Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 207 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN ĐẠO ĐỨC

❊ ❊ ❊

Rõ ràng bản thân khoa học và công nghệ đều không tốt cũng không xấu. Nhưng hiểu biết của Einstein về mối liên hệ giữa khối lượng và năng lượng có thể được sử dụng để tạo ra các lò năng lượng hạt nhân hay các loại vũ khí nhiệt hạt nhân. Một cây bút chì có thể được dùng để viết những bài thơ đẹp đẽ hay để chủ ý chọc thủng mắt kẻ thù hay vô tình làm rách da người nào đó. Chương trình vi tính có thể tính toán các loại thuốc men dùng để cứu mạng trẻ em ở những vùng xa xôi hay có thể dẫn đường cho tên lửa đánh vào một bệnh viện có đầy những trẻ em khuyết tật.

Theo đó, các loại hình thay đổi tư duy được bàn đến trong cuốn sách này cũng phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau. Đa số các vấn đề tôi thảo luận đều có giá trị trung lập. Người lãnh đạo như Napoleon có thể truyền cảm hứng toàn quốc chiến tranh; người lãnh đạo như Nelson Mandela có thể tạo ra sự thay đổi lịch sử về chế độ chính trị, sử dụng các phương tiện hòa bình. Việc truyền giáo có thể khiến các thanh niên Hồi giáo (hay Cơ đốc giáo hay Do Thái) tiến hành cuộc thánh chiến chống lại những kẻ ngoại đạo hoặc có một cuộc sống hòa bình trong một xã hội đa nguyên. Và thậm chí sự thay đổi tư duy trong môi trường thân thiết như gia đình, trị liệu hay tình yêu cũng có thể diễn ra theo cách xây dựng hay phá hoại đối với những người trong vòng ảnh hưởng hay đối với chính những cá nhân đó.

Các nhà tư tưởng có sức ảnh hưởng lớn ở phương Tây đã làm một việc đáng khâm phục là tách biệt giữa tài năng ưu tú với đạo đức xuất chúng. Chúng ta biết rằng một người có thể có tài nhưng không có đức; một người có thể có đức nhưng không có tài; và rất nhiều người chúng ta không quá xuất sắc cũng không quá trách nhiệm với xã hội. Chúng ta nhận ra rằng đa số những người tài giỏi thể hiện một sự tổng hợp giữa đạo đức và vô đạo đức. Nhìn về tương lai, chúng ta tự hỏi liệu có thể tạo ra sự thay đổi tư duy để tài năng và đạo đức có thể tiến gần lại nhau hơn. Gần đây, Mihaly Csikszentmihalyi, William Damon, và tôi đang nghiên cứu cái chúng tôi gọi là Việc tốt - những công việc vừa có kỹ thuật xuất sắc và vừa mang lại kết quả có đạo đức, luân lý và trách nhiệm, ở mọi ngành nghề và lĩnh vực đều có những người làm Việc tốt. Trong số những người đáng nhớ gần đây, tôi khâm phục Nhà xuất bản Katharine Graham, nghệ sĩ đàn cello Pablo Casals, nhà văn sinh thái Rachel Carson, nhà khoa học Jonas Salk, vận động viên Jackie Robinson, và nhân vật công chúng người Mỹ John Gardner (không mối liên hệ ruột rà nào với tôi cả!), là những người tôi và các đồng nghiệp xin dâng tặng cuốn sách năm 2001: Goodwork: When exeellence and ethics meet[1] (tạm dịch: Việc tốt: khi tài năng và đạo đức hội tụ). Mặc dù chỉ số đạo đức có thể là vấn đề tranh cãi với nhiều người, nhưng rõ ràng có sự khác biệt giữa những người cố gắng có trách nhiệm đạo đức với những người chỉ biết đến tiền, thành công trần tục hay quyền lực.

