Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 207 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 2 - CUỘC GẶP GỠ LÀM THAY ĐỔI TƯ DUY CỦA TÔI

❊ ❊ ❊

Khi tôi còn là sinh viên cao học khoa tâm lý Trường Harvard cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chủ nghĩa hành vi vẫn còn đang rất thịnh (văn phòng của Giáo sư B. F. Skinner ở William James Hall, chỉ vài tầng dưới văn phòng của tôi, chắc chắn là lớn hơn), trong khi phương thức tiếp cận nhận thức chỉ vừa mới ra đời. “Ngựa non háu đá”, tôi đồng cảm với cách tiếp cận mới, cùng với sự ủng hộ của một trong những người thầy của tôi, Giáo sư Jerome Bruner. Tuy vậy, cả 2 chiến tuyến này đều có một đặc tính chung là: không quan tâm đến não bộ và hệ thống thần kinh. Không bên nào dám phủ nhận tầm quan trọng của não bộ, đương nhiên, vì điều đó rõ ràng là quá xuẩn ngốc. Nhưng chủ nghĩa hành vi chỉ quan tâm đến việc điều chỉnh các hành vi; họ nghĩ rằng có thể đạt được tất cả những mục tiêu quan trọng bằng việc tác động chính xác vào môi trường. Phần “hộp đen” then chốt vẫn chưa được mở. Về phần mình, các nhà nhận thức học tìm cách giải thích những biểu hiện và quá trình diễn ra của các hoạt động trí tuệ khác nhau. Họ tin rằng những hoạt động này có thể được phân tích theo các cách của riêng họ, trong đó việc tính toán tỷ lệ 80/20 bằng giấy bút, bằng máy tính chủ (lúc đó máy tính cá nhân chưa ra đời), hay bằng tập hợp tế bào thần kinh ở giữa hai tai, không phải là vấn đề quan trọng.

Mặc dù đã từng là sinh viên chuyên ngành sinh học, từng muốn ghi danh theo học trường y, và đã từng tham gia dự thính một khóa học về tâm lý con người, tôi cũng có cùng định kiến đó với các nhà tâm lý học: trong suốt thời gian học đại học, tôi hiếm khi xem trọng vấn đề về não bộ. Tôi đã bắt đầu sự nghiệp bằng việc nghiên cứu về tư chất con người - nhằm tìm hiểu về quá trình phát triển khả năng nhận thức của con người, với trọng tâm cụ thể là tập trung vào các kỹ năng và kiến thức về nghệ thuật (nghệ thuật là một phần của tư chất). Mục tiêu sau cùng (và phải công nhận là rất lớn) của tôi là khám phá ra những bí mật về quá trình sáng tạo nghệ thuật, ở mức độ tôi quan tâm, có rất ít lý do để chú ý đến các neuron hay các khớp thần kinh, trong khi, ở mức độ hiển vi, chắc chắn chúng đang thực hiện những màn trình diễn ngoạn mục về nhận thức, chẳng hạn như sáng tác một giai điệu hay nhận ra một phong cách nghệ thuật nào đó. (Lúc đó, trong số những người tôi biết, không ai nghĩ nhiều về các gien quy định mọi thứ).

Một trong những điều cơ bản cuốn sách khẳng định là sau những năm đầu đời, chúng ta ít khi thay đổi tư duy nhanh chóng. Tuy vậy, bản thân tôi lại có một thay đổi tư duy lớn - diễn ra trong một buổi chiều thu năm 1969. Là sinh viên cao học, tôi bắt đầu làm việc 2 năm cho Dự án Zero của Harvard. Được triết gia xuất chúng Nelson Goodman thành lập, Dự án Zero là một nhóm cơ sở nghiên cứu về tài năng nghệ thuật của con người và về giáo dục nghệ thuật. Goodman và tôi rất bất ngờ trước một khám phá vừa được công chúng biết đến lúc đó: mặc dù trông giống nhau nhưng hai nửa não bộ điều khiển những hoạt động trí tuệ riêng biệt. Ngoài ra, trong sự khác biệt cơ bản giữa bán cầu phải và bán cầu trái, sự chuyên biệt đã được phân công rõ ràng. Điều này đã thu hút sự chú ý của Goodman và tôi vì như vậy là có khả năng có 2 loại biểu tượng và hệ thống biểu tượng khác nhau cơ bản (cái mà tôi gọi là “những dấu hiệu biểu hiện” ở chương 1). Nghiên cứu về não bộ cho thấy bán cầu não trái liên quan đến những biểu tượng về số học - như con số và từ ngữ, trong khi đó bán cầu não phải liên quan đến loại biểu tượng về chính thể luận hay so sánh - thể hiện trong hội họa, điêu khắc, khiêu vũ và những lĩnh vực nghệ thuật khác[1].

Đúng lúc này, nhà thần kinh học Norman Geschwind, người có những nghiên cứu hàng đầu về lĩnh vực này, đã đến giảng dạy tại Trường Y khoa Harvard ở bên kia sông Charles. Vì thế vào một buổi chiều, chúng tôi mời ông đến nói chuyện với nhóm của mình. Khi nghe ông nói, nhóm thính giả chúng tôi như bị ông thôi miên.

