Tên Cô Ấy Là

Lượt đọc: 89 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LỜI KẾT - J sinh năm 1978

❊ ❊ ❊

Vào tháng Năm năm nay, J vừa tròn 40 tuổi. Cô đang sống cùng cô con gái học lớp 4 và cậu con trai 7 tuổi trong một căn hộ thuộc khu đô thị mới nằm ở ngoại ô Seoul. À vâng, còn cả chồng cô nữa. Chồng cô làm việc cho một công ty xây dựng, hiện đang công tác tại công trình ở tỉnh nên chỉ có cuối tuần mới về nhà. Tính đến nay cô đã kết hôn được mười hai năm. Không có chồng bên cạnh, liệu cô thấy trống trải không? Ừm, thành thật mà nói, so với lúc trước, cô cũng chẳng cảm thấy khác biệt gì lắm.

J đang là giáo viên mầm non, mỗi sáng sau khi gửi con gái lớn đến trường, cô cùng con trai đến nhà trẻ. Trước khi có con, J làm việc tại một công ty thuộc lĩnh vực giáo dục trẻ em. Công ty của J chuyên bán sách giáo trình, dụng cụ hỗ trợ giảng dạy trẻ và tổ chức các khóa học thực tế. J phụ trách công việc quản lý giáo viên trong khóa học. Tuy công ty hướng đến đối tượng khách hàng là trẻ em, nhưng bản thân công ty lại không hề bảo đảm chế độ nghỉ thai sản cho nhân viên. Khi ấy vì không có nơi nào để gửi con nên J đành nghỉ việc sau khi sinh. Kể từ đấy, cô tự hứa sẽ tuyệt đối không bao giờ mua sách của công ty đó nữa. Vừa nuôi con cô vừa tranh thủ thi lấy chứng chỉ giáo viên mầm non. Bắt đầu từ năm ngoái, cô đi làm ở nhà trẻ nơi con trai đang theo học.

Con gái J mới đó mà đã đến tuổi dậy thì rồi. Khi lên lớp 4, mối quan hệ giữa hai mẹ con bắt đầu có những rạn nứt, việc J không cho con gái tham dự buổi công diễn của nhóm nhạc BTS hồi đầu năm chính là sự kiện mang tính quyết định. Cô nghĩ 11 tuổi chưa phải là độ tuổi thích hợp để đi xem công diễn nên mới không đồng ý, nhưng con gái lại vùng vằng bảo rằng bạn nó còn được mẹ mua vé cho và đi xem cùng nữa. Vì chuyện đó mà con gái J buồn mãi không thôi. Dĩ nhiên không phải là J không hiểu được tâm trạng của con gái. Cô hiểu yêu thích thần tượng là một cảm giác như thế nào, vì trước đây chính cô cũng đã từng điên cuồng hâm mộ một nhóm nhạc.

Nhóm “Seo Taiji and Boys” được thành lập vào nám 1992 khi J mới học lớp 8. Đến năm 1996 khi cô đang học lớp 12 thì họ tuyên bố tan rã. Nói cách khác, J đã dành toàn bộ thời niên thiếu của mình cho Seo Taiji, cô chính là một phần của “thế hệ Seo Taiji”. Mỗi khi Seo Taiji tham gia các chương trình radio ghi hình công khai hay các chương trình ti vi xếp hạng bài hát, J đều lặn lội lên tận Seoul để gặp gỡ thần tượng. Thế nhưng, những người hâm mộ ngày ấy không chỉ thích giọng ca và vũ đạo của nhóm mà còn phát cuồng vì thông điệp nhóm gửi gắm thông qua âm nhạc của mình. Khi họ hát Hãy về nhà, những thanh thiếu niên bỏ nhà đi bụi sẽ quay trở về; khi họ hát Mơ về Balhae, giới trẻ bắt đầu quan tâm hơn tới chuyện thống nhất hai miền Hàn Quốc. Seo Taiji đã khiến người ta có cái nhìn khác về vấn đề bằng cấp vì chính anh cũng đã bỏ học khi mới lên cấp ba. Seo Taiji không chỉ đơn giản là một ca sĩ thông thường mà còn chính là văn hóa, là hiện tượng.

