nhà văn. Bởi vì viết được một cuốn sách là vô cùng khó nhọc: ai cũng viết được cả, nhưng không phải ai cũng là nhà văn.

– Vậy làm sao để biết mình có phải là nhà văn hay không, thầy Harry?

– Không ai có thể tự biết mình có phải là nhà văn hay không. Đó là do những người khác nói cho mình điều đó”.

Ai còn nhớ đến Nola cũng đều nói rằng đó là một cô bé tuyệt vời, Nola thuộc tuýp những người có khả năng lưu dấu dễ dàng trong trí nhớ của người khác: nhẹ nhàng, biết cách quan tâm, tài năng, rạng rỡ, vui vẻ. Ở cô bé toát lên một niềm vui sống không giống ai, có thể thắp sáng những ngày mưa tồi tệ nhất. Vào các ngày thứ Bảy, Nola phục vụ ở tiệm Clark’s: cô xoay vòng giữa những dãy bàn ghế, nhẹ nhàng như làn gió, những lọn tóc vàng óng ả lượn sóng nhảy nhót trên bờ vai. Cô bé luôn có những lời nói thật dễ nghe cho mọi khách hàng. Trong mắt họ, chỉ có Nola. Nola là cả một thế giới!

Nola là con gái độc nhất của David và Louisa Kellergan, những con chiên ngoan đạo của miền Nam có nguyên quán ở Jackson, Alabama. Đây cũng chính là nơi Nola chào đời ngày 12 tháng Tư năm 1960. Gia đình Kellergan đến định cư ở Aurora vào mùa thu năm 1969, sau khi người cha được tuyển vào làm giám mục cho tu viện Thánh St James, cộng đồng chính của Aurora, lúc đó đang có khả năng bị ảnh hưởng rất lớn. Tu viện Thánh St James nằm ở lối vào phía nam của thành phố, là một công trình bề thế bằng gỗ, nhưng kế từ khi Aurora và Montburry phải sáp nhập vào nhau vì lí do tiết kiệm ngân sách và vì thiếu con chiên, thì tòa thánh này chẳng còn gì nữa. Ở địa điểm đó, mọc lên một quán ăn nhanh Mc Donald’s. Ngay khi đến đây, gia đình Kellergan ở tại ngôi nhà một tầng xinh xắn, thuộc sở hữu của tu viện, nằm ở số 245 Terrace Avenue: rất nhiều khả năng là sáu năm sau, vào thứ Bảy ngày 30 tháng Tám năm 1975, Nola đã biến mất từ cửa sổ phòng ngủ!

Trên đây là những mô tả đầu tiên mà những khách hàng thân thiết của tiệm Clark’s nói lại với tôi, nơi tôi lui tới ngay hôm sau khi đến Aurora. Tôi thức dậy từ bình minh, dằn vặt bởi cảm giác khó chịu là không biết chắc sẽ phải làm gì ở đây. Sau khi chạy bộ trên bãi biển, tôi cho đám mòng biển ăn và phân vân tự hỏi, không biết có phải mình đi đến tận nơi xa xôi này của bang New Hampshire chỉ để cho bọn mòng biển ăn bánh mì. Tôi có hẹn lúc 11 giờ ở thủ phủ Concord với Benjamin Roth để đi gặp Harry; trong khi chờ đợi, tôi đến tiệm Clark’s ăn bánh rán vì không muốn ở một mình. Lúc còn là sinh viên và đến nhà Harry, ông thường kéo tôi đến đây vào sáng sớm khi cửa hàng mới mở cửa: ông đánh thức tôi dậy trước cả bình minh, không ngần ngại lay tôi thật mạnh và bảo đã đến lúc phải mặc quần áo thể thao. Sau đó chúng tôi ra ngoài bờ biển chạy và đấm bốc. Nếu thấy mệt thì ông dừng lại làm huấn luyện viên cho tôi: ông dừng lại vừa để nghỉ vừa để sửa các động tác và tư thế cho tôi, nhưng tôi biết ông làm vậy chỉ cốt để có vài phút mà thở. Vừa tập đấm bốc vừa chạy, chúng tôi vượt qua mấy dặm đường bờ biển, nối liền Goose Cove với Aurora. Sau đó, chúng tôi quay trở lại theo con đường đá cuội của bãi biển Grand rồi đi xuyên qua cả thành phố còn đang chìm trong giấc ngủ. Trên con phố chính, bóng tối vẫn còn bao trùm, từ xa có thể nhận thấy ánh sáng trắng xóa vượt ra từ cửa kính của tiệm Clark’s. Đây là tiệm ăn duy nhất mở cửa sớm như thế. Từ bên trong, sự yên tĩnh tuyệt đối ngự trị, những khách hàng hiếm hoi vào giờ đó là tài xế xe tải hay nhân viên bán hàng rong đang yên lặng nuốt bữa điểm tâm. Tiếng đài phát thanh, luôn luôn từ một kênh thông tin duy nhất, vang ra từ phía sau cửa hàng nhưng âm lượng quá bé nên không thể nghe rõ lời phát thanh viên. Vào các buổi sáng quá nóng, những chiếc quạt trần có cánh bằng kim loại đuổi gió nghiến lên kèn kẹt, khiến bụi bay nhảy nhót quanh bóng điện. Chúng tôi ngồi vào bàn số 17, cô Jenny đến ngay lập tức để phục vụ cà phê. Lúc nào cô Jenny cũng dành cho tôi một nụ cười dịu dàng gần như một người mẹ. Cô nói với tôi: “Tội nghiệp Marcus, bị bắt thức dậy từ bình minh đúng không? Từ khi mà tôi biết cậu ấy, lúc nào cũng dậy sớm như vậy”. Tất cả chúng tôi cùng cười.

Vào ngày 17 tháng Sáu năm 2008, mặc dù còn rất sớm, nhưng tiệm Clark’s đã thật nhốn nháo, ai cũng chỉ nói đến vụ việc vừa xảy ra. Khi tôi bước vào, những khách hàng quen túm tụm lại quanh tôi để hỏi liệu mọi chuyện có thật như thế không, liệu Harry có quan hệ với Nola rồi giết cả Nola và bà Deborah Cooper thật không. Tôi tránh trả lời các câu hỏi và ngồi vào bàn số 17 vẫn còn để trống. Lúc đó tôi phát hiện ra tấm biển vinh danh Harry đã được tháo bỏ: ở chỗ đó chỉ còn hai chiếc đinh vít đóng chặt và dấu vết của miếng kim loại in trên chiếc bàn gỗ sơn vecni.

Cô Jenny đến phục vụ tôi cà phê và chào tôi rất nồng hậu. Cô có vẻ buồn rầu.

– Cậu ở chỗ nhà Harry à? Cô hỏi.

– Vâng ạ. Cô tháo cái biển tên ông ấy rồi à?

– Ừ.

– Tại sao?