Làm thế nào để trở thành Người làm việc tốt, và làm thế nào để vững vàng trước mọi cám dỗ? Các nghiên cứu của chúng tôi cho thấy một số nhân tố, bao gồm sự phát triến chuẩn mực đạo đức mạnh mẽ trong thời thơ ấu (thường là qua việc học tập trong tôn giáo), môi trường huấn luyện ban đầu (chẳng hạn như các câu lạc bộ trong trường, các trường học nghề), và sự hỗ trợ của những người xung quanh cũng như của người thầy trong công việc đầu tiên. Tuy vậy ngay cả trong những trường hợp có các nhân tố hỗ trợ ban đầu đó, người ta vẫn có thể trượt ngã. Cám dỗ rất mạnh; môi trường làm việc mới hoặc bị biến đổi có thể có các công việc xấu hoặc thỏa hiệp; các điều kiện trong một lĩnh vực có thể thay đổi biến động lớn, làm khó xác định thế nào là Việc tốt, thế nào là không. Theo đó, điều quan trọng là phải có sự củng cố định kỳ, chẳng hạn như các trải nghiệm sâu sắc nhấn mạnh nhu cầu cần thiết liên tục làm Việc tốt và minh họa cách làm việc đó.

Làm thế nào để xác định mình có phải là Người làm việc tốt hay không? Chúng tôi xin đưa ra quy trình gồm 3 phần, bắt đầu bằng chữ M: mission (nhiệm vụ), models (hình mẫu), và mirror test (bài kiểm tra với gương).

Đầu tiên, điều quan trọng là chúng ta phải nhận biết và xác nhận nhiệm vụ của nghề nghiệp. Tại sao chúng ta làm nghề đó, nó có đóng góp gì cho xã hội, ý thức cá nhân về lĩnh vục đó như thế nào? Tôi là giáo viên, chẳng hạn, tôi tin rằng nhiệm vụ của việc giảng dạy có 3 yếu tố: (1) giới thiệu cho học sinh những suy nghĩ tốt nhất về quá khứ; (2) chuẩn bị tinh thần cho chúng về một tương lai bất ổn, khi các kiến thức có thể bị bắt kịp và chuyển hóa theo nhiều cách khó đoán; và (3) đưa ra những tấm gương về cách cư xử lịch thiệp với nhau và các nguyên vật liệu để làm việc này. Với tôi, việc nhớ lời tuyên thệ hay lời mô tả nhiệm vụ do ai đó soạn thảo là không đủ. Tôi cần phải thỉnh thoảng xem lại nhiệm vụ, cá nhân hóa nó, điều chỉnh nó nếu cần, và giám sát cẩn thận xem liệu tôi có hoàn thành các yếu tố của nhiệm vụ hay không.

Tiếp theo, chúng ta cần phải tìm kiếm và xác nhận những hình mẫu. Có thể là những nhân vật mẫu mực đáng khâm phục: những người mà chúng ta kính trọng và cần lời khuyên hướng dẫn trong công việc. Chúng ta cũng có thể học hỏi từ những hình mẫu đóng vai trò tiêu cực - có thể gọi là những người phản thầy hay những người xấu. Các cá nhân đó đóng vai trò cảnh báo - dù làm gì, tôi cũng không giống bọn Xc#!vYz@!

Cuối cùng là bài kiểm tra với gương. Mỗi nhân viên cần thường xuyên nhìn vào gương và đưa ra các câu hỏi cá nhân: “Mình có phải là Người làm việc tốt không? Mình có tự hào về những việc mình làm không? Nếu không, cần phải làm gì để trở thành Người làm việc tốt?”. Đương nhiên chiếc gương chẳng giúp gì ở đây nếu bạn lừa dối chính mình; do đó cũng sẽ hũu ích khi bạn kiểm tra về nhận thức của bản thân (nói theo cách của tôi, là trí thông minh nội tâm của bạn) trên cơ sở các đánh giá từ những người mà bạn tin tưởng ý kiến. Bài kiểm tra cá nhân với gương sau đó có thể tiến hành với chiều rộng hơn: “Mình có tự hào về cách làm việc của các đồng nghiệp không? Công việc hiện tại của mình có được gọi là Việc tốt không?”. Nếu có khoảng cách giữa những bài kiểm tra cá nhân trước gương và những đánh giá về công việc thi đó là tiếng chuông báo động, một dấu hiệu cho thấy có gì đó không ổn. Để cải thiện công việc bất ổn, chúng tôi xác định một vai trò đặc biệt của “người ủy thác”: tự cho mình là nhân vật cấp cao với nhiệm vụ duy trì chất lượng công việc trong toàn bộ phạm vi. Như nhà viết kịch Jean-Baptiste Moliere đã nói một cách sâu sắc: “Chúng ta chịu trách nhiệm không chỉ những việc chúng ta làm mà cả những việc chúng ta không làm”.