Sau Seo Taiji, hình thức bồi dưỡng theo phong cách Nhật Bản (các công ty giải trí có quy mô lớn tuyển chọn thực tập sinh và cho ra mắt sau quá trình đào tạo) đã trở nên thành công và có được chỗ đứng vững chãi tại Hàn Quốc. Có rất nhiều nhóm nhạc thần tượng được ra mắt theo cách ấy, đối tượng họ nhắm tới cũng chính là các thanh thiếu niên. Dù họ cũng hát về chế độ giáo dục, về vấn đề bạo lực học đường, nhưng không hiểu sao chẳng một nhóm nhạc nào có thể lay động J. Nhìn cách họ gửi lời cảm ơn đến giám đốc công ty mỗi khi giành được vị trí quán quân trên bảng xếp hạng, cô thực sự cảm thấy rất lạ lẫm.

Nghệ sĩ trẻ là những người sẽ đi ngược lại với quy tắc và trật tự vốn có. Vào thời thanh xuân giàu cảm xúc nhất, Seo Taiji chính là người có ảnh hưởng lớn nhất tới J.

J tốt nghiệp trung học phổ thông vào năm 1997. Kỳ thi đại học năm đó được xem là kỳ thi khó nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Thí sinh dự thi cầm phiếu báo điểm trên tay đều hoảng loạn không biết mình có thể đỗ vào trường đại học nào. Trong bốn trường A, B, C, D, có một trường cô mong muốn theo học, ba trường còn lại đều là lựa chọn an toàn. Cuối cùng, cô đã chọn trường có điểm chuẩn cao nhất trong số các trường mình đỗ vào.

Thật lòng mà nói, đời sống sinh viên của J vô cùng nhàm chán. Dẫu đại học là nơi hội tụ những người trẻ tuổi giàu nhiệt huyết, nhưng cảm tưởng của cô về môi trường này giống như vừa bị ai đó tạt một gáo nước lạnh thì đúng hơn. Có lẽ là do chế độ chuyên khoa chăng? Sau chương trình cải cách giáo dục ngày 31 tháng Năm năm 1995, số lượng các trường đại học tuyển sinh viên theo hình thức chuyên khoa bắt đầu tăng đột biến kể từ năm 1996. J đỗ vào khoa Khoa học Xã hội, sinh viên năm đầu có tới gần 300 người, vì thế ngoài mấy người có tên đứng trước và sau cô trong danh sách thì cô không biết ai nữa. Năm thứ nhất cô vẫn thuộc khoa Khoa học Xã hội, đến năm hai thì cô lựa chọn chuyên ngành khác, từ năm thứ ba trở đi, cô gặp khó khăn và cảm thấy gượng gạo trong mối quan hệ với các tiền bối và hậu bối vì có nhiều người đã từng học cùng khoa với cô hồi năm nhất. Ngoài ra, vụ việc của Hiệp hội Sinh viên Đại học Hàn Quốc (Hanchongnyon) diễn ra vào năm 1996 cũng gây ảnh hưởng lớn tới cô và các sinh viên cùng thời. Những vụ bạo động xảy ra trong quá trình biểu tình và trấn áp đã làm cho người dân có cái nhìn lạnh nhạt hơn với phong trào sinh viên, thêm vào đó khả năng tổ chức của phong trào sinh viên cũng yếu kém đi rất nhiều. Không chỉ thế, cuộc khủng hoảng tài chính gây suy thoái kinh tế, khiến tìm kiếm việc làm trở nên khó khăn hơn, vì thế sinh viên chỉ mải mê tích lũy càng nhiều bằng cấp càng tốt. Mỗi khi nghĩ về thời sinh viên của mình, điều đầu tiên J nghĩ tới không phải là lòng đoàn kết, ý thức xã hội hay tinh thần trách nhiệm, mà là “chủ nghĩa cá nhân”.