– Harry viết cuốn truyện ấy là cho đứa con nít đó, Marcus ạ. Viết cho một đứa con nít mới mười lăm tuổi. Tôi không thế để cải biến đó ở đây được. Tình yêu ấy thật bẩn thỉu.

– Cháu nghĩ là mọi việc phức tạp hơn nhiều, tôi trả lời.

– Còn tôi thì nghĩ cậu không nên dính dáng đến việc này, Marcus ạ. Cậu phải về New York và tránh xa mọi chuyện ở đây.

Tôi gọi bánh rán và xúc xích. Một tờ Aurora Star dính mỡ vứt lăn lóc trên mặt bàn. Ở trang đầu tiên, bức ảnh Harry to đùng chụp vào thời hoàng kim, vẻ mặt đáng kính trọng, cái nhìn thật sâu và tự tin. Ngay phía dưới, là ảnh ông đang đi vào phòng xét xử của tòa án ở Concord, tay bị còng, mặt mày thất sắc, tóc tai bờm xờm, nét mặt nhăn nhúm dài thượt. Trong một ô tròn, là bức chân dung của Nola và Deborah Cooper. Tựa đề của bài báo là: HARRY QUEBERT ĐÃ LÀM GÌ?

Erne Pinkas đến sau tôi ít phút, bác đến ngồi vào bàn của tôi với cốc cà phê trên tay.

– Tối qua tôi thấy anh trên truyền hình. Anh đến đây ở à?

– Vâng, có thể.

– Để làm gì?

– Cháu không biết. Vì Harry.

– Ông ấy vô tội phải không? Tôi không thể tin được ông ấy lại làm một việc như vậy…Thật là điên rồ.

– Cháu không biết, bác Erne ạ.

Do tôi hỏi hên Pinkas kể cho tôi nghe làm thế nào mà trước đó vài ngày, cảnh sát đã đào được hài cốt của Nola tại Goose Cove dưới độ sâu một mét. Hôm thứ Năm, tất cả mọi người ở Aurora đều giật mình vì tiếng còi báo động của cảnh sát rú lên từ mọi ngả, hàng toán tuần tra đổ vào từ trục đường chính, rồi có cả những chiếc xe cảnh sát giả dạng xe thường dân, thậm chí có cả một chiếc xe tải của cảnh sát khoa học.

– Khi dân chúng nghe tin hoàn toàn có khả năng đây là bộ hài cốt của Nola Kellergan, Pinkas giải thích tiếp, ai cũng choáng váng. Không ai muốn tin điều này: ngay từ đầu, cô bé đã ở đó, trước mắt của chúng ta. Tôi đã đến nhà Harry không biết bao nhiêu lần, ngồi dưới mái hiên đó, uống một cốc whisky xứ Êcốt… Gần như ngay bên cạnh con bé Marcus, thử nói tôi xem, có phải ông ấy viết cuốn truyện đó cho Nola không? Tôi không thể tưởng tượng là họ lại có với nhau một chuyện như thế… Cậu có biết gì không, Marcus?

Để khỏi phải trả lời, tôi lấy thìa khuấy cà phê đến tận khi nó tạo thành một dòng xoáy trong cốc. Tôi chỉ nói:

– Chuyện rắc rối lắm, bác Erne ạ.

Ít phút sau, Travis Dawn, Cảnh sát trưởng ở Aurora, cũng là chồng của Jenny, đến ngồi vào bàn tôi. Travis Dawn là một trong những người tôi quen biết từ lâu ở Aurora: tính cách Travis nhẹ nhàng, tuổi tầm sáu mươi, tóc hoa râm, ông thuộc kiểu cảnh sát tốt bụng ở vùng quê mà từ lâu không còn làm cho ai sợ nữa.

– Tôi rất lấy làm tiếc, Marcus ạ, Travis vừa nói vừa chào tôi.

– Về việc gì ạ?

– Vì chuyện xảy ra giống như cú tát thẳng vào giữa mặt cậu. Tôi biết cậu rất thân và gần gũi với Harry. Chắc mọi chuyện không dễ dàng đối với cậu.

Travis là người đầu tiên lo lắng về cảm giác mà tôi cảm nhận. Tôi gật đầu và hỏi:

– Tại sao từ khi tôi hay đến đây, chưa bao giờ thấy ai nói gì về Nola Kellergan?

– Cho đến tận lúc hài cốt của Nola được đào lên ở Goose Cove, thì Chuyện Nola là chuyện cũ. Những kiểu chuyện như vậy không có ai muốn nhắc lại làm gì.

– Ông Travis, điều gì đã xảy ra vào ngày 30 tháng Tám năm 1975? Điều gì đã xảy ra với bà Deborah Cooper?

– Một vụ nguy hiểm, Marcus ạ. Rất nguy hiểm. Tôi là người chứng kiến trực tiếp chuyện này vì hôm đó, là ca trực của tôi. Hồi đó, tôi mới chỉ là nhân viên quèn. Chính tôi là người nhận điện thoại của ban chỉ huy trung tâm … Deborah Cooper là bà già nhỏ nhắn, phúc hậu, sống một mình trong ngôi nhà cô lập ở bìa rừng Side Creek kể từ khi chồng chết. Cậu biết Side Creek ở đâu không? Là nơi bắt đầu của cánh rừng bạt ngàn kia, chỉ sau Goose Cove có vài dặm. Tôi nhớ rất rõ mẹ Cooper: lúc đó, tôi mới làm cảnh sát, nhưng mẹ thường xuyên gọi tôi, nhất là vào ban đêm, thông báo cho tôi tất cả những tiếng động nghi vấn. Mẹ sợ vãi cả tiểu ra quần vì sống một mình trong căn lều ở bìa rừng nên cần có người thỉnh thoảng đến nhà cho yên tâm. Mỗi lần như vậy, mẹ Cooper đến xin lỗi nhân viên cảnh sát vì đã gây chuyện phiền hà đồng thời bao giờ cũng mời mọi người lại nhà ăn bánh ga tô và uống cà phê. Ngày hôm sau, thế nào mẹ Cooper cũng rẽ qua văn phòng cảnh sát và mang quà cho chúng tôi. Đúng là người mẹ già nhỏ bé tốt bụng vô cùng, bà thuộc tuýp người lúc nào chúng tôi cũng sẵn sàng giúp đỡ. Tóm lại là vào ngày 30 tháng Tám năm 1975, mẹ Cooper đã quay số điện thoại nóng của cảnh sát và báo có người đàn ông rượt đuổi một cô gái trong rừng. Tôi là nhân viên cảnh sát duy nhất ở Aurora làm nhiệm vụ tuần tiễu, ngay lập tức tôi đã có mặt. Đấy là lần đầu tiên mẹ Cooper gọi điện cho cảnh sát giữa ban ngày. Bà bảo tôi: “Travis, có khi anh nghĩ tôi điên, nhưng thật sự là tôi rất nghi”. Khi kiểm tra chỗ bìa rừng nơi mẹ Cooper bảo đã nhìn thấy cô gái: tôi nhặt được một mảnh vải màu đỏ. Ngay lập tức tôi nhận định sự việc nghiêm trọng nên đã báo ngay cho sếp Pratt, Cảnh sát trưởng của Aurora thời kì đó. Dù đang nghỉ phép, nhưng sếp Pratt tới ngay lập tức. Cánh rừng rộng mênh mông, chúng tôi không đông người đến mức có thể kiểm tra được cả khu rừng. Chúng tôi đi sâu vào trong rừng: được khoảng một dặm thì đã thấy nhiều vết máu, những lọn tóc vàng, và thêm mấy mảnh vải màu đỏ khác.

