Những lý thuyết này không hoàn toàn được xây dụng trên cơ sở bịa đặt. Thoạt nhìn chúng đều có vẻ hợp lý, đều dựa trên quan sát của giác quan, và có vẻ được xác thực qua thời gian. Những vật nhẹ hơn có vẻ tăng tốc chậm hơn vì trong những diều kiện bình thường có tồn tại lực cản của không khí. Loài chó chú tâm đến những dấu hiệu của con người hơn so với loài cá, dù thực tế những chú chó Cocker cũng không biết chủ nó đang nghĩ gì như một con cá vàng mà thôi. Trong cuộc khẩu chiến, những người lớn hơn đứa trẻ luôn có lý, cho dù nếu phán xét công bằng thì họ không thể thắng thế.
Ngoài ra, những người trẻ có thể đồng hóa các thông tin bất đồng cho phú hợp với những lý thuyết đã có. Tôi hỏi con trai tôi, Benjamin lúc nó 5 tuổi, về hình dáng của trái đất. Nó trả lời ngay lập tức “Nó hình tròn, bố”. Phấn khích vì sự thể hiện kiến thức khoa học này (hay ít nhất là sự hiểu biết văn hóa), tôi quyết định hỏi tiếp “Nói cho bố biết, Benjamin, vậy con đang đứng ở đâu?”. “Quá dễ”, nó trả lời, “con đang đứng trên mặt phẳng bên dưới”. Tổng quát hơn, các cá nhân sẽ cố gắng điều chỉnh những thông tin khác nhau cho phù hợp với niềm tin vững chắc của mình. Đó là cách chúng ta ứng phó với “sự bất đồng về nhận thúc” - là sự bất nhất tồn tại giữa cái bố mẹ (hay sách giáo khoa) dạy với những gì chúng ta tin là thật.
Khi sinh ra con người không như tờ giấy trắng, và các lý thuyết cũng không xuất hiện giống nhau. Như đã trình bày ở phần trước, tôi giả thuyết là con người có xu hướng đưa ra một loại lý thuyết này nhiều hơn loại khác. Một ví dụ tương đối rõ ràng: là lẽ tự nhiên nếu con người đưa ra lý thuyết rằng một việc diễn ra trước (chớp) sẽ dẫn đến một việc tiếp theo (sấm). Đương nhiên, xét về mặt logic, những việc cùng xảy ra đều có hai chiều; và vì thế về nguyên tắc, chúng ta cũng có thể giả định rằng cái sau (sấm) gây ra cái trước (chớp), hoặc chúng đều là kết quả của một nguyên nhân thứ 3 độc lập (cơn phẫn nộ của thượng đế, chẳng hạn). Tuy nhiên, có cái gì đó trong “mạng lưới” của chúng ta đã dẫn dắt chúng ta đến lý thuyết được đề cập trước đó, mà không phải là những lý thuyết khác, trong khi chúng đều có khả năng xảy ra như nhau xét về mặt logic.
Để dễ hiểu hơn, chúng ta hãy xem các lý thuyết thời thơ ấu như những chỗ trũng nhỏ trong lãnh địa tư duy/não bộ ban đầu bằng phẳng. Lý thuyết nào có xu hướng xuất hiện nhiều hơn, nghĩa là chỗ trũng đó trở nên sâu hơn cho đến khi hình thành cả một thung lũng lớn. Nếu không có sự san bằng trong tư duy, những thung lũng này có vẻ rất bền vững. Một cách ẩn dụ khác, chúng ta có thể ví các lý thuyết đầu đời như những vết khắc vào tư duy/não bộ. Những vết khắc này cũng tồn tại lâu dài. Mặt khác, ở trường, chúng ta học về nhiều dữ kiện (chẳng hạn như “trái đất hình tròn”) và khi có điều kiện thích hợp, chúng được củng cố lại. Nhìn từ xa, trông có vẻ những dữ kiện được chất chồng lên và chúng ta đã học được rất nhiều. Và vì thế, khi được hỏi về một vấn đề chưa kịp chuẩn bị, chúng ta không chỉ lúng túng, mà có khi còn quay về với những vết khắc ban đầu, hay nói một cách ẩn dụ là lại trượt vào thung lũng ngu dốt[1].