Tôi xin đề cập đến mối liên hệ giữa Việc tốt và thay đổi tư duy. Nhiều người chúng ta trong thế giới hiện đại xem công việc là một lĩnh vực cần tài năng xuất sắc. Và một số chúng ta tin rằng ở nơi làm việc không cần đạo đức, dù chắc chắn chúng ta có quyền chọn lựa có nên hay không làm điều thiện vào mỗi cuối tuần hay trong di chúc, khi chúng ta mong muốn lên thiên đàng. Khái niệm về Việc tốt thách thức trực tiếp hai ngã trải nghiệm như vậy. Các đồng nghiệp và tôi cho rằng một xã hội cần những Người làm việc tốt, và đặc biệt khi mọi thứ thay đổi quá nhanh chóng, thì ý thức của chúng ta về thời gian và không gian cũng sẽ bị biến đổi nhanh chóng bởi khoa học công nghệ, và các lực lượng thị trường có sức ảnh hưởng vô cùng to lớn, trong khi có quá ít lực lượng đối lập ngang sức.

Vì vậy, để có Việc tốt cần có 2 quá trình thay đổi tư duy. Thứ nhất, cần có niềm tin rằng Việc tốt là một phần quan trọng trong cuộc sống, một hiện tượng mang tính chất sống còn không thể bỏ qua hoặc không chỉ trông chờ vào người khác. Tạo dựng lên quan điểm này là công việc của những người lãnh đạo trực tiếp, như tổng thống hay CEO, cũng như của những người lãnh đạo gián tiếp, như các đồng nghiệp học giả và tôi. Thứ hai, cần phải tạo ra các trải nghiệm nhằm gia tăng khả năng làm Việc tốt. Bộ ba đã kể trên - những hệ thống niềm tin đạo đức ban đầu, sự hỗ trợ từ những người đồng lứa và người thấy trong việc huấn luyện và ở nơi làm việc đầu tiên, “các trải nghiệm củng cố” định kỳ - đại diện cho những nỗ lực để tạo ra và giữ cho Việc tốt luôn ở vị trí trung tâm dẫn đầu. Và 3 hình thức giám sát thực tế - nhiệm vụ, hình mẫu, và kiểm tra trước gương - là những cách dễ dàng để đánh giá việc làm của người nhân viên.

Nếu có việc tốt, thì than ôi, cũng có những việc xấu hay thỏa hiệp. Mỗi ngày chúng ta đọc báo hay xem tivi thấy chân dung của những người bôi nhọ các giá trị nghề nghiệp chân chính: nhà báo xuyên tạc, hay thậm chí bịa đặt sự kiện; nhà khoa học bỏ qua những thông số trái chiều chỉ nhằm xuất bản sách; nhà vật lý chỉ phục vụ cho ai trả lương cao hơn; vân vân... Trong trường hợp đó, chúng ta hy vọng có thể thay đổi tư duy (và việc làm) của những người xấu này và tác động đến những người chứng kiến vì họ có thể bị xúi giục bởi các gương xấu này.

Chúng ta không nên nghỉ rằng lúc nào cũng cần phải thay đổi tư duy. Không phải lúc nào cũng “tốt” khi cố gắng thay đổi tư duy; không phải lúc nào cũng “xấu” nếu giữ nguyên lập trường. Trong mỗi trường hợp, những người có khả năng và cơ hội thay đổi tư duy của người khác cần phải tự hỏi liệu mình có đang đi đúng đường hay không. Và vì không có công thức chung nào, 3 phương pháp mà tôi đề nghị - xác định nhiệm vụ, hình mẫu, và kiểm tra với gương - có thể giúp chúng ta xác định trường hợp thay đổi tư duy nào là Việc tốt và trường hợp nào có nguy cơ thúc đẩy việc xấu hay thỏa hiệp.

❀ ❀ ❀

[1] Good Work: When excellence and ethics meet của Howard Gardner, Mihaly Csikszentmihalyi, và William Damon (New York: Basic Books, 2001). Cùng xem trong Mailing good: How young people cope with rnoral dilemmas at work của Wendy Fischman, Becca Solomon, Deb Greenspan, và Howard Gardner (Cambridge: Harvard University Press, 2004).

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.