Chúng tôi không còn thời gian suy nghĩ vì đúng lúc đó, một tiếng súng nổ vang lên trong nhà Deborah Cooper… Chúng tôi vội vàng quay lại thì đã thấy mẹ Cooper nằm sóng soài giữa vũng máu trong nhà bếp. Sau đó, chúng tôi được biết bà lại vừa gọi về trụ sở cảnh sát để báo cô gái lúc trước chạy trong rừng giờ đã chạy vào nhà bà.

– Vậy là cô ấy chạy vào nhà bà Deborah để lẩn trốn kẻ tấn công?

– Đúng vậy. Trong khi chúng tôi ở trong rừng, cô ấy đã xuất hiện trở lại mong được cứu giúp. Nhưng khi chúng tôi đến, ngoài xác chết của bà Cooper, không còn có ai trong nhà. Mọi chuyện thật sự điên rồ.

– Thế cô ấy chính là Nola à?

– Đúng vậy, chúng tôi đã nhanh chóng nhận ra điều đó, mới đầu là vì bố của Nola gọi điện báo cảnh sát là con gái mất tích. Thêm nữa, chính mẹ Deborah Cooper cũng nhận diện được cô ấy khi bà gọi điện báo cảnh sát lần hai.

– Chuyện gì xảy ra tiếp theo?

– Sau cú điện thoại thứ hai của bà Cooper, nhiều toán cảnh sát địa phương đã lên đường. Khi tới bìa rừng Side Creek, một viên cảnh sát phát hiện ra chiếc Chevrolet Monte Carlo màu đen đào tẩu theo hướng Bắc. Chúng tôi liền rượt theo, nhưng chiếc xe đã tẩu thoát sau khi vượt qua bờ đập. Mấy tuần tiếp theo, chúng tôi chỉ tập trung tìm Nola: chúng tôi xới tung cả vùng lên. Ai mà ngờ được cô ấy nằm ngay tại Goose Cove, chính trong dinh thự của Harry Quebert? Mọi dấu hiện đều cho thấy nạn nhân phải nằm đâu đó trong rừng nên chúng tôi lùng sục khắp trong đó, cậu biết không, cánh rừng ấy kéo dài đến tận Vermont cơ đấy! Chúng tôi không bao giờ tìm ra chiếc xe kia, cũng không bao giờ tìm ra Nola. Nếu có thể, chúng tôi sẵn sàng xới tung cả đất nước này lên để tìm. Nhưng chúng tôi vô cùng thất vọng vì sau đó ba tuần, theo quyết định của các viên chức cảnh sát bang, mọi tìm kiếm đều phải chấm dứt vì chi phí quá đắt, trong khi kết quả tìm kiếm lại hoàn toàn mông lung.

– Hồi đó cảnh sát có nghi vấn ai không?

Travis do dự một lúc rồi nói với tôi:

– Chính thức thì không nghi ngờ ai, nhưng… có Harry, chúng tôi có lí do riêng. Ý tôi là ba tháng sau khi ông ta đến Aurora, con gái nhà Kellergan bị mất tích. Một sự trùng hợp quá kì quái đúng không? Nhất là cứ xem ông ta đi xe hơi nào vào thời kì đó? Cũng là một chiếc Chevrolet Monte Carlo màu đen. Nhưng không đủ bằng chứng để buộc tội ông ấy. Rốt cuộc, bản thảo này chính là bằng chứng mà chúng tôi đã tìm kiếm cách đây ba mươi ba năm.

– Tôi không tin là như vậy, không tin là Harry gây ra chuyện đó. Hơn nữa, tại sao Harry lại để một bằng chứng quả hiển nhiên chống lại ông ta ngay bên cạnh xác chết như vậy? Rồi tại sao Harry lại cho cả đội làm vườn đào bới đúng chỗ chôn xác chết? Không hợp lí tí nào cả.

Travis nhún vai:

– Cậu nên tin vào kinh nghiệm cảnh sát của tôi: ta không bao giờ lường được người loại này dám làm những gì đâu. Nhất là những người mà mình cứ tin rằng đã hiểu họ quá rõ.

Nói xong, ông ta đứng dậy và lễ độ chào: “Nếu cậu nghĩ tôi có thể làm bất kì việc gì cho cậu thì đừng ngại nhé, cứ gọi tôi”. Nói xong ông ta bỏ đi. Pinkas ngồi im, vẻ mặt ngây thộn, lắng nghe toàn bộ cuộc nói chuyện mà không xen vào lần nào, giờ mới buông lời: “Vậy đấy… Chưa bao giờ tôi biết cảnh sát lại nghi ngờ Harry… ”. Tôi không trả lời, chỉ lẳng lặng xé trang đầu của tờ báo cầm theo và vì vẫn còn sớm nên tôi đến Concord.

* * *

Nhà tù dành cho tù nhân nam của bang New Hampshire nằm tại số 281 phố North State Street, về phía bắc thành phố Concord. Từ Aurora, chỉ cần ra khỏi đường chính 93 sau trung tâm thương mại Capitol, theo phố North Street qua nhà nghỉ Holiday Inn và đi thẳng tiếp thêm khoảng mười phút. Sau khi đi qua khu nghĩa trang Blosson Hill và một cái hồ nhỏ hình móng ngựa kế bên con sông, những hàng rào sắt và dây thép gai khiến không có ai có thể nhầm lẫn hay nghi ngờ gì về địa điểm này, tôi bèn đi thẳng tới, sau đó một chút, có biển đề chính thức nhà tù, phía sau là những tòa nhà cũ kĩ bằng gạch đỏ có tường dày bao xung quanh, tiếp đến là lối vào chính bằng cửa sắt. Ngay đối diện, phía bên kia đường, là cửa hàng buôn bán xe ô tô.

Roth đợi tôi ở bãi đỗ xe, hút một điều xì gà rẻ tiền, trông có vẻ điềm tĩnh. Anh ta vỗ vai chào tôi cứ như là giữa những người bạn thân thiết.

– Lần đầu tiên vào nhà tù à? ta hỏi tôi.

– Vâng.

– Hãy cố gắng điềm tĩnh.

– Ai nói với anh rằng tôi không điềm tĩnh?