Ngay từ đầu năm thứ tư, J đã đi rải hồ sơ xin việc ở nhiều nơi nhưng đến tận lúc tốt nghiệp cô vẫn chưa tìm được việc. Vì không thể tiếp tục ngửa tay xin tiền bố mẹ, cô định đi làm thêm nhưng lại nghĩ mình cần có thời gian để chuẩn bị ứng tuyển một công việc chính thức. Không có tiền, tinh thần ngày một sa sút, dần dần cô bắt đầu tránh gặp gỡ người khác. Vì cả ngày chỉ lo lắng về chuyện kiếm việc nên cô thậm chí còn bị trầm cảm. Phải gần một năm sau khi tốt nghiệp, J mới kiếm được việc. Dù khó khăn lắm mới xin được vào công ty này nhưng thật lòng, cô không hoàn toàn cảm thấy hài lòng. Lúc này, cô mới nhận ra làm công việc mình muốn là một ước mơ hoang đường.

Công ty trả lương ba cọc ba đồng, đã vậy lại còn chẳng quan tâm gì đến chế độ phúc lợi cho nhân viên. Tuy vậy, được cái ở công ty này không phải tăng ca và có thể dễ dàng xin nghỉ phép. Những điều kiện hiển nhiên như vậy lại trở thành ưu thế nổi trội, cho thấy người làm công ăn lương ở Hàn Quốc phải làm việc nhiều đến mức nào.

Với J, công ty là nơi để kiếm tiền. Dĩ nhiên cô sẽ cố hết sức để làm tốt nhất có thể, nhưng cô sẽ không làm quá bổn phận của mình. Hết giờ làm, J đọc sách, học ngoại ngữ và tập luyện thể thao. Đó là khoảng thời gian khiến cô cảm thấy vui vẻ. Dĩ nhiên sẽ rất tuyệt vời nếu như người ta được làm công việc mình yêu thích và đạt được thành tựu trong công việc ấy, nhưng trên đời này số người làm được như vậy không nhiều. Đại đa số vẫn là những người làm công ăn lương bình thường, lặng lẽ chăm chỉ hoàn thành tốt công việc được giao, và J là một trong số đó.

Công ty càng nhỏ thì chuyện nói xấu sau lưng càng phổ biến. Chỉ cần nhìn thấy có nhóm nào đó đang tụ tập với nhau là J đã thấy chán ghét lắm rồi. Tuy vậy, cô vẫn khá thân thiết với hai chị trong phòng. Kết thúc giờ làm, ba người thường tụ tập đi xem phim, ăn cơm và uống rượu cùng nhau. Họ còn cố gắng sắp xếp lịch trình để có thể đi du lịch với nhau nữa. Cô và các chị đã có nhiều kỷ niệm chung, nhưng có hai chuyện cô không bao giờ quên nổi. Cả hai đều xảy ra ở quảng trường Gwanghwamun.

Năm 2002 - một năm sau khi cô vào công ty và vẫn còn là nhân viên mới, World Cup Hàn-Nhật đã diễn ra. Thời đó, tất cả đều điên cuồng World Cup, nhờ vậy mà nét văn hóa độc đáo “cổ vũ trên đường phố” cũng ra đời. J vốn không biết tí gì về luật bóng đá và cũng chưa từng nghiêm túc xem một trận bóng nào cả, nhưng cô vẫn muốn một lần được trải nghiệm bầu không khí náo nhiệt ấy. Dù có hơi lo lắng khi nghĩ đến cảnh phải chen chúc chốn đông người và về nhà muộn sau khi kết thúc trận đấu, nhưng cô vẫn rủ hai chị đồng nghiệp cùng ra quảng trường Gwanghwamun.

Vào ngày 18 tháng Sáu năm 2002, Hàn Quốc đá với Ý. Trận đấu bắt đầu từ 8 rưỡi tối nhưng ba người xin nghỉ phép nửa ngày và ra quảng trường từ sớm. Dẫu thế họ vẫn không thể tìm được một chỗ ngồi tốt. Cả quảng trường đông đúc đến khó tin, tất cả cùng nín thở, cùng hoan hô, cùng than vãn và hát vang với nhau. Khi Ahn Jung Hwan ghi bàn thắng lội ngược dòng ngoạn mục, những người chẳng hề quen biết ôm nhau và bật khóc nức nở. Dường như lúc đó, cả J, cả hai chị đồng nghiệp và cả những người xa lạ đang đứng trên quảng trường kia đều không được bình thường lắm thì phải. Bây giờ nghĩ lại cô vẫn thấy ngày hôm ấy thật thú vị và lạ lùng.