Như vậy, một lần nữa chúng ta lại thấy khía cạnh thứ 2 của nghịch lý, đó là: rất khó thay đổi các lý thuyết, đặc biệt là những lý thuyết thuở đầu đời. Trẻ em khi sinh ra không biết về 7 khái niệm bảo toàn số lượng nhưng đáng ngạc nhiên khi sau đó chúng nhận thức được về khái niệm này. Chúng ta không biết tại sao bảo toàn số lượng lại là một trong những lý thuyết trở nên phổ quát với hầu hết các trẻ em. Có thể là những dự đoán dựa trên giả thuyết không bảo toàn số lượng luôn luôn sai, và khi càng tích lũy được nhiều dữ liệu thì vết khắc ban đầu càng trở nên sai lệch. Có thể vì đặc điểm giống loài, chúng ta thích có những giải thích tỉ mỉ, và khái niệm bảo toàn (“không thêm, không bớt, thì không có gì thay đổi”) đáp ứng được điều này (vì tính tỉ mỉ phổ biến). Điều rõ ràng là trẻ em khắp nơi không được dạy dỗ một cách chính quy về khái niệm bảo toàn. Chúng chỉ biết về khái niệm này vào khoảng thời gian chuẩn bị đi học.
Có thể thấy một số tác nhân củng cố các lý thuyết như sau. Một là tác động cộng hưởng với tình cảm - cũng là 1 trong 7 đòn bẩy tôi đã đề cập ở chương 1. Nếu càng có nhiều tình cảm gắn bó với một sự nghiệp hay một niềm tin, thì càng khó thay đổi. Một yếu tố khác là sự sĩ diện với người ngoài. Với niềm tin cá nhân, một quan điểm nào đó đã có sức mạnh nhất định, nhưng khi quan điểm đó được công bố cho nhiều người biết, thì vấn đề sĩ diện và tính kiên định đã buộc cá nhân đó phải bám chặt lấy lý thuyết này, cho dù thực sự trong lòng có chút nghi ngờ. Và cuối cùng là yếu tố về nhân cách. Người nào càng muốn đạt đến cái tuyệt đối, càng tin chắc về ý kiến của mình, thì càng khó loại bỏ chúng. Những người có “tính cách độc đoán” đặc biệt càng cố hữu với những niềm tin ban đầu. Những người không quá cực đoan, linh hoạt và có tính tò mò, hay nói theo cách của những người trẻ hiện nay là có một thái độ “sao cũng được” đối với mọi lời giải thích, sẽ dễ dàng thích nghi với thay đổi hơn. May mắn thay, không có tác nhân nào nói trên nổi trội đối với trẻ em, vì thế chúng không gặp khó khăn trong việc nhận biết về khái niệm bảo toàn vật chất.
❀ ❀ ❀
[1] Trong những thập kỷ đầu của khoa học nhận thức, phép ẩn dụ phổ biến của thay đổi tư duy là học một quy luật. Những quy luật này ít nhiều tương đối rõ ràng. Và vì thế, một đứa trẻ khi đang nóng lòng chiến thắng cuộc tranh luận sẽ ứng xử theo quy luật cho rằng: “Nước sẽ không thay đổi về lượng khi được đổ sang vật chứa khác, miễn là không thêm hay bớt nước đi”. Máy vi tính cũng được lập trình theo những chuỗi biểu tượng đó. Tuy nhiên, gần đây hơn, hình ảnh ẩn dụ thống trị là tập các neuron thần kinh hợp thành mạng lưới, sức mạnh của những neuron có liên kết với những noron khác dần dần thay đổi khi có những trải nghiệm tích lũy qua thời gian. Ở phân tích này, đứa trẻ đã dần dần chuyển từ trạng thái tin tưởng chiều cao liên quan đến lượng nước sang trạng thái tin tưởng sự kết hợp “không thêm hay bớt” để xác định lượng nước. Không cần phải có tuyên bố chính thức về quy luật - cho đứa trẻ cũng như cho máy tính. Theo tôi, hay nhất nên mô tả đa số các thay đổi tư duy (chẳng hạn như sự thay đổi về trang trí nội thất của tác giả Nicholson Baker được đề cập ở chương 1) với phép ẩn dụ về mạng lưới thần kinh, và những thay đổi quan trọng có được là nhờ học hỏi và làm chủ các quy luật nhiều hơn. Xem Brigkt air, brilliant fire của Gerald Edelman (New York: Basic Books, 1992); A universe of consaousness: How matter becomes imagniation của Gerard Edelman và G. Tonomi (London: Penguin Press, 2001); Rethinking innateness của Jeffrey Elman và các cộng sự (Cambridge: MIT Press, 1996); How the mind works của Steven Pinker (New York: Norton, 1997), The mind within the net của Manfred Spitzer (Cambridge: MIT Press, 1999).