Anh ta nhìn tốp nhà báo đúng đợi lấy tin và nói:

– Họ có mặt khắp nơi. Nhớ là không bao giờ trả lời khi họ nài nỉ nhé. Họ là lũ ăn xác thối, Goldman ạ. Họ sẽ tấn công cho đến tận khi anh phải nhả ra một vài thông tin ngon lành mới thôi. Anh phải tỏ ra vững chắc và giữ im lặng. Chỉ cần anh đề cập chút thông tin rồi không được diễn dịch lại chính xác thì nó sẽ có tác dụng phản lại chúng ta và sẽ làm cho chiến lược bảo vệ của tôi gặp khó khăn.

– Chiến lược bảo vệ của anh là gì?

Roth nhìn tôi với vẻ rất nghiêm túc.

– Phủ nhận toàn bộ.

– Phủ nhận toàn bộ? Tôi lặp lại.

– Toàn bộ. Cả mối quan hệ giữa hai người, cả việc bắt cóc, cả hai vụ giết người. Chúng ta sẽ bào chữa cho ông ấy hoàn toàn vô tội, tôi sẽ rửa tội cho Harry và tôi tính sẽ đòi bồi thường hàng triệu đô la từ phía nhà nước New Hampshire.

– Anh làm thế nào với tập bản thảo mà cảnh sát đã tìm thấy chôn cạnh xác chết? Thế còn những lời thú tội của Harry liên quan đến Nola thì sao?

– Bản thảo không chứng tỏ điều gì hết. Viết truyện không thể giết hại bất kì ai cả. Hơn nữa, Harry cũng đã nói và ông ấy có lí: trước khi biến mất, Nola đã mang theo bản thảo đi. Còn về tí chút quan hệ tình cảm của họ ư, ừ thì cứ cho là có say mê nhau đi. Nhưng điều đó không có gì độc ác cả. Chẳng có gì là phạm pháp. Rồi anh sẽ thấy, tòa sẽ không thể chứng minh được gì.

– Tôi đã nói chuyện với Travis Dawn, Cảnh sát trưởng ở Aurora, ông ta nói rằng hồi đó người ta đã từng nghi Harry là thủ phạm.

– Mẹ kiếp, nhảm nhí!

Roth dễ dàng trở nên thô tục khi không vừa ý.

– Rõ ràng lúc đó nghi phạm lái chiếc xe Chevrolet Monte Carlo màu đen. Travis bảo đó cũng chính là loại xe Harry sở hữu lúc ấy.

– Mẹ kiếp, quá vớ vẩn! Roth nói tiếp. Nhưng nắm được thông tin này rất có ích. Anh làm việc tốt đấy, Goldman ạ, đây chính là kiểu tin tôi cần biết. Hơn nữa, anh biết lũ người nhà quê sống ở Aurora, nhờ anh thỉnh thoảng hỏi han họ để nắm rõ khi được gọi ra làm nhân chứng trong quá trình xét xử thì họ sẽ dùng mớ lá cải nào nhé. Cố gắng tìm hiểu xem thằng nào nghiện rượu và hay đánh vợ: một nhân chứng nghiện rượu hoặc đánh vợ sẽ không được coi là nhân chứng đáng tin cậy.

– Ôi trời, mánh khóe này bẩn thỉu quá

– Chiến tranh là chiến tranh, anh Goldman ạ. Bush từng nói dối cả quốc gia khi tấn công Irac, nhưng việc đó là cần thiết: hãy nhìn xem, chúng ta đã đã đít Sadda, giải phóng cho người Irac, rồi sau đó cả thế giới khỏe khoắn hẳn lên.

– Phần lớn người Mỹ phản đối cuộc chiến tranh này. Đó là một thảm họa.

Ông ta có vẻ thất vọng:

– Ồ, không, tôi chắc chắn đấy… ông ta nói.

– Chắc chắn gì?

– Anh sẽ bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ à Goldman?

– Tất nhiên là tôi bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ rồi.

– Anh sẽ thấy, họ sẽ đánh một mức thuế cao chót vót cho những tay đại gia như anh ý. Lúc đó, có khóc lóc cũng quá muộn rồi. Để lãnh đạo được toàn bộ nước Mỹ, cần phải có bộ bìu. Mà bìu voi thì vừa to vừa dài hơn bìu lừa, thế thôi, nó là di truyền rồi.

– Ông thật là người có tinh thần cao độ đấy, Roth ạ. Dù sao đi chăng nữa thì Đảng Dân chủ đã thắng trong cuộc tranh cử tổng thống. Cuộc chiến tranh quá tuyệt hảo của ông cũng không thay đổi được thế cân bằng vì có quá nhiều người căm ghét nó.

Ông ta nở một nụ cười mỉa mai, gần như tỏ ý khó tin:

– Thôi, đừng có nói với tôi là anh tin như thế đấy nhé! Một phụ nữ và một tay Da Đen, hay hớm quá Goldman! Một phụ nữ và một tay Da Đen! Nào nào, anh là chàng trai thông minh, hãy nghiêm túc một chút: có ai lại hầu phụ nữ và người Da Đen đứng đầu nước bao giờ không? Hãy viết tiểu thuyết về chuyện đó. Một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng quá đẹp. Cuốn sách tới sẽ viết về chuyện gì? Chuyện phụ nữ đồng tính của đảo Portorico hay là về thủ lĩnh da đỏ?

Theo yêu cầu của tôi, sau những nghi thức thông thường, Roth để cho tôi được gặp riêng Harry giây lát trong phòng đợi. Harry ngồi bên chiếc bàn nhựa, mặc trang phục tù nhân, vẻ mặt của kẻ thất trận. Lúc tôi bước vào phòng, khuôn mặt ông rạng rỡ hẳn lên. Ông đứng dậy, chúng tôi ôm nhau và tựa vào nhau hồi lâu, rồi mỗi người ngồi vào một ghế cạnh bàn, câm lặng. Rốt cuộc, ông nói với tôi:

– Tôi sợ, Marcus ạ.

– Chúng em sẽ kéo thầy ra khỏi vụ này, thầy Harry.

– Tôi có xem tivi, anh biết đấy. Tôi thấy hết mọi điều người ta đang bàn luận. Tôi thế là xong. Sự nghiệp cũng kết thúc. Cuộc đời của tôi vậy là chấm hết. Chuyện này đánh dấu điểm bắt đầu suy tàn trong đời tôi: tôi nghĩ mình đang rơi!

– Không bao giờ phải sợ, thầy Harry ạ.

Ông mỉm cười buồn bã.

– Cảm ơn anh đã đến đây.

– Đó là điều bạn bè với nhau phải làm. Em đến Goose Cove ở, nuôi bọn mòng biển.

– Anh biết đấy, nếu anh muốn về New York, thì tôi rất hiểu.

