Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 207 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 3 - NHỮNG NGHỊCH LÝ TRONG THỜI KỲ PHÁT TRIỂN TUỔI THƠ

❊ ❊ ❊

Nhìn kỹ lại những bức tranh châu Âu thời Trung cổ, bạn sẽ thấy vô số những bức chân dung vẽ trẻ em như những người lớn thu nhỏ. Với con mắt hiện đại, trông chúng có vẻ lạ lùng. Cách đây nhiều năm, nhà sử học xã hội người Pháp Philippe Aries[1] cho biết rằng những bức chân dung phản ánh một giả định hoàn toàn khác về sự phát triển của con người, trong đó, những đứa trẻ được miêu tả như người lớn thu nhỏ. Chắc chắn là chúng thấp người; nhưng vẫn ăn mặc như người lớn, vẫn có những biểu lộ như người lớn và thậm chí tỷ lệ cơ thể của chúng không có các dấu hiệu của con nít - không có đầu quá to, không có những cánh tay mũm mĩm, không có những chân cong. Những sử gia như Aries cho rằng khi còn nhỏ, trẻ em thời Trung cổ không được quan tâm; cho đến khi chúng biết suy luận - thường vào lúc 7 tuổi - người ta mong đợi chúng phải suy nghĩ và hành xử như người lớn.

Những tuyên bố của Aries không hoàn toàn được các nhà sử học chấp nhận. Tuy vậy, luận điểm phản đối quan điểm cho rằng tâm lý của trẻ em là phiên bản thu nhỏ của tư duy người lớn, lại xuất hiện rất muộn. Nhà tư tưởng thời Khai sáng Jean-Jacques Rousseau là tác giả Tây phương đầu tiên chú tâm đến trạng thái đặc biệt của trẻ em; cách đây 200 năm, những nhà thơ và họa sĩ trường phái lãng mạn đã ca ngợi vẻ đẹp và sự ngây thơ của trẻ em; và tiếp theo sau các khám phá của Darwin, những nhà tâm lý học tự nhận đầu tiên bắt đầu cố gắng giải mã tư duy của trẻ em.

Nghiên cứu về quá trình phát triển nhận thức của trẻ em đã mở ra cánh cửa về hiện tượng thay đổi tư duy và cụ thể là cho hai hiện tượng khó hiểu là: một là tư duy để thay đổi, và hai là khó thay đổi. Khi còn trẻ, tư duy của chúng ta thay đổi rất dễ dàng. Chúng ta thu nhận và lưu giữ thông tin không mấy khó khăn; học ngoại ngữ một cách nhanh chóng và thu nhận ngữ âm một cách chính xác. Những hiểu biết về thế giới của chúng ta cũng thay đổi nhanh không kém. Theo nhiều cách, tư duy phát triển nhanh chóng.

Đầu tiên tôi sẽ đi vào những lĩnh vực tư duy dễ dàng thay đổi. Hãy xem 3 ví dụ thay đổi tư duy quan trọng diễn ra trong tuổi thọ, như nhà khoa học người Thụy Sĩ Jean Piaget đã nêu. Là nhà nghiên cứu quan trọng nhất về phát triển nhận thức con người[2], Piaget đã đưa ra bằng chứng cho thấy tư duy trẻ em thay đổi một cách đột ngột về chất trong 10 năm đầu tiên và nửa đầu cuộc đời. Đúng như thế, Piaget cho rằng, trong giai đoạn từ trẻ sơ sinh cho đến tuổi thanh niên, tất cả những trẻ em bình thường đều trải qua một số giai đoạn tư duy khác nhau về chất.

3 ví dụ kinh điển của Piaget minh họa những thay đổi tư duy quan trọng diễn ra phổ biến trên toàn cầu. Trong những tháng cuối của năm đầu tiên, trẻ sơ sinh quan sát một thứ đồ chơi được đặt một vài lần ở điểm A. Sau đó, trước mắt của đứa trẻ, đồ chơi - một con vịt cao su chẳng hạn - được chuyển sang điểm B. Mặc dù nhìn thấy điều này, nhưng đứa trẻ 8-9 tháng tuổi vẫn sẽ tiếp tục tìm kiếm thứ đồ chơi đó ở điểm A. Tại thời điểm này trong cuộc đời, vị trí hiện tại của một vật hình như luôn gắn liền với vị trí ban đầu của nó. Nhưng chỉ vài tháng sau, không hề có sự hướng dẫn nào, mọi trẻ sơ sinh bình thường đều nhìn thẳng về hướng điểm B.