Geschwind đề cập đến những trường hợp đáng ngạc nhiên về nhận thức có thể thấy trong viện điều dưỡng thần kinh: có những bệnh nhân có thể viết từ ngữ và gọi tên đồ vật nhưng lại mất khả năng đọc từ ngữ (tuy vẫn có thể đọc các con số); có những bệnh nhân không hề nhớ đã từng đến một nơi nào đó, nhưng vẫn có thể tìm đường đi lại một cách dễ dàng trong khu vực rõ ràng không quen thuộc; có những bệnh nhân có thể nghe nhưng không hiểu, tuy vẫn có thể nói năng lưu loát và cảm nhận được âm nhạc. Và ông cũng kể cho chúng tôi những khám phá quan trọng về trường hợp vỏ não biểu hiện những khả năng khác nhau trong não bộ của những người bình thường, những người thuận tay trái, những người có lúc bất chợt là thiên tài hay “những người kỳ lạ” ở các lĩnh vực khác nhau. Geschwind cùng đề cập đến một số những nghệ sĩ bị mắc chứng mất ngôn ngữ; chẳng hạn như nhà soạn nhạc Maurice Ravel, người bị mất khả năng nói và sáng tác nhưng vẫn có thể biểu diễn một số tác phẩm của mình, cũng như có thể chỉ ra những lỗi sai trong các bài biểu diễn của người khác. Ông kể về trường hợp họa sĩ người Pháp Andre Dérain với những bức tranh bị ảnh hưởng nghiêm trọng do tổn thương não; về những nghệ sĩ có thị giác khác, dù bị mất khả năng ngôn ngữ, vẫn thông thạo công việc của mình, thậm chí đôi khi còn trở nên giỏi hơn (hay được cho là như vậy)[2].

Đáng lẽ chỉ diễn ra trong 2 tiếng, những buổi nói chuyện kéo dài đến chiều muộn, qua cả giờ ăn tối. Khi cuộc gặp mặt gấp rút với Geschwind kết thúc, trong tôi đã hình thành một thay đổi tư duy, dẫn đến quyết định then chốt cho sự nghiệp. Tôi sẽ tìm nguồn kinh phí để nghiên cứu sau tiến sĩ về neuron thần kinh với Geschwind và các cộng sự của ông. Ít nhất, tôi sẽ có cơ hội làm việc với một trí tuệ và nhân cách đáng quý, qua đó học hỏi về não bộ con người. Nhiều nhất, tôi sẽ có cái nhìn hoàn toàn mới về sinh học và điều trị, để từ đó xem xét những vấn đề về nhận thức và nghệ thuật.

Nói là nghiên cứu sau tiến sĩ, nhưng lúc đó tôi không ngờ rằng mình sẽ dành 20 năm làm việc tại Trung tâm nghiên cứu Aphasia của Trung tâm Y tế thuộc Hội cựu chiến binh Boston và Trường đại học Y dược Boston (nơi tôi vẫn được bổ nhiệm một vị trí). Tôi đã học được rất nhiều về hoạt động của não bộ (tôi thường nói vui rằng tôi có thể trở thành một nhà thần kinh học, phần “từ cổ trở lên”), về cách biểu hiện những khả năng khác nhau của con người trong não bộ “bình thường”, và tình trạng chúng bị tổn hại trong những bệnh lý khác nhau.

Cùng lúc, tôi vẫn tiếp tục công việc về tâm lý học phát triển, tìm hiểu về trẻ em ở những độ tuổi và mức độ tài năng khác nhau, nghiên cứu về khả năng phát triển trí óc của chúng, thậm chí còn giảng dạy ở các trường công lập và dạy đàn piano ở nhà.

Nhờ sự nhận thức dẫn dắt tôi viết cuốn sách này, tôi bây giờ nhận ra rằng “sự thay đổi tư duy nhanh như chớp” mà tôi đã trải nghiệm sau cuộc nói chuyện của Geschwind, không diễn ra như sét đánh - cho dù trông có vẻ là như vậy. Sau cùng, tôi có một sự quan tâm lâu dài về sinh học. Tôi thích học hỏi những điều mới mẻ và đã suy nghĩ tìm loại học bổng nghiên cứu sau tiến sĩ nào có thể giúp tôi thoát khỏi đường mòn giảng dạy tiêu chuẩn không mấy thú vị. Tôi luôn luôn bị thu hút bởi những nhà tư tưởng sắc sảo - và Geschwind là một trong số họ.

Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất khiến tôi thay đổi tư duy là: Tôi lúng túng trong việc theo đuổi chương trình nghiên cứu của riêng mình. (Quả thật, cảm giác “đi vào ngõ cụt” thường khởi đầu cho một sự thay đổi tư duy). Tôi cảm thấy mình cần phải tìm hiểu cách tổ chức kỹ năng của một nghệ sĩ giỏi có khả năng nói lưu loát. Nhưng tôi gặp phải hai trở ngại: (1) rất khó phân tích tỉ mỉ những khả năng được phát triển một cách sâu sắc, và (2) những nghệ sĩ có khả năng sáng tạo nhất chắc không chào đón một nhà nghiên cứu tâm lý học còn non nớt đến tìm hiểu. Qua phác họa tác hại của các tổn thương não khác nhau đến kỹ năng nói lưu loát, Geschwind đã chỉ ra “hoàng đạo” để làm sáng tỏ những kỹ năng về nghệ thuật. Vì vậy, dù quyết định làm việc với Geschwind nảy ra hầu như ngay lập tức trong nhận thức, nhưng sự “thay đổi tư duy” này từ lâu đã ngầm có trong tư duy của tôi.

So sánh với 7 nhân tố hay đòn bẩy thúc đẩy thay đổi tư duy, tôi có thể thấy một vài nhân tố đã khiến tôi quyết định nghiên cứu về não bộ một cách nghiêm túc hơn. Có lý do: góc nhìn khoa học mới lạ này có thể trả lời những câu hỏi mà tôi quan tâm. Có những nghiên cứu liên quan: những khám phá về thần kinh học đã bổ sung cho chúng ta kiến thức về vô số các khía cạnh khác nhau của tư duy con người. Có nhân tố thế giới thực: nghiên cứu về não bộ trở nên quan trọng hơn rất nhiều (và có nhiều quỹ hỗ trợ hơn, vì vậy nguồn tài trợ được nhân lên!). Có sự cộng hưởng: làm việc với Geschwind về những lĩnh vực thuộc tư duy thích hợp với tôi, và tôi đồng cảm với cách làm việc rõ ràng và kính trọng ông. Nhưng có lẽ quan trọng nhất là sự phản kháng trong tôi không nhiều. Mặc dù việc nghiên cứu về thần kinh học có vẻ là sai đường đối với những đồng nghiệp chuyên tâm vào sự nghiệp, nhưng tôi không muốn tham gia đội ngũ giáo sư vào lúc này trong cuộc đời.

Nhưng tôi tự kể về chuyện đời mình còn vì một lý do nữa. Cách đây khoảng 40 năm, khi bắt đầu nghiên cứu về tâm lý học, tôi không quan tâm gì đến vấn đề trí thông minh con người. Như hầu hết những người được nuôi dạy theo truyền thống trí tuệ và giáo dục phương Tây, tôi cho rằng chỉ có duy nhất một loại thông minh được phát triển (hay xuất hiện) từ thời thơ ấu và có thể bị ảnh hưởng bởi quá trình lão hóa hay tổn thương. Tiếp xúc với luồng tư tưởng của Geschwind, cộng với những nghiên cứu về trẻ em của tôi, niềm tin chính thống này dần dần bị mai một. Nếu trí tuệ thực sự chỉ là một khối, thì tại sao một loại tổn thương não chỉ ảnh hưởng đến khả năng A, trong khi loại thứ 2 hay thứ 3 khác có thể ảnh hưởng đến khả năng B hay C (mà không hề ảnh hưởng gì đến khả năng A)? Và nếu trí tuệ là một khối, thì chúng ta giải thích thế nào về trường hợp có trẻ giỏi phi thường về một lĩnh vực, nhưng lại hoàn toàn bình thường ở những phạm trù khác? Hoặc trường hợp trẻ học giỏi khác thường hay trẻ mắc chứng tự kỷ có những điểm xuất sắc đáng ngạc nhiên giữa vô số những biểu hiện bất thường? Tôi đã bắt đầu có tư tưởng về nhiều dạng thông minh, mà không hề biết về việc đó. Xin mượn hình tượng của Nicholson Baker: Khoảnh khắc đột biến có liên quan đến Geschwind như việc ném chiếc giày ra khỏi cửa sổ - là sự che đậy một quá trình thay đổi dần dần về chí hướng tri thức - giống như việc dần mất đi nhiệt huyết về dự tính trang trí chỗ ngồi ngoại lai trong căn hộ.

Tất cả những điều này dẫn đến vấn đề về hình thức của suy nghĩ - cụ thể là câu hỏi: Khi thay đổi tư duy diễn ra, quá trình đó được biểu lộ qua những ngôn ngữ độc đáo của tư duy như thế nào?

❀ ❀ ❀

[1] “Symbols Systems: A philosophical, psychological, and educational investigation” trong Media and Symbols của Howard Gardner, Vernon Howard, và David Perkins, ấn bản D. Olson (Chicago: University of Chicago Press, 1974); “Disconnexion syndromes in Animals and Man” trong Brain của Norman Geschwind (1965): 237-285; Languages of Art của Nelson Goodman (Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1968); “Some Effects of Disconnecting the Cerebral Hemispheres” (bài phát biểu nhận giải Nobel) của Roger Sperry trong Neuroscience, ấn bản P.H. Abelson, E. Butz, và Solomon H. Snyder (Washington: American Association for the Advance- ment of Science, 1985), tr. 372-380.

[2] To open minds: Chinese clues to the dilemma of contemporary education của Howard Gardner (New York: Basic Books, 1989), 84; xem thêm trong The shattered mind: The person after brain damage của Howard Gardner (New York: Knopf, 1975).

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.