– Em chẳng đi đâu cả. Roth đúng là chú chim buồn cười nhưng có vẻ anh ta biết việc phải làm: Roth bảo thầy sẽ được minh oan. Em ở lại đây để giúp thầy. Em sẽ làm mọi việc để tìm ra sự thật và lấy lại danh dự cho thầy.

– Thế còn cuốn sách mới của anh thì sao? Nhà xuất bản của anh đợi nó cuối tháng này phải không?

Tôi cúi đầu:

– Không có cuốn sách nào cả. Em không còn ý tưởng gì nữa.

– Không còn ý tưởng nữa nghĩa là thế nào?

Tôi không trả lời và chuyển hướng câu chuyện, rút trang báo mà trước đó mấy tiếng, tôi đã xé mang đi từ tiệm Clark’s.

– Thầy Harry, tôi nói, em cần phải biết thêm. Em cần phải biết sự thật. Lúc nào em cũng nghĩ đến cú điện thoại thầy gọi em hôm trước. Lúc đó thầy bảo, thầy không biết đã làm gì Nola.

– Lúc đó tôi đang quá xúc động, Marcus ạ. Tôi vừa bị cảnh sát bắt và được quyền gọi một cuộc điện thoại trước khi vào phòng giam. Người duy nhất tôi muốn báo tin, đó là anh. Không phải là báo cho anh biết tôi bị bắt, mà báo cho anh biết Nola đã chết. Vì anh là người duy nhất biết chuyện Nola và tôi cần phải chia sẻ nỗi buồn của mình với ai đó. Trong suốt những năm qua, tôi vẫn cứ hi vọng cô ấy còn sống ở đâu đó. Nhưng cô ấy đã chết ngay từ đầu … Cô ấy đã chết và vì rất nhiều lí do khác nhau, tôi cảm thấy mình có lỗi. Có lỗi, có thể là vì không biết cách bảo vệ cô ấy. Nhưng không đời nào tôi lại giết cô ấy, tôi thề rằng mình hoàn toàn vô tội trước những cáo buộc của thiên hạ hiện nay.

– Em tin thầy. Thầy đã nói gì với cảnh sát rồi?

– Nói sự thật. Sự thật là tôi vô tội. Tại sao tôi lại gọi người tới trồng hoa vào đúng chỗ đó, phải không nào? Đó là việc hoàn toàn phi lí! Tôi cũng nói với họ rằng tôi không biết tại sao tập bản thảo lại nằm ngay đấy, nhưng họ phải biết là tôi viết cuốn tiểu thuyết đó về Nola, cho Nola trước khi cô ấy mất tích. Nola và tôi yêu nhau. Chúng tôi sống cùng nhau một mùa hè ngay trước khi cô ấy mất tích và nhờ đó tôi mới viết được cuốn sách mà tôi có quyền sở hữu. Lúc đó tôi có hai bản thảo: một bản gốc viết tay và một bản đánh máy. Nola rất quan tâm tới những gì tôi viết, thậm chí cô ấy còn giúp tôi viết lại cho sạch sẽ rõ ràng. Thế rồi một hôm, tôi không thấy bản đánh máy nữa. Lúc đó là cuối tháng Tám, trước khi Nola mất tích … Tôi cho rằng Nola đã cầm theo để đọc, đôi khi cô ấy vẫn làm vậy mà. Cô ấy đọc các trang bản thảo rồi thỉnh thoảng đưa ra lời khuyên. Cô ấy cầm đi mà không hỏi ý tôi…Nhưng lần này, tôi không thể hỏi được có phải cô ấy đã cầm một tập bản thảo hay không, vì sau đó, cô ấy mất tích. Tôi chỉ còn cầm bản viết tay. Đó chính là cuốn Nguồn gốc cái xấu xa, cuốn tiểu thuyết thành công mà mấy tháng sau anh đã biết.

– Vậy thực sự thầy viết cuốn đó cho Nola à?

– Đúng vậy, tôi nghe thấy trên vô tuyến người ta nói cuốn sách sắp bị cấm lưu hành.

– Nhưng chuyện gì đã xảy ra giữa thầy và Nola?

– Chuyện tình cảm, Marcus ạ. Tôi yêu cô ấy như điên. Tôi nghĩ tôi đã mất hết.

– Thế ngoài ra, cảnh sát có còn bằng chứng gì chống lại thấy nữa không?

– Tôi không biết.

– Thế còn cái hộp? Cái hộp đựng thư với ảnh? Em không thấy ở nhà thấy nữa.

Harry không có đủ thời gian để trả lời: của phòng mở ra, ông liền ra hiệu cho tôi im lặng. Roth bước vào, đi đến bên bàn, đứng cạnh chúng tôi. Khi anh ta ngồi xuống, Harry kín đáo lấy quyển sổ trước mặt tôi, viết vào đó những chữ gì mà tôi không đọc ngay được lúc đó.

Roth bắt đầu diễn giải dài dòng về quá trình diễn biến sự việc. Sau khoảng nửa tiếng độc thoại, anh ta hỏi Harry:

– Có chi tiết nào ông quên chưa kể cho tôi nghe về Nola không? Tôi phải biết mọi chuyện, điều đó rất quan trọng.

Yên lặng một lúc, rồi Harry nhìn chăm chăm chúng tôi hồi lâu và nói:

– Đúng là có một điều anh cần phải biết. Đó là vào ngày 30 tháng Tám năm 1975. Tối hôm đó, cái tối định mệnh hôm Nola biến mất, nhẽ ra cô ấy phải đến gặp tôi.

Gặp ông? Roth hỏi lại.

– Cảnh sát hỏi tôi đã làm gì vào tối ngày 30 tháng Tám năm 1975, tôi trả lời lúc đó tôi không có mặt trong thành phố. Nhưng tôi đã nói dối. Đó là điều duy nhất tôi nói dối. Đêm đó, tôi ở gần Aurora, trong phòng nhà nghỉ trên đường 1, theo hướng đi Vermont. Nhà nghỉ Sea Side. Hiện tại nhà nghỉ này vẫn còn ở đó. Tôi ở phòng số 8, ngồi trên giường chờ đợi, người thơm phức mùi nước hoa như một thiếu niên, trên tay là bó cẩm tú cầu xanh lơ, đó là loại hoa mà Nola rất thích. Chúng tôi hẹn gặp nhau lúc 19 giờ, nhưng tôi đợi mãi mà cô ấy không tới. Lúc 21 giờ, nghĩa là đã trễ hẹn hai tiếng, mà Nola là người không bao giờ trễ hẹn, không bao giờ, tôi đặt những bông cẩm tú cầu vào bồn rửa rồi bật đài nghe cho khuây khỏa. Đêm đó là một đêm nặng nề, trời nổi giông bão, vô cùng nóng nực, tôi thấy ngột ngạt trong bộ com lê. Tôi rút mảnh giấy trong túi ra, đọc đi đọc lại hàng chục lần, có lẽ đến cả trăm lần. Mảnh giấy Nola viết cho tôi mấy hôm trước đó, những con chữ xinh xắn ngập tràn yêu thương mà tôi sẽ không bao giờ có thể quên, bảo tôi rằng:

Xin anh đừng lo lắng Harry, đừng lo lắng vì em, em sẽ tự tìm cách để gặp anh ở đấy. Hãy đợi em ở phòng số 8, em rất thích con số này, nó là số em thích nhất. Hãy đợi em trong phòng lúc 19 giờ. Sau đó chúng ta sẽ ra đi cùng nhau, sẽ bên nhau mãi mãi. Yêu anh thật nhiều, người yêu dấu của em.