Đi nhanh đến lúc 5 tuổi. Một đứa trẻ được chỉ cho thấy 2 cái cốc giống nhau (A và A’), mỗi cái đựng một lượng nước bằng nhau. Đứa trẻ xác nhận rằng 2 cái cốc đều có “lượng nước giống nhau”. Sau đó, trước sự chứng kiến của đứa trẻ, phần nước ở cốc A được rót vào cốc B cao và ốm hơn, và dĩ nhiên mức nước trong cốc B sẽ cao hơn. Khi được hỏi cốc nào chứa nhiều nước hơn (A’ hay B), đứa trẻ sẽ dễ dàng chỉ vào cốc cao hơn (B), cho dù người ta không thêm bớt một chút nước nào. Hỏi tại sao, đứa trẻ sẽ trả lời “Nhiều nước hơn vì mức nước cao hơn”. Một hai năm sau, cũng không hề có sự dạy dỗ nào, đứa trẻ sẽ nói “Dĩ nhiên là 2 cái cốc có lượng nước bằng nhau. Chú chỉ đổ nước sang, chứ có thay đổi gì đâu”.

Cuối cùng, chúng ta hãy xem một đứa trẻ 10 tuổi. Người ta chỉ cho nó một chiếc cân đòn và bảo nó đoán vị trí sau cùng của các đòn cân - bên trái thấp hơn, hay bên phải thấp hơn, hay cả hai bằng nhau - nếu những quả cân có khối lượng nhất định được đặt lên mỗi cán cân. Nếu đặt nhiều quả cân hơn lên một bên, đứa trẻ sẽ chỉ ra được bên đòn cân bị nghiêng xuống thấp; ngay khi những quá cân được đặt xa trục đòn bẩy hơn, đứa trẻ sẽ vẫn trả lời đúng. Nhưng, đối với trường hợp đặt nhiều quả cân hơn ở một bên, và ở bên kia các quả cân được đặt xa trục đòn bẩy hơn, thì đứa trẻ chịu thua và chỉ có thể phỏng đoán. Nó không thể biết được hiện tượng mômen quay - nghĩa là phải xét cả hai yếu tố cân nặng và khoảng cách để có thể tính toán kết quả chính xác. Tuy nhiên, ở độ tuổi thanh niên, dù có học vật lý hay không, chúng ít nhất cũng nhận biết được bản chất bù trừ của mômen quay. “À, bên trái có nhiều quả cân hơn, nhưng các quả cân bên phải lại xa hơn, vì vậy 2 đòn cân sẽ bằng nhau”.

Những luận chứng này của Piaget đã đưa ra 2 khía cạnh vấn đề. Thứ nhất, trẻ em có vẻ không phụ thuộc vào trực giác; các nhà nghiên cứu và các bậc phụ huynh đã thật sự rất ngạc nhiên khi biết trẻ em trên toàn thế giới đều có phản ứng giống nhau về vấn đề khó hiểu này. Thứ hai, chủ yếu dựa vào sự quan sát của bản thân, cuối cùng trẻ em cũng có được những câu trả lời đúng cho các câu hỏi hóc búa đó.

Đây là khía cạnh đầu tiên của nghịch lý về thay đổi tư duy. Trẻ em nghĩ về thế giới khác một cách cơ bản so với người lớn. Không giống những bức chân dung trẻ em thời Trung cổ được mô tả như những người lớn thu nhỏ, chúng ta nhận ra rằng xét về biểu hiện trí tuệ, trẻ em có vẻ như thuộc giống loài khác. Nhưng sau đó, rõ ràng là không cần một sự dạy dỗ chính thức nào, những người trẻ lại có những sự thay đổi tư duy nền tảng. Không những thế, đáng ngạc nhiên là chúng tin chắc vào những suy nghĩ mới này. Quả vậy, đa số những trẻ em khi lớn lên đều sẽ không tin rằng mình đã từng là nạn nhân của quan niệm sai lầm trước kia - ít nhất cho tới khi chúng được xem đoạn video về những câu trả lời hồi nhỏ của mình.

Nhưng lại có một hiện tượng trái ngược, được ghi chép lại bởi nhà nghiên cứu vĩ đại về phát triển con người, nhà phân tích tâm lý người Áo Sigmund Freud[3]. Đó là khía cạnh thứ 2 của nghịch lý: mặc dù tư duy có thể thay đổi khá dễ dàng, đặc biệt là khi chúng ta còn trẻ, nhưng đồng thời, ở một số mặt nhất định, tư duy lại phản kháng không thay đổi một cách đáng ngạc nhiên. Tôi xin giải thích như sau.