Hiện tại cả ba người đều sinh sống và làm việc ở những nơi khác nhau. Hoàn cảnh và cuộc sống đều đã không còn như trước, mỗi người cũng bận rộn với công việc riêng của minh. Tuy vậy, mỗi năm họ vẫn gặp nhau khoảng một, hai lần để chia sẻ và dốc bầu tâm sự. Đầu năm ngoái, ba người hẹn gặp ở quảng trường Gwanghwamun, lần đầu tiên sau mười lăm năm. Lần này, các cô gặp nhau không phải với sự vui mừng mà bằng sự phẫn nộ, thứ cầm trong tay không phải dụng cụ cổ vũ mà là nến. Giống như năm 2002 khi ấy, dòng người đông đúc đến khó tin. Từng ấy người cùng nín thở, cùng hoan hô, cùng than vãn và hát vang cùng nhau.

Quảng trường mở rộng cửa cho tất cả mọi người, đám đông tụ tập tự phát, tất cả đều có chung một quan điểm, mục đích và tiếng nói. Đứng ở quảng trường, cô vỡ òa đi vì sung sướng nhưng thật lạ làm sao, tâm trạng cô vẫn có chút không thoải mái. Nên gọi cảm giác đó là gì đây? Nếu nhất thiết phải tìm một từ để mô tả thì có lẽ đó là cảm giác tội lỗi. Suốt từng ấy năm, đã bao giờ cô sống nhiệt huyết hết mình chưa? đã bao giờ cô băn khoăn, trăn trở, tự vấn bản thân chưa? Tuy cô tự viện cớ thời nay, người ta bận bịu kiếm sống vì nền kinh tế khó khăn, nhưng tận sâu trong lòng, J vẫn không ngừng cảm thấy nặng nề.

Thực ra, J có thể là tôi, là người bạn thân nhất của tôi, là người bạn học cũ đã cắt đứt liên lạc từ lâu, và cũng có thể là những người hàng xóm bằng tuổi mà tôi vẫn hay xưng hô bằng tên con của họ.

Những kỷ niệm trong quá khứ thường tạo nên trong ta một cảm giác lãng mạn kỳ lạ. Khi lớn lên tôi mới biết tuy nhà mình nghèo nhưng thế giới ngoài kia đâu có nghèo. Người ta tự do, tràn đầy tự tin và có một cuộc sống tương đối nhàn nhã. Ngày ấy, trào lưu chung là theo đuổi lối sống “well-being” - tìm kiếm sự thoải mái và hạnh phúc về cả mặt thể chất lẫn tinh thần. Tôi học đại học và bắt đầu đi làm dưới thời tổng thống Kim Dae Jung và tổng thống Roh Moo Hyun nắm chính quyền, nhưng nhìn chung bầu không khí xã hội lúc bấy giờ cũng không quá cứng nhắc hay có sự đàn áp nặng nề. Gần đây thì người ta lại tập trung vào những món đồ giá rẻ hoặc có tính năng tốt hơn so với giá cả. Tiếng nói của công chúng bị quyền lực chặn đứng, mọi người có xu hướng căm ghét và coi thường lẫn nhau. Quan trọng là bản thân sống tốt, còn tiêu chuẩn đạo đức hạ thấp đến mức nào cũng được. Mới chỉ một vài năm nhưng đã có quá nhiều người bỏ mạng.

Tôi đã bước sang tuổi 40. Khi đến độ tuổi này, người ta sẽ phải tự chịu trách nhiệm với chính mình, vì đánh giá của người khác với chúng ta sẽ phụ thuộc vào cách sống, thái độ và giá trị quan của ta từ trước đến giờ. Nhưng không chỉ riêng với bản thân, người ta còn cần có trách nhiệm với thế giới xung quanh mình nữa. Bây giờ, may mắn thay tôi không còn bị ảnh hưởng bởi môi trường, và đôi khi cách sống, thái độ, giá trị quan của tôi thậm chí còn có thể thay đổi những người bên cạnh, các tổ chức và cả xã hội nữa.

Vậy nên, hơn tất cả, tôi muốn trở thành một người lớn có tinh thần trách nhiệm.

Dịch giả: Văn Ngọc Minh Quyên
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.