Nola.

“Tôi nhớ lúc đó trên đài người ta thông báo bây giờ là 22 giờ. 22 giờ mà Nola vẫn chưa đến. Thế rồi tôi ngủ thiếp đi, mặc nguyên cả quần áo nằm trên giường. Khi tôi mở mắt ra thì trời đã sáng. Đài vẫn tiếp tục nói, đó là bản tin thời sự 7 giờ sáng:…tổng báo động trên toàn bộ thành phố Aurora sau vụ một thiếu nữ mười lăm tuổi, tên là Nola Kellergan, mất tích tối hôm qua, vào khoảng 19 giờ. Cảnh sát tìm tất cả những người có thể cung cấp thông tin […] Vào lúc biến mất, Nola Kellergan mặc váy đỏ […]. Tôi hoảng sợ, đứng bật dậy. Tôi vội vàng vứt bó hoa rồi quay trở lại thành phố Aurora, quần áo xộc xệch, tóc tai bù xù. Tôi đã thanh toán tiền phòng từ hôm trước.

“Chưa bao giờ tôi thấy ở Aurora có nhiều cảnh sát đến vậy. Xe cảnh sát đến từ mọi miền. Trên đường 1, có thanh chắn lớn chắn ngang để kiểm tra tất cả xe ô tô ra vào thành phố. Tôi gặp Cảnh sát trưởng Gareth Pratt, súng lăm lăm trong tay:

– Thưa đội trưởng, tôi vừa nghe trên đài, tôi nói.

– Thật là rác rưởi, bẩn thỉu, ông ta đáp.

– Chuyện gì xảy ra vậy?

– Không ai biết gì cả: Nola Kellergan đã biến mất khỏi nhà. Người ta thấy cô bé ở đường Side Creek tối hôm qua rồi từ đó không còn dấu vết gì nữa. Toàn vùng đã bị chặn chốt, cả cánh rừng đã được bới tung lên để tìm kiếm, nhưng vẫn chưa thấy Nola.

“Trên đài, người ta miêu tả tóm tắt về cô ấy như thế này: thiếu nữ, da trắng, cao 1m69, nặng 50kg, tóc vàng dài, mắt xanh, mặc váy đỏ, đeo dây chuyền vàng khắc tên Nola. Váy đỏ, váy đỏ, váy đỏ. Đó là chiếc váy cô ấy thích nhất. Cô ấy mặc chiếc váy đó là vì tôi. Vậy đấy. Đêm 30 tháng Tám năm 1975, tôi đã làm những việc như vậy đấy!

Roth và tôi sững sờ.

– Hai người phải chạy trốn với nhau à? Tôi hỏi. Đúng vào cái ngày cô ấy biến mất, thầy và cô ấy phải chạy trốn với nhau à?

– Đúng vậy.

– Chính vì vậy mà khi gọi điện thoại cho em hôm trước, thầy bảo là do lỗi của thầy phải không? Hai người hẹn nhau nhưng cô ấy không đến và bị mất tích trên đường đến chỗ hẹn …

Ông gật đầu buồn bã:

– Tôi nghĩ rằng, nếu không có cuộc hẹn đó, có thể cô ấy còn sống…

Khi chúng tôi bước ra khỏi phòng, Roth bảo tôi âm mưu chạy trốn của Harry và Nola là thảm họa cần phải giấu nhẹm đi bằng mọi giá. Nếu thẩm phán mà biết được thì Harry hết đời. Chúng tôi chia tay nhau ở bãi đỗ xe. Đợi đến khi ngồi hẳn vào trong xe riêng, tôi mới mở cuốn sổ ra đọc những chữ thầy Harry vừa viết ban nãy:

Marcus-trên bàn thầy, có chiếc bình gốm. Dưới đáy bình, có một chìa khóa. Đó là chìa khóa ô tủ đựng đồ tập của thầy, ô tủ số 201 ở trung tâm thể dục Montburry. Tất cả trong đó. Hãy đốt hết đi. Thầy đang gặp nguy hiểm.

Montburry là thành phố láng giềng của Aurora, nằm sâu hơn chục dặm về phía đất liền. Buổi chiều cùng ngày, sau khi qua Goose Cove để ghé về nhà tìm chìa khóa lẫn giữa đống ghim giấy trong chiếc bình gốm, tôi đi luôn Montburry. Tại đây chỉ có đúng duy nhất một phòng tập, nằm trong tòa nhà hiện đại hoàn toàn bằng kính trên trục đường chính.

Khu tủ để đồ không bóng người, tôi thấy ngăn tủ số 201, tra chìa khóa vào thì vừa khít. Bên trong, có một bộ quần áo kéo khóa, một hộp đường nhỏ, một đôi găng đấm bốc và chiếc hộp gỗ trứ danh mà tôi phát hiện trước đó mấy tháng trong phòng làm việc tại nhà Harry. Mọi thứ trong đó còn nguyên: những tấm ảnh, những bài báo và tin nhắn chính tay Nola viết. Tôi còn thấy một tập giấy ghim lại với nhau đã ngả vàng. Trang bìa hoàn toàn trắng, không có tựa đề. Tôi xem lướt qua những trang tiếp theo: những trang viết tay mà chỉ cần đọc những dòng đầu tiên, tôi cũng thừa hiểu đây là bản thảo của Nguồn gốc cái xấu xa. Tập bản thảo nằm ngủ yên giữa tủ quần áo của trung tâm thể dục thẩm mĩ này chính là tập bản thảo tôi đã ra sức tìm kiếm trước đó mấy tháng. Tôi ngồi xuống ghế dài giở xem các trang giấy, run người vì thán phục: những hàng chữ viết hoàn hảo, không hề tẩy xóa. Tôi say sưa tới mức không nhận thấy một số người đang bước vào thay quần áo.

Tôi không tài nào rời mắt khỏi những trang viết. Tuyệt tác mà tôi hằng ao ước viết được là đây, Harry đã làm được điều đó. Ông ngồi trong một tiệm ăn mà viết nên tuyệt tác với các câu chữ tinh túy khiến toàn nước Mỹ phải cảm động và cất giấu bên trong đó một cách vô cùng cẩn trọng và tài tình câu chuyện tình của mình với Nola Kellergan.