Trong khi Piaget tập trung vào lĩnh vực nhận thức và giải quyết vấn đề của tư duy con người (cùng là vấn đề tôi quan tâm), thì Freud đi sâu vào những lĩnh vực bổ sung như cảm xúc, động cơ, và vô thức. Freud cho rằng trẻ em đã hình thành nên mối gắn kết chặt chẽ với những người xung quanh chúng, và quan hệ tương giao này được xây dựng dựa trên tình cảm. Trẻ sơ sinh luôn gần gũi với mẹ và sẽ bị tổn thương nếu phải chia xa. Đứa em mới sinh sẽ khiến đứa lớn hơn cảm thấy cần phải cạnh tranh để có tình yêu thương của mẹ; vì thế sinh ra sự ganh đua giữa anh chị em. Nổi bật nhất (và có phần xấu) là trường hợp trẻ ở độ khoảng 5 tuổi bộc lộ những tình cảm mãnh liệt trực tiếp với bố hoặc mẹ. Đứa con trai, trong cơn vật lộn với phức cảm dục vọng vô thức (Oedipal complex), muốn sở hữu người mẹ và gạt bỏ người bố thù địch; tương tự với trẻ gái, dưới tác dộng của phức cảm Electra (Electra complex), sẽ hình thành những gắn kết tình cảm với người bố, và loại bỏ người mẹ.

Ngày nay, ngay cả những người đồng cảm với luận điểm của Freud cũng không thực sự tin vào những bức chân dung này. Nhưng với nhiều nhà quan sát, bức tranh toàn cảnh của Freud có phần đúng đắn. Trong những năm đầu đời, trẻ em thực sự có hình thành sự gắn kết tình cảm và bộc lộ phản ứng mạnh mẽ với những người xung quanh. Và những cảm xúc mãnh liệt này tiếp tục ảnh hưởng đến các mối quan hệ sau này với người khác, đây chính là thông điệp cơ bản của phương pháp trị liệu tâm lý. Có thể sự gắn kết với người mẹ sẽ giảm đi nhưng phẩm chất này lại được tái tạo trong quan hệ tình yêu vài thập kỷ sau. Có thể anh chị em không còn cạnh tranh nhau những sự ganh tị tương tự vẫn có ở trường học hay nơi làm việc khi người khác được thiên vị hơn. Và nếu tam giác tình yêu từ thời trẻ nít không được “hóa giải” một cách tốt đẹp, thì dư chấn của nó vẫn ảnh hưởng đến những mối quan hệ sau này trong đời. “Nó sẽ không bao giờ lấy vợ đâu, nó chỉ yêu mẹ thôi”; “Nó không thấy ai phù hợp cả, nó chỉ tìm kiếm bản sao của bố nó”.

Tất cả những điều này cho chúng ta thấy nghịch lý của quá trình thay đổi tư duy và cách trẻ em phát triển suy nghĩ như thế nào. Đơn giản có thể nói là, ở những mặt nhất định theo Piaget, tư duy trẻ em thay đổi một cách dễ dàng, dứt khoát, mà không cần có sự dạy dỗ nào. Ở những mặt khác theo Freud, trong tư duy có sự phản kháng rõ rệt đối với việc thay đổi, thậm chí ngay cả khi rất muốn thay đổi - như trường hợp một người sẵn sàng tốn rất nhiều tiền cho nhà trị liệu tâm lý. Như vậy vấn đề chúng ta cần nghiên cứu có vẻ đã rõ ràng. Chúng ta cần phải biết tư duy thay đổi như thế nào và sự phản kháng nằm ở đâu, càng nhiều càng tốt. Nếu không, chúng ta sẽ gặp khó khăn khi muốn thay đổi tư duy một cách tự nguyện.

Đến đây, bức tranh tôi đã trình bày đã phần nào quen thuộc. Freud (chắc chán) và Piaget (có vẻ) là một trong những nhà khoa học về hành vi nổi tiếng nhất. Tuy nhiên, có một đặc tính rất quan trọng khác của đời sống tinh thần nhưng lại ít được biết đến. Đặc tính này thể hiện cách nhìn “xuyên suốt cuộc đời” của Freud trong những hiện tượng nhận thức được Piaget tìm hiểu.

❀ ❀ ❀

[1] Centuries of childhood của Philippe Aries (London: Jonathan Cape, 1962).

[2] Xem The quest of mind, của Howard Gardner, ấn bản thứ 2 (Chicago: University of Chicago Press, 1983); “Piaget’s theory” của Jean Piaget, trong Handbook of child psychology, tập 1, ấn bản P. Mussen (New York: Wiley, 1983).

[3] The new introductory lectures của Sigmund Freud (New York: Norton, 1933/1964).

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.