Khi về tới Goose Cove, tôi làm theo lời Harry một cách thận trọng. Tôi đốt lửa trong lò ở phòng khách rồi ném toàn bộ mọi thứ đựng trong chiếc hộp gỗ vào đó: bức thư, những chiếc ảnh, những bài báo được cắt ra từ tạp chí và cuối cùng là tập bản thảo viết tay. Thầy đang gặp nguy hiểm, Harry đã viết cho tôi như vậy. Nhưng không biết ông muốn nói đến nguy hiểm nào? Ngọn lửa bùng lên dữ dội: bức thư của Nola chỉ còn là đóng tro tàn, các bức ảnh cũng trở thành tro rồi hoàn toàn biến mất dưới tác động của hơi nóng. Tập bản thảo chất đống hóa thành ngọn lửa lớn màu cam, rồi những trang giấy tách rời nhau nhanh chóng thành tro tàn. Ngồi trước ống khói, tôi chứng kiến câu chuyện tình của Harry và Nola đang dần biến mất.

Thứ Ba ngày 3 tháng Sáu năm 1975

Hôm đó thời tiết rất xấu. Buổi chiều dần tàn trên bãi biển vắng tanh. Kể từ khi anh tới Aurora, chưa bao giờ bầu trời đen tối và hung dữ đến vậy. Đại dương gầm thét sùi bọt thịnh nộ: chắc trời sắp mưa to. Chính thời tiết xấu khiến anh có hứng ra khỏi nhà: anh bước đi trên con đường gỗ nối liền giữa sân nhà với bãi biển rồi ngồi xuống bãi cát. Quyển sổ đặt trên đầu gối, chiếc bút lăn trên trang giấy: cơn bão sắp đến gợi cho anh cảm hứng, anh đang hình thành ý tưởng cho một cuốn tiểu thuyết lớn. Trong những tuần gần đây, anh có rất nhiều ý tưởng hay cho cuốn tiểu tuyết mới, nhưng chúng vẫn còn rất lộn xộn: bắt đầu không dở nhưng anh lại kết thúc thật dở.

Từ trên cao, những giọt mưa đầu tiên rơi xuống. Mới đầu là từng giọt một, rồi bỗng dưng ào ào như trút. Anh muốn chạy đi tìm nơi trú ẩn nhưng đúng lúc đó anh thấy nàng đi tới với đôi chân trần, tay cầm xăng đan, bên bờ đại dương, nàng vừa nhảy nhót dưới mưa vừa đùa nghịch với những con sóng. Anh đứng như trời trồng ngạc nhiên và say sưa chiêm ngưỡng: nàng chạy dọc theo nét vẽ của những con sóng để lại trên cát, vừa thận trọng không để cho ướt tà váy. Một giây xao nhãng, nước dâng lên đến tận mắt cá, nàng ngạc nhiên phá lên cười.

Nàng tiến sâu thêm về phía đại dương xám, quay tròn mấy vòng rồi tiếp tục chạy ra phía đại dương mênh mông. Cứ như thể cả thế giới thuộc về nàng. Chiếc bờm tóc màu vàng đính hoa cài giữa suối tóc vàng đang bị gió thổi tung ngăn không cho những lọn tóc đập vào khuôn mặt nàng. Bây giờ trời đã mưa như trút nước. Khi phát hiện anh đứng cách khoảng chục mét, nàng sững người lại. Cảm thấy ngại ngùng vì có người nhìn, nàng kêu lên:

– Xin lỗi… em không biết có ông ở đây.

Anh thấy trái tim đập rộn ràng.

– Đừng, không cần phải xin lỗi, anh trả lời. Cứ tiếp tục đi, cứ tiếp tục đi. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một người yêu mưa đến vậy.

Khuôn mặt nàng rạng rỡ.

– Ông cũng thích mưa à? Nàng hỏi vẻ say mê.

– Thích gì cơ?

– Mưa.

– Không… Tôi… thực ra tôi rất ghét.

Nàng nở nụ cười thiên thần.

– Làm sao lại có thể ghét mưa được nhỉ? Em chưa bao giờ thấy điều gì đẹp như thế! Hãy nhìn này! Nhìn này.

Anh ngẩng đầu lên: mưa đọng thành giọt trên mặt. Hàng triệu những đường mưa dài đang vạch ra trên không, anh quay một vòng. Nàng cũng làm như vậy. Họ cười, người ướt sủng. Cuối cùng họ đi trú mưa dưới lan can phía tiền sảnh của ngôi nhà. Anh rút một bao thuốc lá từ trong túi ra, cơn mưa chưa kịp làm ướt toàn bộ. Anh châm một điếu.

– Em có thể xin một điếu được không? Cô gái hỏi.

Anh chìa cho nàng bao thuốc lá, nàng rút một điếu. Anh đã hoàn toàn bị chinh phục.

– Có phải ông là nhà văn không? nàng hỏi.

– Vâng.

– Ông đến từ New York à?

– Vâng.

– Em muốn hỏi ông một câu: Tại sao ông lại bỏ New York để đến sống ở nơi xa xôi hẻo lánh này?

Anh cười:

– Tôi muốn thay đổi không khí.

– Em tha thiết mong muốn được đi thăm New York! Nàng nói. Em sẽ đi bộ hàng giờ liền, em sẽ xem tất cả các buổi diễn ở Broadway. Có thể em sẽ trở thành một ngôi sao. Một ngôi sao ở New York…

– Tôi xin lỗi, Harry ngắt lời, nhưng chúng ta có quen nhau không nhỉ?

Nàng lại cười, vẫn là nụ cười tuyệt diệu ấy.

– Không, nhưng ai mà chả biết ông cơ chứ. Ông là nhà văn. Chào mừng ông tới Aurora. Em tên là Nola. Nola Kellergan.

– Tôi tên là Harry Quebert.

– Em biết rồi. Ai cũng biết ông hết. Em đã nói với ông rồi mà.

Anh giơ tay ra định bắt tay chào, nhưng nàng lại tựa lên cánh tay anh, nhón chân kiểng lên hôn vào má anh.

– Em phải đi đây. Ông không được nói là em hút thuốc nhé!

– Không, tôi hứa.

– Tạm biệt nhà văn. Hi vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau.

Nói rồi cô gái biến mất sau làn mưa dày đặc.

Anh hoàn toàn bị khuấy động. Nàng là ai? Tim đập rộn ràng, xốn xang, anh cứ đứng bất động như vậy dưới mái hiên, đến tận khi bóng đêm tràn xuống. Anh không còn cảm thấy trời mưa, cũng không cảm thấy trời tối. Anh băn khoăn tự hỏi không biết nàng bao nhiêu tuổi. Nàng còn quá trẻ, anh biết điều đó. Nhưng anh đã hoàn toàn bị chinh phục mất rồi. Tâm hồn anh đã bị nàng thắp lửa.

* * *

Cú điện thoại của Douglas đã kéo tôi về với thực tế. Hai tiếng đồng hồ đã trôi qua, màn đêm bao trùm lên tất cả. Trong lò sưởi, chỉ còn lại những tro tàn.

– Ai cũng nói đến cậu, Douglas nói. Không ai hiểu cậu đến bang New Hampshire làm gì… Ai cũng bảo cậu đang làm điều ngu dại nhất trong đời cậu.

– Ai cũng biết Harry và mình là bạn bè, mình không thể khoanh tay đứng nhìn!

– Nhưng chuyện này là chuyện khác, Marc ạ. Đây là vụ giết người. Tớ nghĩ cậu không ý thức hết được tính nghiêm trọng của vụ xì căng đan này. Barnaski đang lồng lộn lên, hắn đang nghĩ cậu sẽ chẳng có sách siếc gì mang về nộp cho hắn. Hắn bảo cậu đang chết dẫm ở bang New Hampshire. Rõ là hắn chẳng sai… Hôm nay là ngày 17 tháng Sáu rồi, Marc ạ. Mười sáu ngày nữa là hết hạn nộp sách cho hắn. Mười sáu ngày nữa là cậu thôi đời.

– Mẹ kiếp, thế cậu nghĩ là mình không biết à? Cậu còn phải gọi mình vì chuyện đó à? Để báo cho mình biết tình trạng của chính bản thân mình là thế nào à?

– Không, tớ gọi cậu vì tớ nghĩ tớ có ý tưởng này hay.

– Ý tưởng à? Nói nghe xem nào!

– Hãy viết truyện về vụ Harry Quebert.

– Cái gì? Không, không bao giờ có chuyện ấy, mình không thể giẫm lên lưng Harry mà phất cờ!

– Tại sao lại là giẫm lên lưng? Cậu nói với tớ là cậu muốn đến bảo vệ ông ta. Hãy chứng minh là ông ta vô tội, hãy chứng minh bằng một cuốn sách. Cậu có tưởng tượng được thành công sẽ như thế nào không?

– Làm tất cả những việc như thế trong vòng mười ngày á?

– Tớ đã nói vậy với Barnaski để trấn tĩnh hắn…

– Cái gì? Cậu đã…

– Trước khi cậu nổi giận, hãy bình tĩnh nghe tớ nói đã, Marc. Barnaski cho rằng đây là thời cơ vàng! Ông ta bảo Marcus Goldman kể chuyện Harry Quebert sẽ là thương vụ có doanh số bạc tỉ! Cuốn sách hoàn toàn có thể sẽ là cuốn sách của năm. Ông ta đã sẵn sàng thương lượng lại hợp đồng với cậu. Ông ta đề nghị sẽ làm lại từ đầu: cậu sẽ kí hợp đồng mới với ông ta, hủy hợp đồng cũ, hơn nữa, cậu sẽ có thêm khoản ứng trước là nửa triệu đô. Cậu có biết như vậy nghĩa là gì không?

– Có nghĩa là cuốn sách này sẽ chắp cánh lại cho sự nghiệp của tôi.

– Đảm bảo sẽ là cuốn sách bán chạy nhất, một thành công chắc chắn và một núi tiền trong tay.

– Tại sao Barnaski lại làm vậy vì mình?

– Ông ta không làm như vậy vì cậu, mà vì chính ông ấy. Marc ơi, cậu không tính hết được đâu, bây giờ, ai ai cũng nói đến chuyện này. Đây sẽ là thương vụ thế kỉ!

– Mình nghĩ mình không đủ khả năng. Mình không còn biết phải viết như thế nào nữa. Thậm chí mình còn nghĩ không biết có khi nào mình lại có thể viết được lần nữa hay không. Còn việc điều tra… thì đã có cảnh sát lo. Mình chả biết điều tra thế nào…

Douglas tiếp tục năn nỉ:

– Marc, đấy là cơ hội cả đời có một đấy.

– Mình sẽ suy nghĩ thêm về chuyện này. - Khi cậu nói suy nghĩ nghĩa là cậu sẽ không bao giờ suy nghĩ đâu…

Câu nói này khiến cả hai chúng tôi phá lên cười: bạn tôi hiểu tôi quá rõ.

– Doug này, liệu người ta có thể phải lòng một bé gái mười lăm tuổi được không?

– Không.

– Sao cậu lại chắc chắn thế?

– Ôi tớ chả chắc chắn cái gì cả.

– Thế tình yêu là gì?

– Ôi, Marc, làm ơn thương hại tớ đi, đừng có giở triết lí ra lúc này…

– Nhưng, Douglas này, ông ấy đã yêu một bé gái mười lăm tuổi đấy. Hôm nay, trong nhà tù, ông ấy đã kể cho mình nghe: ông ấy ngồi trên bãi biển, nhìn thấy bé gái ấy ở phía trước và ngay lập tức đã phải lòng.

– Tại sao lại chính là cô ấy mà không phải là người khác?

– Tớ không biết, Marc ạ. Nhưng tớ rất tò mò muốn biết điều gì đã ràng buộc cậu với cái tay Quebert đến mức đó.

– Siêu Nhân, tôi trả lời.

– Ai?

– Siêu Nhân hay một thanh niên không có khả năng vươn lên trong cuộc sống. Cho đến tận khi hắn gặp Harry. Chính Harry là người đã dạy mình trở thành nhà văn. Cũng chính Harry dạy cho mình tầm quan trọng của việc biết cách ngã.

– Cậu đang huyên thuyên cái gì thế Marc? Cậu say rượu à? Tớ chả hiểu gì cả. Cậu là nhà văn vì cậu có năng khiếu.

– Không, hoàn toàn sai. Không ai sinh ra là nhà văn cả. Mà người ta phải có quá trình trở thành nhà văn.

– Thế điều đó đã xảy ra ở Burrows năm 1998 à?

– Đúng vậy. Harry đã truyền cho mình mọi hiểu biết… Mình nợ ông ấy tất cả.

– Cậu có thể kể cho tớ nghe không?

– Được chứ!

Tối hôm đó, tôi đã kể cho Douglas nghe câu chuyện gắn liền tôi với Harry. Sau cuộc nói chuyện, tôi đi xuống bãi biển. Tôi cần được hít thở không khí. Xuyên qua bóng đêm, tôi lờ mờ nhìn thấy một tảng mây dày trôi nặng nề, một cơn giông sắp sửa kéo đến. Bất chợt gió nổi lên: cây cối điên cuồng chao đảo, cứ như thể cả vũ trụ đang tiên liệu về cái kết của nhà văn thiên tài Harry Quebert.

Mãi thật khuya tôi mới quay vào nhà. Ngay khi tới lối cửa chính, tôi thấy một dòng tin nhắn nặc danh để lại trong lúc tôi vắng mặt. Cái phong bì rất đơn giản, không có tín hiệu nào, ở bên trong đó có một tin nhắn được đánh máy:

Hãy trở về nhà, Goldman.

tác: The Truth About the Harry Quebert Affair ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Phụ Nữ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.